Tập 1 – Chương 2

Tập 1 – Chương 2
5 (100%) 47 votes

THÔNG BÁO


Hiểu đúng về Trader Coin, Cách Trader Coin an toàn.

QÙA TẶNG DÀNH CHO NGƯỜI MẤT GỐC TIẾNG ANH HOẶC ĐANG CẦN HỌC TIẾNG ANH

Một bầu không khí im lặng, trang nghiêm bao phủ lấy sảnh đường lạnh lẽo, cứ như thể cả một tiếng ho cũng không được phép phát ra.

Tôi ngồi khoanh chân lại thành tư thế hoa sen, đặt mu bàn tay lên đầu gối, và hơi nhún người một chút để chỉnh lại tư thế. Rồi tôi ngồi thẳng người, cứ như thể sống lưng của tôi là một cây cột kết nối giữa trời và đất, và ngẩng thẳng đầu.

Tôi im lặng nhắm mắt, tách biệt khỏi sảnh đường rộng lớn của ngôi đền.

Thị giác của tôi đã bị khoá lại. Cả thính giác, xúc giác, khứu giác, và vị giác cũng chỉ nhận được rất ít kích thích.

Tôi chầm chậm thở ra và hít vào, nhưng không hít sâu quá. Chu kỳ thở đó được đếm là vòng số “một.”

Một, hai, ba, bốn, năm… Tôi chỉ tập trung duy nhất vào việc đếm. Mỗi khi có suy nghĩ không cần thiết nào xuất hiện trong đầu, tôi lại bắt đầu đếm lại từ đầu.

— Trạng thái vô thức không đồng nghĩa với việc không suy nghĩ gì. Làm vậy sẽ chỉ dẫn đến một vòng luẩn quẩn khi ta cố gắng nghĩ cách không suy nghĩ. Con không thể đạt được trạng thái đó chỉ bằng cách dùng mấy mánh khoé về từ ngữ hay suy nghĩ trừu tượng.

— Để đạt được trạng thái vô thức, để có thể hoàn toàn tịnh tâm, con cần phải tập trung vào “hiện tại” đang tồn tại bây giờ. Hãy xoá đi những hồi tưởng về quá khứ hay những tưởng tượng về tương lai. Chỉ nghĩ duy nhất về hiện tại đang ở trước mắt con.

— Hãy cúi mình trước Thần. Không phải bản thân con trong quá khứ hay tương lai. Mà là con trong hiện tại, nhỏ bé và tầm thường, đang tồn tại vào chính giây phút này. Không hề có mẹo nào cả. Chỉ cần làm duy nhất việc đó, một cách thật thành tâm. Nghĩ về hiện tại, tập trung vào nó, và cúi mình xuống. Đó chính là bản chất của việc “cầu nguyện vô thức.”

Những lời Mary từng nói xuất hiện trong tâm trí tôi. Tôi vẫn cứ đếm nhịp thở, và rồi cả những lời đó cũng biến mất.

Một, hai, ba, bốn, năm… Tôi chỉ tập trung đếm, hết lần này đến lần khác.

Tôi không nghĩ về thứ gì khác.

Tôi nghe thấy tiếng gió. Tiếng chim hót đằng xa.

Tôi cảm nhận được xúc cảm của da mình khi ngồi trên nền nhà.

Tôi đếm, hết lần này đến lần khác.

Tôi cảm nhận không khí được thở ra, hít vào, tiếng thở của tôi, cũng như nhịp đập của trái tim mình.

Tôi đếm, hết lần này đến lần khác.

Tôi đếm.

Đếm.

Sâu hơn.

Sâu xuống vô tận.

Tôi cảm thấy như mình đang lặn xuống đáy đại dương sâu thẳm.

Xuống.

Xuống.

Xuống đến vô tận.

Liệu tôi đã “lặn” được bao lâu rồi?

Tiếng chuông trong trẻo ngân lên, kéo tôi về với thực tại.

Sau một thời gian dài, tôi cuối cùng cũng mở mắt. Quang cảnh trong ngôi đền lại xuất hiện một lần nữa, trông cực kỳ sống động.

Màn đêm đã buông xuống từ lâu, cảnh vật xung quanh tôi đang được một ngọn đèn chiếu sáng. Những bức điêu khắc của thần linh được chiếu sáng dưới ngọn lửa bập bùng trong đêm tối lạnh lẽo, trông thật kỳ diệu và mê hoặc lòng người.

Con người chúng ta đúng là dễ làm quen với mọi thứ. Khi chúng ta đã nhìn một thứ gì đó quen rồi, lần tới nhìn nó ta sẽ không còn để ý nhiều nữa. Quen nghe thứ gì đó rồi, thì lần tới nghe nó ta sẽ không còn để ý nhiều nữa. Cả cảm giác, mùi và vị cũng như vậy.

Đây là cách chúng ta phản ứng với những kích thích từ bên ngoài một cách có hiệu quả. Nhưng mặt khác, nó cũng khiến cho giác quan chai sạn đi và làm chúng ta quên đi những cảm xúc của mình.

Chính vì vậy nên tôi thích những lúc thức dậy từ một buổi cầu nguyện sâu. Tất cả những thứ tôi nhìn và nghe thấy đều có cảm giác thật mới mẻ, như thể tôi vừa được tái sinh. Cái cảm giác đó thật tuyệt vời, giống như tôi vừa mới gột sạch hết những bụi bẩn bám trên các giác quan của mình vậy.

Tôi đắm mình tận hưởng cái cảm giác đó một lúc, rồi từ từ ngồi dậy. Tôi đã ngồi trong tư thế hoa sen đó khá lâu rồi nên cả người đều đang nhức mỏi.

“Con làm tốt lắm, Will.” Mary đợi đến lúc tôi ngồi dậy mới lên tiếng. Cô ấy đang cầm chiếc chuông cô dùng để báo hiệu kết thúc buổi cầu nguyện.

“Nghi lễ năm ngày cầu nguyện im lặng đến đây là kết thúc.”

“C-Cảm ơn ạ…”

Theo cách đếm của họ thì giờ tôi mười ba tuổi rồi. Đã năm năm trôi qua kể từ ngày tôi bị bỏng tay.

Thật ra thì tôi cũng có thể chữa lành nó nếu dùng giáng phước, miễn là tôi chịu để cho Mary biến thành ngọn đuốc một lần nữa. Cô ấy đã ngỏ ý muốn làm vậy, nhưng tôi từ chối. Một phần là vì tôi không nghĩ vết bỏng này nghiêm trọng đến nỗi cần nhờ cô ấy giúp, và một phần là vì Blood đã nói đây là huân chương danh dự của tôi.

Sau bao ngày khổ sở, được chữa trị bởi thuốc cũng như phép thuật của Gus, da tay tôi từ lòng bàn tay đến giữa cánh tay giờ đã bị đổi màu, cũng chẳng có gì lạ lắm. Họ cũng bảo là tôi đã khá may mắn rồi. Lúc đầu tôi còn tưởng là chỗ bỏng đó sẽ biến thành mấy vết sẹo lồi lõm đáng sợ cơ, nên khi đó tôi còn cảm thấy kiểu như “Ồ, chỉ có vậy thôi sao?” Bây giờ, chiếc huân chương đó đang quấn quanh lấy hai tay tôi.

Từ đó đến giờ, tôi đã bắt đầu cao phổng lên. Giờ tôi đã ở ngang với tầm mắt của Mary, gần cao bằng Gus rồi. Tôi vẫn phải ngước đầu lên mới nhìn được Blood, nhưng ông ấy cũng đã khen rằng giờ tôi trông khá nam tính.

Khi được tái sinh vào thế giới này, tôi cũng chẳng đem theo cái thước kẻ nào. Vậy nên tôi chỉ có thể đoán chiều cao của mình theo “đơn vị cũ”, nhưng tôi đoán mình chắc cũng phải hơn 160 cm rồi.

Thế giới này chủ yếu dùng các đơn vị đo lường liên quan đến cơ thể người. Ví dụ như, nếu ta giơ ngón cái và ngón trỏ ra thành hình khẩu súng, thì khoảng cách giữa hai ngón sẽ là khoảng mười lăm centimét. Nhưng tôi vẫn quen đổi các số đo về hệ mét. Chắc là do ảnh hưởng từ ký ức kiếp trước của tôi.

Để tôi tóm tắt tình hình hiện tại vậy.

Trong năm ngày qua, tôi đã tạm nghỉ học với Gus và Blood để thực hiện nghi lễ cầu nguyện im lặng. Đây là một nghi lễ tôn giáo nghiêm ngặt được thực hiện vào mùa đông ở những tu viện của Mẹ Đất Mater. Mary cũng đã từng thực hiện nó vài lần hồi cô ấy còn sống.

Nghi lễ này khá là… đặc biệt.

Từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn năm ngày sau, ta không được phép nói ra một từ nào, trừ khi có trường hợp khẩn cấp. Ta chỉ có thể giao tiếp với nhau qua tiếng chuông, và ngoài thời gian để ngủ và làm những việc khác-vốn đã được giảm đến mức tối thiểu-ra, tất cả khoảng thời gian còn lại sẽ được dùng để thành tâm cầu nguyện.

Đứng dậy, cầu nguyện. Ngồi xuống, cầu nguyện. Khi cơ thể ta bắt đầu thấy đau mỏi, thì hãy đứng dậy và đi lại xung quanh, và cầu nguyện trong khi đang đi lại. Lúc nào thấy hết mỏi rồi thì lại ngồi xuống và cầu nguyện. Khi đến giờ đi ngủ, cầu nguyện trước khi ngủ. Có những lời cầu nguyện để cảm tạ khi ăn, cầu nguyện để nhìn lại bản thân, cầu nguyện để xin được bảo hộ, cầu nguyện để ca ngợi Thần.

Sau khi thực hiện đủ các buổi cầu nguyện kia rồi, ta sẽ kết thúc nghi lễ bằng một vài giờ ngồi trong trạng thái tĩnh tâm vô thức.

Khi mới nghe mình sẽ phải làm gì, tôi cũng thấy rất bất ngờ. Nhưng bạn sẽ phải ngạc nhiên khi biết con người ta có thể làm những gì một khi đã bắt tay vào làm.

Mary đã vô tình nói rằng cô ấy không thể cầu nguyện trong thời gian dài như vậy được, bởi ngọn lửa sẽ đốt cháy cô ấy thành tro. Thảo nào cô ấy chuyển sang hỗ trợ tôi như thế này.

Tôi cũng có hơi tò mò không biết liệu mình có thể dùng được giáng phước sau khi cầu nguyện nhiều như vậy không, nhưng chẳng có vẻ gì là tôi đã thành công cả. Có vẻ như đúng là ta cần phải thật tương thích với thần thì mới dùng được giáng phước. Mary cũng đã nói là nhiều tín đồ dù sùng đạo nhưng vẫn không để dùng được nó. Chắc bản chất của nó vốn đã vậy rồi.

Tiện thể, những bài dạy cầu nguyện của Mary đúng là cũng khó khăn thật, nhưng…

Vẫn còn nhiều thứ tệ hơn thế.

Nghi lễ im lặng đó là bài học khó nhất của Mary, cho đến hiện giờ. Thường thì chúng nhẹ nhàng hơn nhiều: cách làm giày, cách khâu quần áo, cách trồng rau củ, cách cư xử lịch sự, vân vân và vân vân. Mấy bài học đó… biết nói thế nào nhỉ, nhẹ nhàng. Bình thường.

Mặt khác, những bài học của Gus dạo gần đây đang bắt đầu vượt quá kiểm soát rồi.

Tôi cũng biết ơn ông ấy vì đã dạy tôi, mặc dù ổng lúc nào cũng làm mặt như thể miễn cưỡng chẳng muốn làm lắm. Chỉ có điều nội dung bài giảng của ông cứ càng ngày càng khó. Cả cường độ học cũng tăng lên nữa.

Tôi đang bị quá tải rồi đây.

Ông ấy bắt tôi phải học thuộc đủ loại Từ Ngữ, cũng như kết hợp các Từ Ngữ lại để tạo thành cụm từ và câu. Rồi ông bắt tôi luyện tập cách xướng âm và phát âm để tôi có thể nói và kể lại chúng thật chính xác. Ông ấy dạy tôi đủ thứ cùng một lúc, từ hình học và số học cho đến thuật hùng biện và tranh luận. Ngoài ra còn có lịch sử địa lý, pháp luật, thiên văn học, kỹ thuật xây dựng dân dụng, xây dựng, dược phẩm, kinh tế học và quản lý kinh doanh… rồi sau khi dạy tôi tất cả chỗ đó, ông ấy còn bắt tôi phải nhớ hết chúng từ giờ đến ngày hôm sau.

Ngày hôm sau sẽ có một bài kiểm tra, rồi lại tiếp tục học nhồi nữa, cùng với một bài kiểm tra khác, và cứ mười ngày một lần, tôi sẽ phải ôn lại tất cả những thứ mình đã học. Kể cả từ “nhồi nhét” cũng không đủ để diễn tả mớ kiến thức ông ấy đang cố cho vào đầu tôi.

Nói thật thì tôi đang bắt đầu nghĩ liệu có phải ông ấy đang bí mật muốn tôi bỏ cuộc không.

Tất nhiên là ký ức từ kiếp trước của tôi khá là hữu dụng khi học hình học và số học. Trước kia tôi khá là giỏi toán, nên lúc đầu tôi còn dựa vào nó để có chút thời gian thơi thả. Nhưng giờ đến cả việc đó cũng bắt đầu khó hơn trước, bởi cứ khi nào Gus thấy tôi đã hiểu điều gì rồi, ông ấy lại nhảy ngay đến phần khác cứ như thể tôi đang học nhảy cấp vậy, và tìm thêm những thứ khác để còn dạy cho tôi.

Tôi cũng một phần muốn ông vẫn còn bị lừa lâu hơn tí nữa. Nhưng tôi đã quyết định sẽ sống cuộc đời này một cách nghiêm túc rồi. Tôi muốn xoá hết những thứ có thể làm mình chậm bước. May là cơ thể này vẫn còn trẻ và có trí nhớ tốt, nên tôi vẫn còn có thể bám trụ được.

Sau khi đã được dạy nhiều như vậy rồi tôi mới bắt đầu nhận ra kho kiến thức của Gus không chỉ rộng, mà còn sâu thẳm khôn lường nữa.

Blood đã nói với tôi rằng Gus từng được ca ngợi là “Hiền Giả Lang Thang.” Tôi có thể cảm thấy rằng ông ấy đúng thật đã lang thang khắp ngõ ngách thế giới, đến đủ mọi nơi, và đã học hỏi cả từ kiến thức lẫn kinh nghiệm thực tiễn.

Nền văn minh của thế giới này kém phát triển hơn ở kiếp trước của tôi—nếu như ta không tính đến phép thuật. Nhưng mỗi khi Gus nói về cấu trúc cơ thể động vật cho đến các quy trình để xây nên một toà nhà, ông ấy đều nói một cách rõ ràng và thực tiễn. Ông không hề vướng phải những quan niệm, tư tưởng hoa mĩ như những học giả thời trung cổ ở thế giới cũ của tôi.

Kể cả khi Gus nói về bán nhân và những quái thú trong thần thoại, vốn chỉ là những sản phẩm từ trí tưởng tượng trong kiếp trước của tôi, lời nói của ông ấy vẫn không hề có chút chần chừ nào cả. Khi nghe ông nói về những sinh vật đó sau khi đã được tận mắt thấy chúng, tôi bắt đầu nhận ra rằng việc mình luôn luôn nghi ngờ sự tồn tại của chúng chẳng có gì là khôn ngoan hay thông minh cả. Kiến thức từ kiếp trước của tôi không thể áp dụng với thế giới này được, tôi bắt đầu thấy mình thật ngu ngốc khi nghĩ mình có thể làm vậy. Bởi vì, chẳng phải người đang đứng trước mặt tôi là một hồn ma sao.

Nói tóm lại thì những bài giảng của Gus đang chạy theo một lịch trình nhồi nhét kinh khủng. Giờ tôi đang phải cố hết sức để theo kịp, nhưng chẳng biết liệu tôi sẽ còn làm vậy được trong bao lâu nữa. Gus cáu kỉnh thể nào cũng sẽ ngừng dạy ngay lập tức nếu như tôi bắt đầu cằn nhằn, nên tôi thậm chí còn chẳng được phép lên tiếng nữa. Tôi chỉ còn nước cố hết sức và cho ông ấy thấy rằng tôi có thể làm được tất cả những việc mà ông đã giao cho tôi.

Lịch học mệt mỏi như vậy đó. Nên chẳng có gì lạ khi tôi phàn nàn rằng nó đã đi hơi quá tầm kiểm soát. Nhưng dù cằn nhằn như vậy, bài học của Gus vẫn chỉ đứng thứ hai mà thôi.

Bài học của Blood thậm chí còn quá tầm kiểm soát hơn cả Gus nữa. Không chỉ là bay “hơi” quá tầm kiểm soát đâu—mà là vượt hẳn khỏi quỹ đạo luôn ấy.

Chúng tôi không còn vừa đánh vừa chơi nữa, mà chuyển sang dùng vũ khí giống thật hơn như kiếm và giáo gỗ, cũng như luyện tập kỹ năng và thế đánh. Đến đây thì vẫn bình thường. Trong những buổi đi săn, tôi cũng học cách đặt bẫy, cách dẫn dụ con mồi, cách hạ gục những con mồi lớn, cũng như cách sống sót trong khu rừng. Đến đây thì vẫn có lý. Và cả những buổi chạy và tập luyện cơ bắp nghiêm ngặt mà Blood bắt tôi làm khi cơ thể tôi bắt đầu lên cơ cũng chẳng có gì đáng ngạc nghiên lắm, vì chúng giống với phương thức huấn luyện của ông ấy.

Những trang bị thật cũng bắt đầu xuất hiện: kiếm thật, giáo thật, và áo giáp da xịn. Tôi không biết ông ấy đã kiếm chúng ở đâu, nhưng cũng chẳng có gì lạ khi họ giấu chúng khỏi tầm với của một đứa trẻ. Ông ấy bắt tôi mặc nó rồi chạy xung quanh, cũng như tập vung kiếm và luyện các kỹ thuật trong khi mặc nó. Đây cũng là một phần tất yếu khi luyện tập để trở thành chiến binh.

Nhưng sau đó thì nó bắt đầu điên hơn. Điên cuồng luôn ấy.

“À thì. Từ hôm nay trở đi, ta sẽ bắt đầu cho con thực chiến.”

Hả?

“Để ta cảnh cáo điều này, đối thủ của con sẽ chỉ nghĩ đến duy nhất việc giết con mà thôi.”

Hả?

“Được rồi, giờ chúng ta đi thôi. À, tất nhiên là ta sẽ giám sát rồi, nhưng nếu có tai nạn xảy ra thì con vẫn có thể chết đấy. Nên, ưm, cố đừng có chết nhé.”

HẢ?!

Để tôi nói luôn kết quả cho. Tôi đến khốn khổ vì nó đấy.

Nếu nói chi tiết thì, Blood đưa cho tôi một thanh kiếm dài và chiếc khiên tròn rồi bắt tôi tử chiến với một con undead yếu mà ông ấy đã bắt được ở đâu đó.

Cái xác của con quái vật khô cong, đen xì. Nó không có cả mũi lẫn tai, chỉ có một con mắt to bự và một cái mồm mở rộng, tạo thành một nụ cười đáng sợ trông như trăng lưỡi liềm. Thể trạng của nó cũng không khác tôi là mấy. Khi được Blood thả ra, nó lao vào tôi ngay lập tức và vung nanh vuốt đã vỡ và rạn nứt của mình.

Ồ có. Tôi sợ lắm chứ.

Chắc bạn sẽ thấy bất ngờ sau khi nghe về bao buổi luyện tập của tôi. Nhưng luyện tập và thực tế khác nhau nhiều lắm.

Phải đối mặt với một đối thủ đang muốn giết mình đáng sợ lắm chứ. Phải diễn tả như thế nào nhỉ?

Khi luyện tập ta sẽ luôn có một cảm giác an toàn. Bởi nó có những giới hạn đã được những người tham gia luyện tập cùng nhất chí, để khả năng xảy ra tai nạn hay chấn thương nguy hiểm được giảm hết mức có thể. Nếu đối thủ của bạn chấp nhận rủi ro và sử dụng một đòn tấn công bạn không biết cách đối phó, bạn sẽ không bị thương nặng hoặc chết. Kể cả nếu bạn thử làm một việc gì đó rủi ro, táo tợn cũng vậy.

Cái giá phải trả khi chấp nhận rủi ro rất thấp. Chính vì vậy nên ta mới có thể thử ứng dụng nhiều kỹ thuật khác nhau, tìm hiểu điểm mạnh và yếu của chúng, rồi chọn ra một hoặc hai thứ thực sự hiệu quả. Cả ở thế giới cũ của tôi cũng vậy, nền võ thuật đã trở nên nổi tiếng và phát triển mạnh cũng là nhờ việc áp dụng cách thức thi đấu an toàn.

Nhưng trong thực chiến, tất cả hành động đều đi kèm với rủi ro. Nếu ta bị dính một đòn nặng, nếu ta bị trượt chân dù chỉ một lần, chỉ nhiêu đó cũng đủ để khiến bạn mất mạng rồi. Cái chết: dấu chấm hết cho tất cả mọi thứ.

Giờ tôi đang ở trong thực chiến, và mọi hành động của tôi đều có độ rủi ro khác nhau. Tâm trí tôi trở nên trống rỗng, và tôi bắt đầu mất tự tin, không biết mình nên làm gì.

Đúng là tôi có kiếp trước thật, nhưng tôi có cảm tưởng rằng đây là một chuyện rất hiếm khi xảy ra, và tôi sẽ không có cơ hội thứ ba nữa. Kể cả nếu có, thì nó cũng chẳng khiến cho nỗi ác cảm sinh học với cái chết đang bùng lên trong tôi ngơi đi tí nào.

Và tôi cũng không chỉ sợ những vết thương chết người đâu. Nếu bị móc mắt thì tôi sẽ không thể nhìn được nữa. Nếu dây chằng bị cắt thì tôi sẽ không thể cử động được chân hoặc tay chỗ đó. Khí quản của tôi có thể bị đánh dập. Tôi có thể bị cắt mất ngón tay. Không biết tin đồn ở kiếp trước, rằng nếu ta bị chặt mũi, thì dịch nhầy sẽ chảy ra từ lỗ hổng trên mặt, có đúng thật không.

Sát khí của đối phương bắt tôi phải đối mặt với tất cả những khả năng đáng sợ đó cùng một lúc.

Tầm nhìn của tôi bị hạn hẹp lại. Nhịp tim tăng cao. Hơi thở trở nên nặng nề, cơ thể tôi bắt đầu run rẩy, tất cả suy nghĩ đứng khựng lại—và cứ như thể tất cả những chuyện đó chẳng có nghĩa lý gì, tôi di chuyển và chém hạ kẻ thù chỉ trong một đường kiếm.

Khi con quái vật undead vung vuốt về phía mình, tôi dùng khiên đánh bật vuốt của nó và bước chéo về phía trước. Khi bước qua nhau, tôi dùng kiếm chém ngang một đường vào bụng nó. Được hỗ trợ bởi quán tính quay từ phần thân dưới vững chắc, cơ bắp ở vai và cánh tay tôi vung lưỡi kiếm đi.

Tôi thấy yên tâm khi cảm nhận được sức cản lúc lưỡi kiếm cắt vào người nó.

Tôi lại tạo khoảng cách với đối thủ một lần nữa. Lúc nhìn lại, thì cái xác héo khô của sinh vật undead đã bị cắt làm hai và đang bắt đầu tan thành cát bụi.

Tham gia vào thực chiến quả thật rất đáng sợ. Đến mức tôi đã bị sợ cứng cả người. Nhưng cơ bắp của tôi, vốn đã được huấn luyện từ khi còn nhỏ, thì lại rất trung thành và dũng cảm. Chúng đã tự cử động, bỏ lại đằng sau những suy nghĩ hèn nhát của tôi. Tất cả cách đối phó tốt nhất với mọi đòn tấn công đã được hằn sâu trong cơ bắp, trở thành phản xạ rồi.

Ở thế giới cũ của tôi, những binh linh và chiến binh đã được huấn luyện nhiều để chiến đấu đôi khi bị gọi là những “cỗ máy giết chóc.” Giờ tôi mới hiểu điều đó đúng đến nhường nào. Những chiến binh đã được huấn luyện bài bản có thể giết kẻ thù của họ như một phản xạ máy móc, bỏ lại hết tất cả nỗi sợ và ghê tởm của mình, giống như Blood đã từng kể với tôi.

“Phù…”

Con quái vật tôi vừa hạ chắc là một con quỷ, một trong những thuộc hạ của ác thần không gian, Dyrhygma. Nếu tôi nhớ không nhầm, thì con quỷ vừa đánh với tôi thuộc hạng thấp nhất và yếu nhất. Tôi đã được biết về chúng qua những bài giảng về lịch sử tự nhiên của Gus, nên chắc là không có gì sai.

Nhưng tôi vẫn thấy hơi bất ngờ. Quỷ là những sinh vật đến từ chiều không gian khác, tôi cũng có nghe nói rằng chúng sẽ biến mất khi bị đánh bại. Nhưng không ngờ chúng lại còn có thể biến thành undead nữa. Hay là con này đặc biệt nhỉ, tôi nghĩ trong lúc đang đứng nhìn con quái vật mình vừa chém hạ biến thành cát bụi.

Tôi vừa giết một thứ trông giống người. Phải, nó vốn chỉ là một con quái vật undead, nhưng dù vậy tôi vẫn lấy làm lạ khi thấy bản thân mình vô cảm như vậy. Tôi chẳng cảm thấy hào hứng, hoảng hốt hay bối rối. Nếu có một đối thủ khác giống vậy lao về phía tôi, chắc chắn tôi cũng sẽ chém hạ nó giống hệt như vậy. Việc tôi có thể lấy mạng không hề do dự như thế này chắc là thành quả luyện tập của tôi.

Sau khi chắc chắn nó đã biến hết thành bụi rồi, tôi quay sang nhìn Blood, mặt ông ấy vẫn còn đang đờ ra. Tất nhiên là biểu cảm đầu lâu của ông vẫn giống như bình thường rồi, nhưng ông ấy đang há miệng ra và nhìn thẳng về phía tôi.

“Blood, con thắng rồi. Sao vậy?”

“À… Ừ. Làm tốt lắm. Ưm, trận đấu đầu tiên mà được vậy là cũng ổn rồi.” Ông ấy đang giả vờ coi chuyện đó chẳng có gì to tát, nhưng giọng ông chẳng có tí sức thuyết phục gì cả. Rõ ràng là ông ấy đang thấy hài lòng.

Tôi đoán chắc là do Blood nghĩ tôi đã làm tốt, nhưng vì không muốn tôi chủ quan nên mới nói giảm đi như vậy.

Chà, chà, chà. Tôi cười thầm. Tôi rất vui khi biết được suy nghĩ thực sự của ông ấy. Tôi đã biết vận dụng những điều Blood dạy mình. Tôi thấy rất tự hào về bản thân mình. Giờ thì…

Lúc trước tôi có nói là tôi đến khốn khổ vì nó. Chắc hẳn bạn đang nghĩ “thế này thì có gì đâu,” phải không? Không đâu. Từ đây trở đi mới bắt đầu tệ hơn này.

“N-này! Đừng có tự mãn. Con chỉ đánh ổn thôi, chỉ ổn thôi đó.”

“Thôi nào, đừng thế nữa. Chú cứ chấp nhận đi, con là thiên tài phải không!” Tất nhiên là tôi đang đùa rồi. Tôi chỉ đang chọc ông ấy như vậy cho vui thôi. Nhưng kết quả lại không như tôi mong muốn.

“Thiên tài sao. Ừm… Có lẽ đúng thật.” Chẳng hiểu sao Blood lại nghiêm túc đáp lại trò đùa của tôi. Rồi ông ấy chuyển sang giọng vui vẻ và nói một câu vô cùng đáng sợ. Được thôi, thiên tài, vậy hay là chúng ta đẩy nhanh lịch trình và làm việc gì khó hơn nhé?!”

Đùa nhau à?

Từ trước tới giờ tôi chỉ được nhìn thành phố đổ nát từ trên cao, bên ngôi đền trên đỉnh đồi. Tôi chưa bao giờ được phép lại gần vì nó quá nguy hiểm, vậy nên đến giờ tôi mới biết thành phố này còn có một hệ thống đường ngầm phức tạp.

Trước khi vào trong, Blood có bảo tôi rằng thành phố này từng là nơi sinh sống của con người và một chủng tộc dwarf.

Những dwarf có thân hình thấp, nhưng thể trạng thì lại lực lưỡng, và rất giỏi trong thuật luyện kim, thiết kế và xây dựng. Họ thân thuộc với mặt đất nên thích sống trong những hang động dưới lòng đất hơn, và nơi đây cũng không phải là ngoại lệ. Họ đã xây dựng nên một thành phố rộng lớn của riêng mình ngay dưới chân thành phố này.

Nhưng giờ đây, thành phố ngầm dưới tàn tích lại là một nơi nguy hiểm, đầy rẫy những sinh vật undead dữ tợn và không có trí thông minh, giống như con mà Blood đã bắt được lúc trước. Tôi bị cấm không được đến gần thành phố đổ nát này là vì những sinh vật undead như nó thỉnh thoảng sẽ lảng vảng ra khỏi thành phố ngầm.

Và hiện giờ tôi đang ở trong chính cái thành phố ngầm đó.

Tôi đã được đưa cho trang thiết bị gồm quần áo, giày, áo giáp da, một thanh kiếm dài, một con dao, một cái khiên tròn, và cuối cùng là chiếc túi trên lưng tôi, chứa bánh mì, thịt khô và một bao da đựng nước. Blood đã bỏ tôi lại đây, ở sâu trong thành phố ngầm. Và giờ tôi phải tìm đường quay trở lại chỉ với những thứ tôi đã được đưa cho này.

Xung quanh tôi toàn là một màu đen. Nó không chỉ tối không đâu. Tôi thậm chí còn chẳng thể nhìn được bàn tay ngay trước mặt mình. Đây là bóng đen thực sự, không hề có một chút ánh sáng nào, khiến cho cả cảm giác thăng bằng của tôi cũng bị ảnh hưởng.

Chắc bạn cũng nhận ra rồi, trong đống trang bị của tôi không hề có một nguồn sáng nào cả. Blood đã đem tôi đến đây băng qua bóng tối đen kịt. Tất nhiên là ông ấy không còn có mắt người nữa, nên chắc ông đã dùng phương pháp siêu nhiên nào đó để nhìn xung quanh. Tôi cũng chẳng kịp nhớ đường chúng tôi đã đi đến đây nữa. Chưa kể ông ấy thản nhiên bỏ tôi lại rồi đi, chẳng để lại lấy một nguồn sáng nào, bỏ mặc tôi ở giữa ổ undead này. Đó là tình hình hiện giờ của tôi đấy.

Tôi thậm chí vẫn còn chưa bắt đầu mà tình hình trông đã chẳng khá khẩm gì rồi. Nhưng có hoảng sợ thì cũng chẳng giải quyết được gì. Về cơ bản thì đây là một bài kiểm tra thực tiễn với một tình huống mà tôi có thể vượt qua được, miễn là tôi biết áp dụng tốt tất cả những thứ mình đã được học.

Tôi hít sâu, và rồi như thể xúc giác của tôi đang mở rộng vươn ra khỏi lớp da, tôi cảm nhận được mana xung quanh và đồng bộ hoá với nó. Rồi tôi lấy dao ra và cẩn thận khắc Từ Ngữ Lumen, có nghĩa là “ánh sáng,” vào khiên mình.

Tấm khiên sáng lên, giúp tôi nhìn được quang cảnh xung quanh mình trong khoảng tầm mười mét khá là rõ ràng. Ánh sáng phép thuật đó không bập bùng giống như ánh lửa, và cũng sáng rõ hơn nữa, giống như ánh sáng từ đèn huỳnh quang từ thế giới cũ của tôi vậy. Nó sẽ tắt trong khoảng vài giờ nữa, nhưng khi đó tôi chỉ cần đưa mana từ môi trường xung quanh vào Từ Ngữ được chạm khắc là nó sẽ sáng lại ngay.

Tôi dùng ánh đèn để xem xét xung quanh mình. Có vẻ tôi đang ở trong một căn phòng nhỏ. Phòng chỉ có một cửa ra vào, tất cả những chỗ ngọn đèn của tôi không chiếu tới đều bị bao phủ bởi bóng tối đen kịt.. Tôi có thể nghe thấy tiếng gió lùa rít lên ở đâu đó.

Tôi không biết liệu mình sẽ mất bao lâu để thoát khỏi nơi này. Sẽ khó tìm chỗ nghỉ đây. Ở đây cũng chẳng có ai đứng gác giúp tôi khi cần. Tôi sẽ cần phải chuẩn bị trước nhiều thứ với cả có một tâm lý vững chắc thì mới ngủ được trong tình cảnh này.

Trước kia mình ở một mình trong phòng suốt có làm sao đâu, tôi cay đắng nghĩ. Trong suốt mười năm qua, Blood đã luôn ở bên tôi, và cả Mary và Gus nữa.

“Ở một mình thực sự khiến ta cảm thấy thật cô đơn và… lo sợ,” Tôi lẩm bẩm. Tôi đã quên mất cái cảm giác này.

Chắc hẳn Blood đang kiểm tra tổng hợp hết tất cả các kỹ năng của tôi: sức mạnh thể chất để chịu đựng những trận chiến gian nan, suy nghĩ linh hoạt để chọn ra loại kỹ năng phù hợp nhất với từng trường hợp, cũng như một tâm trí vững chãi để giữ bình tĩnh dù phải liên tục đối mặt với nỗi cô đơn và nguy hiểm.

Kiểm tra xem liệu tôi có thể ứng dụng tất cả những điều ba người đó đã dạy, cho dù họ đang không ở đây—đó chính là mục đích của bài tập này.

Giờ tôi đã mười ba tuổi, sắp sang tuổi mười bốn rồi. Ở thế giới này, từ tuổi mười lăm ta sẽ được coi là người lớn, vậy nên sắp đến lúc tôi phải tự lực cánh sinh đứng trên hai chân mình rồi.

Tôi muốn cho họ thấy mình có thể làm thật tốt. Tôi muốn cho ba người họ biết rằng tất cả những điều họ dạy tôi đều có ích, rằng họ đã không phí thời gian dạy tôi. Và nếu có thể, thì tôi muốn làm họ tự hào vì đã nhận tôi làm học trò.

Tôi bước chân vào mê cung ngầm, quyết tâm dùng hết tất cả khả năng của mình.

Tôi dùng khiên đánh bật cái đuôi đầy gai đang vung tới từ phía rìa tầm nhìn.

“Tacere, os!” Rồi tôi nhanh chóng nói Từ Ngữ gây im lặng một cách trôi chảy. Cái hàm của con quái vật xương trước mặt tôi đóng chặt lại, khiến cho Từ Ngữ nó đang định phát âm bị ngắt quãng.

Không định bỏ lỡ cơ hội này, tôi lao vào, nhưng rồi lại phải dừng bước và lùi lại khi nó cầm cây giáo ngắn vung tới tấp. Tôi lườm mắt nhìn vào bóng đen đông đặc trong hốc mắt nó, có vẻ như nó cũng đang lườm lại tôi.

Hiện giờ tôi đang ở trong một khu vực rộng lớn của thành phố ngầm, đối mặt với bộ xương từng thuộc về một con quỷ. Nếu phải miêu tả một cách ngắn gọn, thì nó trông giống người và cá sấu kết hợp vậy.

Nó cao hai mét, với cái đầu lâu làm tôi liên tưởng đến khủng long. Xương sống của nó to, chắc là để gánh được thể trạng của nó, với những gai đốt sống dài chạy dọc cột sống, đôi của nó dài và thon, với gai nhọn ở đầu đuôi. Trong bàn tay giống tay người của con quái vật là một cây giáo ngắn làm bằng kim loại, vẫn chưa hề bị rỉ sét chút nào.

Tôi đã từng học về loài quỷ này từ Gus. Nó tên là vraskus.

Nghe nói hàm răng của nó có thể cắn nát cả giáp sắt, còn những chiếc gai trên đuôi nó thì chẳng khác gì sát thủ, toàn tấn công từ những góc độ khó ngờ đến. Con quỷ này được xếp hạng khá là mạnh, có thể sử dụng thành thạo đủ các loại vũ khí, thậm chí còn có khả năng dùng Từ Ngữ Sáng Tạo nữa.

Nghe nói lớp vảy cứng, da dai như cao su và cơ bắp dày của nó chẳng khác nào một bộ áo giáp hoàn chỉnh của các chiến binh, khiến cho đối thủ của nó phải đau đầu tìm cách đối phó. May thay, giờ nó chỉ còn toàn là xương nên lớp giáp bảo vệ cũng không còn nữa rồi. Tôi thấy mình khá may mắn.

Lúc dạy học Gus đã từng bảo tôi rằng nếu ta điều mười chiến binh đi đánh con quỷ này, ta sẽ chỉ thu về được mười cái xác mà thôi. Nhưng chắc là ông ấy nói quá rồi. Bởi vì nó chậm chạp hơn Blood nhiều.

Tôi đợi thời cơ rồi lao vào nhanh nhất có thể. Khi nó xiên giáo về phía trước, tôi dùng khiên đánh bật đi. Tiếng giáo và khiên quẹt vào nhau vang lên. Tôi áp sát người nó. Con vraskus bổ đầu xuống, định cắn tôi bằng cái miệng không còn dùng phép thuật được nữa. Điều này cũng nằm trong phán đoán của tôi. Tôi cúi thấp và lăn về phía trước để tránh đòn, rồi nhảy lên và thọc đầu kiếm của mình vào khoảng chỗ xương đuôi của nó. Tôi ngay lập tức vặn lưỡi kiếm. Đuôi nó vẫn đang lao tới từ phía điểm mù của tôi. Tôi phá huỷ phần kết nối đuôi với cơ thể nó, khiến cho chiếc đuôi yếu đi rồi trùng xuống.

Con vraskus khựng lại trong chốc lát, ngạc nhiên thấy rõ.

Tất nhiên là tôi không để cho nó kịp phản ứng gì rồi. Tôi giơ chiếc khiên tròn lên rồi húc vào người nó.

Chuyện này chắc cũng chẳng cần phải nói, nhưng bình thường thì một đứa bé cao 160cm sẽ chẳng bao giờ húc ngã được một con quái vật cao hai mét. Nhưng đối thủ của tôi giờ chỉ còn toàn là xương thôi, chưa kể nó đã bị mất thăng bằng do mới bị mất đuôi nữa. Tôi húc cả người và khiên vào người nó mạnh hết cỡ. Sau khi bị va mạnh vào người, con vraskus ngã nhào xuống đất.

Tôi dẫm lên phần cán giáo.

Nhưng con vraskus rất nhanh trí. Nó thả tay khỏi cây giáo rồi dang tay lao đến định cắn tôi.

Y như tôi dự đoán.

Tôi đã giơ cao kiếm sẵn trên đầu để đối phó với đòn tấn công của nó rồi.

“Y-Yaaaaaaghhh!” Trong lúc con vraskus đang lao đến cổ họng tôi, tôi dùng hết sức bình sinh bổ mạnh kiếm xuống hộp sọ nó. Những mảnh xương bắn tung toé, và bộ xương đồ sộ đó ngã sấp mặt xuống nền đất.

Lưỡi kiếm gãy của tôi bay trong không trung. Rồi nó rơi xuống đất và xoay vòng vòng đến một góc phòng.

“A…”

Con vraskus đang bắt đầu tan thành bụi, nhưng tôi lại để tâm đến thanh kiếm dài đáng tin cậy vẫn chưa được đặt tên của mình hơn. Giờ nó đã bị hỏng hoàn toàn, như thể đã hi sinh để đánh hạ một đối thủ đáng gờm.

Tôi cảm thấy người mình lạnh buốt.

…Tệ rồi đây.

Quanh đây thì đầy undead, còn tôi thì lại không còn có vũ khí chính nào trong tay nữa. Tệ thật rồi.

Lúc đó tôi đã rất lo lắng, nhưng rồi tôi nhìn thấy ngọn giáo ngắn mà con vraskus đã cầm. Nó không bị biến thành bụi. Tôi cầm lên xem thử. Cây giáo này trông không giống của quỷ lắm, mà giống ngọn giáo của người dwarf hơn.

Tôi ầm ừ nghĩ ngợi. Hay đây là sản phẩm của những người dwarf từng sống ở nơi này?

Nhưng nếu vậy thì sao nó lại không bị rỉ sau bao nhiêu năm nay? Tôi thắc mắc nên kiểm tra nó kỹ hơn, và phát hiện ra rằng Từ Ngữ Sáng Tạo đã được khắc vào nhiều chỗ trên cây giáo. Gus từng nói rằng trong thời đại chiến tranh giữa các vị thần, thần thánh đã khắc nhiều ký hiệu vào đủ các loại vật dùng, tạo ra vô số thánh kiếm và báu vật truyền thuyết. Tộc dwarf đã được thừa hưởng một phần kỹ thuật đó, và có một kỹ thuật đặc biệt để yểm Từ Ngữ vào vũ khí của họ.

Nếu vậy thì cây giáo không bị rỉ này là một vũ khí phép thuật từng được làm bởi những người dwarf sinh sống tại nơi đây.

Loại vũ khí này thường rất bền và còn có thể tấn công cả những hồn ma như Gus, vốn không thể bị đả thương bởi những đòn tấn công vật lý. Nhiều vũ khí thậm chí còn có các hiệu ứng khác ví dụ như phun lửa hoặc dùng sóng xung kích để làm choáng đối phương. Chỉ có điều tôi không có cách để xác định được chúng. Tôi không dám sử dụng một ngọn giáo mà mình còn chẳng biết liệu nó có những hiệu ứng phép thuật nào.

Nhưng không có vũ khí chính thì còn đáng sợ hơn nữa.

Lúc trước con vraskus vẫn sử dụng được nó bình thường nên chắc những Từ Ngữ khắc trên đây không có hại với người sử dụng. Tôi quyết định tạm dùng nó đã, rồi nhờ Gus kiểm tra sau.

Tôi nắm lấy cán giáo rồi thử thọc và xiên vài lần cho quen tay. Ngọn giáo này rất dễ sử dụng, cứ như thể nó đang dính chặt lấy tay tôi vậy.

“Tốt.”

Để xem nó có thể làm những gì nào, tôi nghĩ, nhưng ngay khi bước một bước về phía trước, sống lưng tôi đột nhiên ớn lạnh.

Tôi quay vụt về phía sau. Gus đang đứng ở đó. Ông ấy đang lườm tôi, mắt đầy sát khí.

“Gus? Là ông… phải không?” Tôi không thể không hỏi lại. Bầu sát khí bao quanh ông ấy ớn lạnh đến như vậy đấy.

Ông Gus mà tôi biết là một hồn ma già cứng đầu và có phần hơi lập dị, nhưng rất thông minh và hiểu biết nhiều, với một cái mũi khoằm và cặp mắt thiếu thân thiện. Không như Blood và Mary, ông ấy luôn giữ một chút khoảng cách khi giao tiếp với tôi, nhưng nếu tôi xin ông ấy dạy mình nhiều lần, và có một thái độ nghiêm túc thì ông cũng không lạnh nhạt đến nỗi từ chối tôi ngay lập tức.

Đó là Gus thường ngày. Tôi tin rằng ông ấy thực chất là một người rất tốt bụng và ân cần. Nhưng giờ thì ông ấy không như vậy. Ánh lườm của ông chứa đầy sát khí, bàn tay vào thế vững chắc, tích đầy mana, có lẽ đủ để sử dụng những phép thuật hùng mạnh.

Tôi rùng người, cứ như thể có ai đó vừa mới hà hơi lạnh vào gáy tôi vậy.

Gus không nói gì.

Cứ như thể ông ấy là một người khác hẳn vậy. Chỉ một ánh nhìn dữ dằn và thế đứng hăm doạ đã đủ khiến cho ông ấy trông đáng sợ đến nhường này sao?

Tôi không nghĩ đây là ảo ảnh hay nguỵ trang gì. Đó chắc chắn là Gus. Nhưng tại sao ông ấy lại tức giận đến vậy? Vì sao ông ấy lại ở nơi này?

“A…”

— À, tất nhiên là ta sẽ giám sát rồi, nhưng nếu có tai nạn sảy ra thì con vẫn có thể chết đấy. Nên, ưm, cố đừng có chết nhé.

Tôi nhớ lại lời của Blood.

Nói “Ta sẽ giám sát, nhưng vẫn có khả năng sẽ có tai nạn chết người,” cũng đồng nghĩa với việc tôi chắc sẽ không chết trừ khi tai nạn như vậy thực sự xảy ra. Nói cách khác thì, dù cho bài học có khó khăn đến mức nào, nó vẫn chỉ là một bài học mà thôi. Trừ khi tôi đụng độ một kẻ thù lúc chưa kịp chuẩn bị, chết ngay lập tức, hoặc mắc một lỗi nghiêm trọng nào đó, thì tôi vẫn sẽ được giúp đỡ nếu gặp phải tình huống quá sức mình.

Vậy liệu họ sẽ giúp đỡ tôi kiểu gì? Nếu có ai đó được giao nhiệm vụ giúp đỡ tôi trong thành phố ngầm này, thì đó hẳn phải là Gus, bởi ông ấy là một hồn ma có thể đi xuyên qua tường. Chắc chắn Mary sẽ không thể bí mật bám đuôi tôi được rồi, cả Blood cũng khó mà làm vậy được. Chắc hẳn Gus đã luôn luôn bám theo khi tôi lanh thang khắp thành phố ngầm này, chiến đấu, cũng như tìm lối thoát. Vậy nghĩa là…

“Đây… cũng là một phần bài học sao?” Tôi run run hỏi. Biết đâu đây cũng là một phần bài học và tôi sẽ phải đối đầu với Gus. Tôi muốn tin rằng đó là sự thật.

Nhưng bản năng của tôi thì lại đang gào thét, cảnh báo tôi rằng không phải vậy.

“Đúng vậy phải không? Rồi ông sẽ bảo cháu rằng cháu s—”

Thay vì trả lời, ông ấy bắt đầu viết một Từ Ngữ. Tôi nhìn là biết, đó là một Từ Ngữ dùng để tấn công.

Phép thuật để giết người.

Ngay lúc nhận ra điều đó, tôi quay đầu lại và bỏ chạy. Tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Nhưng tôi biết rằng mình phải chạy đi càng nhanh càng tốt! Trong khi vẫn đang cảnh giác đằng sau lưng, tôi chạy nhanh hết sức về phía lối thoát căn phòng.

“Expergisci,” Gus niệm Từ Ngữ bằng một giọng lạnh thấu xương.

Ở gần lối thoát hướng tôi chạy tới, một đống đất đá rung chuyển rồi đứng dậy, với hình dáng của một người khổng lồ cao gần ba mét, chạm đến tận trần nhà.

“H—?!” Đây là một con golem được tạo ra bằng phép thuật! Gus đã yểm sẵn một Ký Tự phức tạp vào đống đất đá từ trước, rồi niệm Từ Ngữ để kích hoạt nó.

Kí tự mà ông vẽ bằng tay chỉ là nghi binh mà thôi. Ông ấy vẽ nó để khiến tôi chạy trốn. Vậy nghĩa là… cả khu vực này đã bị Gus vây lại và biến thành vùng tử địa.

Lúc tôi kịp nhận ra điều đó thì nắm đấm của con golem đã tiến lại gần rồi. Tôi không thể nào đỡ được nắm đấm nặng chịch đó chỉ với cái khiến tròn bé xíu này.

Tôi đợi đến giây phút cuối cùng, và nghiêng người tránh đòn. Rồi tôi đâm ngọn giáo phép thuật mình vừa kiếm được vào người nó để phản công. Tôi nhắm vào bụng nó—hay chính xác hơn, là Ký Tự đang duy trì nó.

Mũi giáo dễ dàng cắm vào con golem đất đá chẳng khác nào que xiên đâm vào thịt. Tôi rạch một đường và cạo hỏng Ký Tự. Con golem biến trở lại thành những mảnh đá riêng lẻ và đổ nhào xuống đất—nhưng ngay sau đấy, có thứ gì đó bay sượt qua mặt tôi và đập mạnh vào bức tường, vỡ nát thành từng mảnh.

Tôi ngay lập tức nhảy sang một bên. Lối thoát ngày càng lùi lại xa.

Gần như ngay sau khi tôi thắc mắc thứ gì vừa bắn về phía mình, vô số vật khác cũng bắt đầu bay tới. Đá vụn! Tôi quay lại nhìn Gus và thấy một Từ Ngữ lớn được vẽ giữa không trung, xung quanh là vô số những mảnh đá nhỏ.

Ông ấy bắn hết mảnh này đến mảnh khác về phía tôi, chẳng khác nào đạn bắn cả. Đây là phép thuật Stone Blast (thạch đạn), chưa kể còn là một phiên bản cấp cao nữa!

“Oái—Aaa—Ááá—?!” Tôi lăn trên mặt đất, cố gắng tránh chúng.

Chiếc khiên không thể đỡ được hết những mảnh đá vụn. Chúng đập vào người tôi, đau rát như bị lửa thiêu. Tôi cố kiểm soát nhịp thở của mình và chuẩn bị nói Từ Ngữ Hoá Giải để đối phó với đợt đạn tiếp theo, nhưng rồi—

“Cadere Araneum.”

Sống lưng đột nhiên ớn lạnh. Tôi đã quá quen với phép thuật này. Đó chính là Từ Ngữ tạo lưới. Tôi đã từng dùng nó khi luyện tập với Blood, nên tôi biết rõ phép thuật này đáng sợ đến mức nào.

Tôi nhanh chóng quăng một Từ Ngữ Hoá Giải lên phía trên. Tấm lưới biến mất. Rồi tôi giơ khiên lên định chạy về phía lối thoát, nhưng bị trượt chân bởi vũng dầu mỡ chẳng biết đã xuất hiện từ khi nào.

C-Chuyện gì thế này? Ông ấy nhanh quá. Kể cả Gus cũng không thể dùng phép thuật nhanh đến thế này! Tôi ngoái đầu lại, và nhận ra lý do. Ông ấy đang vừa niệm chú bằng miệng vừa vẽ ký tự bằng tay một cách song song.

“Nhị bội chú (double casting)!” Trên lý thuyết thì ta có thể làm được, nhưng chỉ cần mắc một sai lầm rất nhỏ lúc dùng Từ Ngữ là người dùng phép có thể sẽ mất mạng. Vừa nói và vừa viết hai từ ngữ khác nhau cùng một lúc, cũng như phân phối mana chính xác cho chúng—tôi chẳng cần làm là cũng đủ biết nó khó đến nhường nào rồi.

“Khhh—!” Tôi cuống cuồng lăn trên đất để tránh một đợt đạn bắn nữa. Tôi cố chạy khỏi vũng dầu mỡ, nhưng lại có một cái lưới khác rơi xuống.

Tê liệt. Suy yếu. Làm chậm. Mây ru ngủ. Tôi bị vô số loại kỹ thuật gây bất lợi áp đảo.

Chỉ cần dừng lại một giây thôi là tôi sẽ bị một làn mưa đá vụn tấn công ngay. Bằng cách sử dụng Từ Ngữ Hoá Giải cũng như né tránh, tôi đã tránh không bị trúng đòn chết người nào. Tôi đã cố chạy trốn một cách khó coi vài lần rồi, nhưng lần nào cũng gặp thất bại. Dù đã cố xoay xở trong tuyệt vọng, nhưng tôi vẫn đang dần dần bị dồn vào chân tường…

Gus mặt vẫn vô cảm, nhưng chắc là đã bắt đầu thấy mất kiên nhẫn vì tôi chống cự rồi, ông dang hai tay ra.

“Hả?”

Những Ký Tự được viết trong không trung phát sáng, chứa đầy mana. Hai Ký Tự—mỗi cái được viết ở một tay.

Mồm ông ấy vẫn đang niệm Từ Ngữ không ngừng nghỉ.

Tam bội chú (triple casting).

“Không… thể nào…”

Không còn hi vọng nữa. Chỉ cần tính sơ qua là cũng đủ thấy Gus có khả năng tung hoả lực ngang với hai người rồi. Không còn khả năng chạy trốn nữa. Tôi không thể chạy được. Tôi sẽ bị giết.

Gus vẫn đang tàn nhẫn nhìn tôi, chuẩn bị kích hoạt phép thuật không chút do dự. Đây không phải là đùa. Ông ấy thật sự định giết tôi.

Tại sao? Tại sao?

“Gus…” Tôi sắp bị gia đình đã nuôi nấng mình giết, mà thậm chí còn chẳng biết lý do vì sao.

Không, tôi nghĩ.

Không, không không không.

Mình không muốn chết. Mình không muốn chết! Hai mắt tôi đẫm nước mắt. Các dòng suy nghĩ cứ liên tục chạy trong đầu.

Mình không muốn chết. Mình phải chạy. Nhưng mà mình không chạy được. Mình sẽ không bao giờ chạy thoát được.

Mình không muốn chết.

Mình không muốn chết.

Nếu mình không muốn chết…

Thì mình phải làm gì để không chết?

Ngọn giáo này đã được yểm Ký Tự. Nó có tác dụng cả với hồn ma.

Hãy dùng nó như một cái lao. Phi nó về phía ông ta. Đâm hắn. Giọng nói trong đầu tôi bình thản thì thầm.

Mình có thể ra tay nhanh hơn một chút. Nếu mình đâm Gus… Nếu mình đâm ông ấy vào đúng chỗ… Nếu mình giết ông ta, thì mình sẽ được sống.

Ông ta là kẻ đã cố giết mình. Đây chỉ là quả báo mà thôi. Vậy nên—

Đâm hắn. Hãy đâm hắn đi. Đâm hắn. Đâm hắn.

GIẾT HẮN!

Trong khi nghe tiếng hét điên dại vang vọng trong đầu mình, tôi chỉ nở một nụ cười gượng gạo… rồi vứt ngọn giáo ra chỗ khác.

Tiếng thanh giáo lăn đi vang vọng khắp căn phòng. Gus ngạc nhiên, ngừng kích hoạt phép thuật của ông ấy.

“Gus? Này, Gus?” Tôi định nói gì đây? Tôi cũng chẳng biết. Nhưng mà tôi biết một điều. “Nếu ông muốn giết cháu, thì nghĩa là… ông có lý do chính đáng nào đó phải không?”

Nếu không thì ông ấy sẽ không bao giờ làm vậy. Kể cả đến tận bây giờ, tôi vẫn tin như vậy.

Tôi yêu ông ấy. Tôi yêu ông ấy lắm.

“Gus? Già Gus?” Tôi dang hai tay ra. Rồi tôi ngửa đầu lại và để lộ phần cổ, để giúp ông ấy dễ nhắm vào đó hơn. “Không sao đâu mà. Ông không cần phải cho cháu ‘cơ hội đánh trả’ đâu.”

Ông ấy nuốt nước bọt, trông như thể muốn nói gì đó nhưng lại bị nghẹn lời. Lần cuối cùng tôi thấy Gus ngạc nhiên như thế này là từ khi nào nhỉ? Chắc cũng phải từ lúc tôi trả lời câu hỏi về từ ngữ hồi còn bé nhỉ.

“Cháu hiểu mà,” Tôi nói.

Nếu Gus mà nghiêm túc thì chẳng cần phải làm ba cái trò này làm gì. Tôi là sinh vật sống duy nhất ở trong căn phòng dưới lòng đất này. Ông ấy chỉ cần bắn Ignis xung quanh là cũng đã đủ để giết chỉ mình tôi bằng cách làm giảm lượng khí oxy và khiến tôi bị ngộ độc cacbon monoxit rồi. Hoặc đơn giản hơn nữa, ông ấy còn có thể dùng phép thuật xung kích và làm cho trần nhà sập xuống. Vì Gus là hồn ma có thể đi xuyên qua tường, ông ấy cũng có thể dễ dàng đi xuyên qua trần nhà bị sập. Và tôi vẫn sẽ là người duy nhất thiệt mạng.

Vậy nhưng Gus lại giết tôi bằng một phương pháp mất thời gian như là dùng Stone Blast. Cứ như thể ông ấy đang cho tôi cơ hội chống trả lại vậy.

“Cháu hiểu mà… Cháu hiểu ông đang làm gì, nhưng…”

Tôi có thể thấy rằng Gus đã nhượng bộ hết mức có thể với tôi thì mới làm thế. Nhưng dù vậy—

“Cháu không muốn giết ông, Gus…”

Nước mắt cứ chảy ròng ròng. Tất nhiên là tôi không muốn chết rồi. Tôi sợ—sợ lắm chứ. Kể cả có ký ức lúc chết cũng chẳng khiến tôi bớt sợ đi chút nào. Nhưng dù vậy—

“Cháu thà chết còn hơn phải làm ông bị thương, Gus…”

Có thứ gì đó trào ra trong người tôi, phình to ra như quả bóng bay, và rồi tôi bắt đầu nấc cụt liên tục. Đúng là chẳng có ngầu gì cả.

Tôi muốn chấp nhận cái chết. Đây có phải là lần đầu tôi phải trải qua nó đâu.

“Nếu việc này quan trọng đối với ông,” Tôi nấc tiếp, “thì cháu chỉ cần biết vậy là đủ rồi.”

Gus vẫn đang im lặng đứng đó, không dùng phép thuật gì cả. Tôi lúng túng cười với ông ấy.

“Ông giết cháu được mà. Cháu không sợ chết.” Tôi ép hai môi lại thành một nụ cười gượng và cố gắng tỏ ra cứng rắn nhất có thể. Tôi không thể để mình chết một cách khó coi được. Tôi là học trò của Gus cơ mà.

“N-Nhưng làm ơn đừng làm nó đau quá… nhé…”

Gus từ từ… tiến lại gần tôi. Tôi nắm chặt hai bàn tay đang run rẩy. Ông ấy giơ một tay ra và đặt trên đầu tôi. Tôi nhắm chặt mắt, và rồi điều tiếp theo tôi nghe được—

“A, xin lỗi nhé nhóc! Ta làm hơi quá rồi phải không?! Ha ha ha!” Gus nói và cười to một cách cường điệu, rồi giả vờ xoa đầu tôi bằng bàn tay trong suốt của ông ấy.

“Hở…? Tôi bị sốc khi thấy vậy.

“Có vẻ như ta thắng rồi nhỉ! Đằng nào ta cũng có lợi thế về địa hình mà. Nào nào, đứng dậy đi. Đúng là ta đã làm con sợ, nhưng ngoài ra cũng còn mặt tốt mà. Con đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu về việc chiến đấu với pháp sư rồi phải không?”

Đây không thể là bài học được, với cả tôi cũng không bị sốc vì điều đó. Không—mà là vì Gus đang giả vờ coi rằng tất cả chuyện này chỉ là một bài học.

Giọng của ông ấy chính là bằng chứng rõ ràng nhất. Bình thường ông ấy chẳng bao giờ nói giọng to hay liến thoắng như thế này. Tại sao? Hay là vì ông ấy xúc động quá? Liệu một người ở đẳng cấp như Gus có thể bị vậy sao? Không đời nào. Nhưng nếu vậy thì… tại sao?

“Gus…”

“Nào, nào, ta nói sau cũng được! Con vừa mới đánh bại một con vraskus và còn kiếm được một cây giáo mới nữa. Blood sẽ vui lắm đây! Giờ ta không cần phải nán lại ở cái nơi bức bối này nữa. Đi thôi nào, Will!” Gus đang nói năng cực kỳ dài dòng.

“À phải rồi!” Ông ấy nói, giọng nghe vui tươi hơn mọi ngày. “Chắc hẳn con khá là ấn tượng với trò nhị bội và tam bội chú của ta phải không! Nghe nè, mấy mánh khoé như vậy không hay ho gì, nhưng nếu biết chúng thì sau này trong thực chiến con sẽ có lợi hơn. Từ giờ ta cũng sẽ dạy con cách thực hiện chúng. Thấy thế nào hả? Thôi nào, vui lên đi? Làm ơn đấy?”

Lúc đó chắc hẳn mặt tôi đang trông rất tệ hại, nhưng bây giờ, kể cả Gus cũng trông như thể sắp khóc đến nơi.

Chắc chắn có nhiều bí ẩn xoay quanh thành phố này, ba người họ, và thân thế của tôi. Blood chắc sẽ kể hết tất cả trước khi tôi mười lăm tuổi.

Ngày tất cả những bí ẩn đó được đưa ra ánh sáng đang nhanh chóng đến gần.

Những ngày sau khi sự việc với Gus xảy ra vẫn chẳng khác những ngày trước đó là bao. Kể cả sau khi tôi cùng Gus đến lối thoát và hội tụ với Blood, tôi vẫn không hé răng một lời nào về trận chiến của chúng tôi. Tôi tin tưởng Gus, nếu như ông ấy không định nói với Blood, thì chắc hẳn phải có một lý do chính đáng nào đó.

Tất nhiên, vậy nghĩa là tôi đang phải giấu diếm gì đó, nên chắc lúc đấy tôi cũng hành động hơi kỳ lạ một chút. Nhưng tôi vừa bị ném vào một ổ undead, và cũng vừa mới quay trở lại từ cái bài huấn luyện điên rồ kia, sau khi dành nửa ngày ở đó. Vậy nên Blood và Mary dễ dàng tưởng nhầm rằng cách cư xử kỳ lạ của tôi là do nỗi sợ và căng thẳng vẫn chưa tiêu tan hết.

Và hoá ra bộ xương của con vraskus đó lại khá là khó đối phó. Khi Gus kể cho Blood nghe về buổi huấn luyện của tôi, lúc đến đoạn tôi đánh nhau với con vraskus, Blood đã ầm ừ tỏ vẻ hiểu chuyện và an ủi tôi, nói rằng chẳng có gì lạ khi lúc đó Gus phải bay vào cứu tôi. Có vẻ như ông ấy còn chẳng thèm nghĩ đến chuyện tôi có thể tự chiến thắng một mình nữa.

Sau khi nghe Gus nói rằng tôi đã tự thắng nó một mình, Blood bất ngờ đến rụng hàm. Theo nghĩa đen luôn đó. Cả cái quai hàm của ông ấy rụng ra rồi rơi xuống đất. Cảnh Blood bối rối cố gắn lại xương hàm của mình trông rất là kỳ quái.

Mà con vraskus thực sự khó nhằn đến vậy sao? Tôi thấy nó yếu hơn Blood nhiều, nhưng biết đâu nó lại không mạnh bằng trước kia thì sao. Cơ mà theo những gì tôi được dạy, thì khả năng và kỹ năng của undead vẫn sẽ giống y nguyên hồi chúng còn sống mà nhỉ.

“Ưmm, vậy thì đối với chú con vraskus có khó đối phó không, Blood?”

“Hửm? Ta sao?” Ông ấy trả lời, đan hai tay lại đặt sau gáy. “Ta chỉ cần lao thẳng vào rồi chém bay đầu nó là xong.”

Hở. Vậy thì vraskus cũng đâu có mạnh lắm đâu nhỉ. Chắc là Blood đã coi nhẹ tôi, hoặc nghĩ rằng tôi không thể phát huy hết tiềm năng khi chiến đấu thật sự được.

“Nếu vậy thì con vẫn còn phải cố gắng nhiều. Không được chủ quan khi mới đánh bại được có một con vraskus.” Nếu ta mà trở nên hợm hĩnh mỗi lần mạnh lên một tí, thì chẳng mấy chốc ta sẽ gặp thất bại ngay. Tôi không thể chủ quan như vậy được.

Cả Blood và Gus biểu cảm đều trở nên kỳ lạ sau khi nghe tôi nói vậy, và lẩm bẩm, “Ừ,” “Đúng vậy,” cùng với mấy câu khác nữa nhưng tôi không nghe rõ.

Hừm. Hình như tôi đã hiểu nhầm to chuyện gì đó thì phải.

Trong khi thắc mắc của tôi vẫn không được giải đáp, chúng tôi chuyển sang nói về những chiến lợi phẩm kiếm được. Tôi đã nhìn thấy nhiều đồng tiền và đồ trang sức cũ ở dưới đó, nhưng vì đem chúng lên mất công quá, nên tôi chỉ cầm ngọn giáo ngắn kia về thôi. Đây là chiến tích đầu tiên của tôi, và cả ba người bọn họ đều tỏ vẻ hứng thú với nó. Chúng tôi cùng chụm đầu xem xét ngọn giáo và bàn bạc về nó một lúc.

Mũi giáo thẳng và vừa đủ dài, với hai cạnh sắc bén. Nếu tính thêm cả cán giáo thì nó sẽ dài hơn chiều cao của tôi.

Phần cong trên lưỡi giáo chạy khá dài, và có một đường vân thẳng ngăn cách lưỡi giáo với phần kim loại còn lại. Lưỡi thép sáng bóng một cách lạnh lẽo. Phần gốc của mũi giáo, nơi nó được gắn với phần cán, đã được ép cong vào trong ở cả hai đầu. Blood rất thích cách thiết kế này, còn nói nó trông rất quyến rũ nữa.

Phần cán giáo có màu nâu đậm thanh nhã. Theo như Mary thì nó được làm từ gỗ cây óc chó. Ở đầu còn lại của cán có gắn một vòng đai bằng đồng, trên đó đã được khắc một Từ Ngữ.

Nhìn chung thì đây là một cây giáo vừa đủ dùng, có vẻ do người dwarf chế tạo. Nhưng chính việc tất cả những chi tiết không cần thiết đã được lược bỏ hết lại đem lại cho nó một vẻ đẹp và dấu ấn riêng.

Màu tối của tay cầm tương phản với màu trắng của lưỡi giáo khi nó phản chiếu lại ánh sáng. Khi nghĩ đến chuyện đây sẽ là vũ khí của mình, chẳng hiểu sao tôi lại thấy hào hứng đến lạ. Đến nỗi tôi không thể cưỡng lại được và cầm nó vào vườn tập vung giáo với luyện thế đứng.

Dù đúng là hơi xấu hổ thật đấy, nhưng thực tế là vậy mà, đàn ông ai cũng khao khát muốn có một thứ của riêng họ, có thể là vũ khí, xe hơi, hoặc là thứ gì khác. Chắc hẳn người đàn ông nào cũng sẽ hiểu được cảm giác của tôi.

Gus vừa cùng tôi xem xét kỹ cây giáo, vừa giải thích lại những thứ cần để tâm đến. Sau một hồi kiểm tra, chúng tôi tìm ra tên của cây giáo này là Trăng Mờ (Pale Moon). Cả lưỡi và cán giáo đều đã được yểm hiệu ứng phép thuật nhờ Từ Ngữ Sáng Tạo.

Ở lưỡi giáo có những Từ Ngữ để giúp gia tăng khả năng đâm và cắt, cũng như Từ Ngữ để giúp nó không bị bào mòn hoặc phá huỷ. Ngoài ra, một Từ Ngữ dựa trên gốc Lumen đã được khắc vào đó, giúp lưỡi giáo trở thành một nguồn sáng có thể điều chỉnh được phạm vi cũng như độ sáng. Có vẻ như nó không đủ mạnh để làm chói mắt đối phương, nhưng ít nhất thì vẫn đủ để soi sáng trong bóng tối. Vậy thì tôi không cần đến đuốc nữa rồi.

Còn phần cán giáo, ngoài những Từ Ngữ tương tự để giúp duy trì sức mạnh và chất lượng qua thời gian, nó còn được khắc những Từ Ngữ liên quan đến sự co giãn vật chất. Có vẻ như chiều dài của cây giáo có thể được điều chỉnh, dù chỉ trong mức độ cho phép, sau khoảng vài phút, mà vẫn giữ được độ cứng và bền của nguyên liệu gốc. Dù không thể đột nhiên dài ra trong lúc chiến đấu được, nhưng nếu cần thì tôi vẫn có thể dùng nó như một cây thương dài. Còn nếu biến thành ngọn giáo ngắn, thì tôi cũng có thể cầm nó vào những chỗ chật hẹp.

Chúng không phải là những chức năng hào nhoáng như phóng ra lửa hoặc sóng xung kích, nhưng chức năng nào cũng vô cùng hữu ích. Tôi có thể nghĩ ra vô số cách để sử dụng nó.

Tuyệt quá. Tuyệt vời quá. Đây là vũ khí phép thuật thật này! Và nó còn thuộc về mình nữa! Tôi trở nên hào hứng hơn cả lúc trước, cho cây giáo biến thành đủ loại chiều dài khác nhau, thử vung nó xem cảm giác thế nào, và đánh bóng ngọn giáo mặc dù nó chẳng bị bẩn chút nào. Ba người họ—nhất là Blood và Gus—nhìn tôi với một ánh mắt ấm áp.

Những ngày sau đó trôi qua một cách yên bình.

Giờ những bài học của Blood thỉnh thoảng bao gồm cả việc xuống thành phố ngầm, nhưng tôi đã quen với nó rồi. Lúc thì cầm Trăng Mờ, lúc thì cầm một thanh kiếm dài, tôi đã trải qua hết trận chiến này tới trận chiến khác với lũ quỷ undead. Kể cả khi gặp những con quỷ ngang cỡ con vraskus, tôi cũng không còn phải chật vật với chúng như trong trận đấu đầu tiên của mình nữa.

Dần dà, tôi không chỉ thông thuộc hết địa hình dưới thành phố ngầm, mà ở đó cũng chẳng còn thứ gì có thể đọ được với tôi nữa, thế là Blood bắt đầu cho tôi những thử thách khác. Ví dụ như: tôi phải xuống thành phố ngầm mà chỉ được cầm theo quần áo và một con dao găm, và phải kiếm vũ khí và áo giáp bằng cách trộm chúng từ bọn undead dưới đó, rồi quay trở lại sau khi đã hạ được một số lượng kẻ thù nhất định. Cũng khá là khó đấy, nhưng chỉ sau một thời gian là tôi cũng bắt đầu quen dần với nó.

Tiện thể, dù tôi đã nhặt được kha khá vũ khí và trang sức vẫn còn ở trong tình trạng tốt, chẳng có thứ gì bì được với Trăng Mờ cả. Nhưng dù vậy, tôi vẫn nghĩ mình đã thu được nhiều kinh nghiệm bổ ích khi sử dụng nhiều loại vũ khí khác nhau. Có những vũ khí chất lượng kém mà tôi thích dùng với số lượng lớn, trang bị có tên riêng, vũ khí dài, vũ khí ngắn, và cả những loại không dài mà cũng không ngắn.

Như đã hứa, Gus dạy tôi những mánh khoé để dùng nhị bội và tam bội chú.

Kể cả ở kiếp trước, viết hai chữ khác nhau bằng hai tay đã là một mánh khoé đáng nể rồi, tôi cũng nhớ mình từng thấy vài buổi biểu diễn đường phố có những người vừa chơi nhạc cụ vừa làm một việc khác. Phương pháp bội chú khi dùng phép thuật cũng tương tự như những mánh khoé đó. Giống như học võ thuật từ Blood, mẹo làm ở đây là luyện tập cơ thể để nhớ được những chuỗi hành động hữu ích để ta có thể dễ dàng thực hiện chúng mà không cần suy nghĩ.

Gus và tôi cùng chọn ra vài chuỗi hành động hữu dụng. Rồi tôi luyện tập chúng để hình thành ký ức cơ bắp. Nhưng ngoài nhị bôi chú ra, tam bội chú khó thực hiện cực kỳ, tới giờ tôi vẫn chưa thể làm được. Chắc hẳn Gus đã phải mất bao nhiêu năm dòng luyện tập thì mới giỏi được như vậy. Mong rằng ngày nào đó tôi sẽ đuổi kịp được ông ấy.

Bài giảng của ông ấy cũng thay đổi. Giờ tôi không còn bị nhồi nhét kiến thức liên tục nữa.

“Kiến thức học thuật của con dạy đến đây là đủ rồi.” Trong phòng học quen thuộc, Gus cười rồi gật đầu với tôi. “Đã đến lúc con học một thứ khác.”

“Một thứ khác sao?” Tôi hỏi, và Gus gật đầu.

“Con xuống thành phố ngầm cùng với Blood và thu thập chút tiền đi,” ông ấy nói bằng một giọng nghiêm túc. “Ta sẽ dạy con một chuyện quan trọng.” Tôi ngồi thẳng người ra và gật đầu lại.

Tôi không biết Gus định dùng mấy đồng xu làm gì, nhưng nếu ông ấy nói nghiêm túc như vậy, thì chắc hẳn đó phải là một chuyện rất quan trọng.

Một lúc sau, Blood và tôi cầm mấy đồng xu trở về.

“A, tốt lắm. Ta đang đợi đây.” Gus đang cầm một con xúc xắc, một cái bát, một bàn cờ và… thứ gì đó trông giống những quân cờ. <TN: trong board game>

“Ồ! Lâu rồi không chơi nhỉ. Làm một ván không ông già?!” Blood vui vẻ nói. “Này, Will, con vẫn chưa chơi bao giờ phải không?!”

Tôi không trả lời.

“Không sao đâu, chắc vậy, chỉ cần chơi một lần là biết ngay thôi mà… Will?”

“Ưm. Gus?” Tôi nói.

“Sao vậy?” Gus trả lời.

“Chẳng phải đây là… ông biết đó… đánh bạc sao?”

“’Đánh bạc’ nghe cục xúc quá. Phải thanh nhã hơn chứ. Ta gọi nó là một trò chơi trí tuệ đi.”

“Đây đánh bạc!”

“Thôi được rồi, được rồi, không cần phải nổi nóng vậy đâu.”

“Có cần chứ! Cháu tưởng ông có điều gì quan trọng lắm muốn dạy cơ mà! Sao lại là đánh bạc?!”

“Ồ, con sẽ phải ngạc nhiên khi biết công dụng của những trò chơi trí tuệ này đấy.” Và thế là bắt đầu chuỗi nguỵ biện của Gus. “Sau khi trở thành một pháp sư ưu tú, con sẽ phải hiểu biết một chút về các trò chơi trí tuệ. Những trò chơi này thường được dùng để quyết đấu giữa các pháp sư. Phép thuật vốn ẩn chứa rất nhiều nguy hiểm mà. Nếu ta mà cãi cọ với một pháp sư mình ghét rồi chiến đấu với nhau, sẽ chẳng lạ gì nếu cả hai bên cùng tự huỷ diệt lẫn nhau, và chẳng ai muốn như vậy cả. Thế nên, mỗi khi có tranh chấp, mọi người thường viết một bản giao ước, và giải quyết tranh chấp qua một trò chơi trí tuệ, để còn…”

Tôi nhớ lại những manga về đấu bài từ kiếp trước. Nghĩ lại thì, không chỉ có mỗi manga mới dùng các trò chơi để giải quyết tranh chấp. Trên thực tế, trong lịch sử cũng đã từng có những ví dụ như vậy rồi. Nên biết đâu trong thế giới này, tôi cũng nên học cách—

“Ấy không, ông không lừa được cháu đâu!” Tôi lắc đầu quầy quậy. “Đánh bạc là đánh bạc! Mary thể nào cũng nổi giận cho mà xem!”

“Ôhô… nhóc Will à…” Gus toét miệng cười. “Con sợ phải không.”

“Hả?”

“Không, không, không. Không cần phải giấu làm gì đâu. Tất nhiên là con sẽ thấy sợ khi phải đối đầu trực tiếp với ta, Hiền Giả Lang Thang nổi tiếng, trong một trò chơi trí tuệ rồi.” Ông ấy cười chế giễu. “Phải, và Mary cũng sẽ rất giận nữa. Sẽ chẳng có ai trách được nếu con bỏ chạy! Nếu con chạy trốn đâu! Phải rồi, chạy, chạy đi nhóc. Còn ta sẽ ở lại chơi cùng với Blood.” Rồi ông ấy còn kết thúc bằng một điệu cười khúc khích để nhạo báng nữa.

“Ồ, thế cơ à.” Tôi không thể không đáp lại lời khiêu khích của ông ấy.

Vậy nên, tôi đáp lại lời khiêu khích của ông ấy.

Như bạn biết đó, cờ bạc rất dễ gây nghiện. Đến nỗi bệnh nghiện cờ bạc đã được công nhận là một bệnh lý ở thế giới trước của tôi.

Đánh bạc giúp kích thích não bộ. Hoảng hốt và tức giận lúc thua, nhưng lại vui sướng và thoả mãn khi thắng. Dần dần, não bộ bắt đầu chai lỳ với những kích thích đó, và bọn họ sẽ đi tìm những kích thích mạnh hơn, càng ngày càng lún sâu vào kiếp đỏ đen. Ở thế giới cũ cũng có nhiều tác phẩm văn học viết về nó, tôi không cần phải trích dẫn các tác phẩm đó cũng đủ biết có vô số người đã sa vào vòng cám dỗ của những trò chơi quỷ quái này.

Tại sao tôi lại nói với bạn tất cả điều này ư? Để miêu tả một điều hiển nhiên.

“Hai con sáu! Tôi ăn ván này rồi nhé, Già Gus!”

“Chậc! Cậu lúc nào cũng có trực giác tốt…”

“Được, qua ván mới nào! Chơi tiếp thôi!”

Rằng ta khó mà cưỡng lại được cái cám dỗ quỷ quái đó.

Trong trò chơi này ta phải di chuyển quân qua bàn cờ bằng cách dùng xúc xắc, tương tự như trò cờ tào cáo.

“Được, chơi tiếp nào. À đợi đã, trước khi ta bắt đầu. Will, trò này có một mẹo đó. Để ta dạy con cho. Nghe này, có một thứ được gọi là chuỗi xui xẻo.”

“Toàn thứ mê tín!” Gus chế giễu. “Chỉ có kết quả và xác xuất mà thôi. Cứ chơi một cách logic lâu vào, thì cuối cùng ta—”

“Ồ thế à? Vậy ai đang từ từ bị vắt kiệt thế kia?”

Blood giờ đang có một chồng vàng to bự trước mặt. Ông ấy đã bị thua lẻ tẻ nhiều, nhưng lại không bao giờ ăn hụt vào những lúc quan trọng. Nhìn ông ấy chơi làm tôi muốn tin vào trực giác và chuỗi may mắn.

Tôi vẫn im lặng ngồi nhìn chồng bạc khá là to mà mình đã kiếm được bằng cách ra quyết định an toàn và tránh những trận phải đối đầu mạnh với Blood. Tôi hiện đang đứng thứ hai.

Gus hầm hừ, tỏ vẻ bức xúc. Tất nhiên là ông ấy đang đứng bét. Dù đã nói về tầm quan trọng của lý thuyết và xác xuất, nhưng cứ khi nào có trận đối đầu to giữa ông ấy và Blood, bản tính cứng đầu của Gus lại khiến ông ấy bỏ mặc tất cả những thứ kia và cố đánh bại Blood.

Tôi muốn chơi an toàn và tiếp tục giữ thứ hạng hai, và nếu có thể, thì tìm một cơ hội để vươn lên dẫn đầu. Vậy nên theo chiến lược đó, nước đi tiếp theo của tôi sẽ là—

Một tiếng đập mạnh làm ngắt quãng dòng suy nghĩ của tôi. Cánh cửa phòng đang mở, và Mary đang đứng ở đó.

Cả ba người chúng tôi đều mở miệng và nói “A” cùng một lúc.

Cô ấy im lặng đứng đó một lúc. Cô vẫn cúi mắt nhìn xuống, cùng với một nụ cười dịu dàng trên môi. Dù biểu cảm của cô ấy trông vẫn giống như mọi ngày, nhưng chẳng hiểu sao, tôi lại không thể ngăn bản thân mình run rẩy.

“Cả ba người, ngồi đấy.” Giọng nói bình thản của cô ấy khiến cho tôi toát mồ hôi lạnh như tắm.

“Ta, à, thì,” Gus khơi ngòi.

“Mary, anh có thể giải thích—”

“Đây là ý tưởng của Gus—”

Chúng tôi ai nấy đều quơ tay cố biện hộ cho bản thân.

“Ngồi đấy.”

Không ai trong số chúng tôi có thể cãi lại nụ cười của Mary. Bài quở trách của cô ấy rất dài và nghiêm khắc, và đã dạy cho tôi một bài học quan trọng: đừng bao giờ bị vướng vào bài bạc!

Mặc dù sòng bạc của Gus sẽ không được phép hoạt động lại nữa, nó cũng đủ cho thấy buổi học của ông ấy đã thay đổi rất nhiều. So với đó, những thứ Blood dạy vẫn chẳng thay đổi mấy.

“Phùù!” Tôi thở ra. Hiện tôi đang cởi trần, nắm lấy một cái cành cây và tập kéo xà đơn. Tôi kéo cơ thể lên, chầm chậm, để khiến cho cơ bắp trên lưng hoạt động.

Bằng một tay.

“Phùù!”

“Chà, lưng con đã bắt đầu chắc lên rồi đấy.”

Những bài tập của Blood luôn không đổi. Rèn luyện cơ thể, rèn luyện kỹ thuật, luyện tập các kỹ năng—săn bắn, trèo cây, leo đá, bơi lội, thu thập đồ ăn—và trong khi làm những việc đó, dần dần bồi đắp kiến thức để biết cách phân biệt các loại cá và cây cỏ khác nhau mà tôi nhìn thấy.

Những bài tập không bao giờ đổi thay. Nhưng cơ thể tôi, thì lại đang từ từ thay đổi để bắt kịp với chúng. Lúc đầu tôi kéo xà bằng hai tay, rồi thêm cả tạ, rồi bằng một tay. Cả chống đẩy nữa, tôi có thể làm trong khi đang đeo tạ trên lưng, hoặc khi đang chồng cây chuối.

Cơ bụng tôi đã lộ rõ ra rồi, hiện tôi đang luyện tập cơ ngực, và cả tay và chân tôi cũng ngày càng to và khoẻ hơn. Dần dần từng chút một, tôi đang biến thành một chiến binh cơ bắp, giống như Blood trong quá khứ.

“Ừ, vậy là đủ rồi.” Blood nói, sau khi tôi đã thực hiện hết những bài huấn luyện căn bản hằng ngày.

“Vậy hôm nay chúng ta sẽ làm gì?” Tôi hỏi. “Đấu tập?”

“Không, hôm nay ta đang nghĩ đến chuyện khác. Chúng ta sẽ đi tìm tổ ong. Con đi dội nước rửa sạch mồ hôi đi, mặc nhiều lớp vào, rồi cầm một tấm vải về đây.”

Tôi gật đầu. Rồi tôi đi dội nước lạnh vào người, rửa sạch hết mồ hôi, mặc nhiều lớp quần áo rồi quay lại chỗ Blood.

Lúc tôi quay lại, Blood đang thò đầu nhìn vào một cái hũ bé. Hình như ông ấy đang cười nhăn nhở.

“Hửm? Cái gì vậy?”

“Lại đây nhìn nè.”

Tôi ngó vào trong. Có mùi ngọt mạnh của quả nho rừng, và đồng thời mũi tôi cũng ngửi thấy một mùi rất đặc trưng khác. Tôi có thể thấy bong bóng đang nổi lên từ chất lỏng trong hũ.

“Nghe này Will. Ta đã chế biến nó bằng cách nung cái bình này đến nhiệt độ sôi, rồi cho nước ép nho rừng vào…”

“Chú đang nấu rượu sao?”

“Ồ, con biết hả!”

“Vậy thì lý do chú đi tìm tổ ong—”

“Phải. Chúng ta sẽ cho mật ong vào đây để làm ngọt nó.”

Có một loại nấm khi được cho vào chất lỏng chứa đường, nó sẽ bắt đầu phân huỷ đường và tạo ra rượu. Tất nhiên, ta càng cho nhiều đường vào thì nồng độ cồn sẽ tăng theo, khiến cho rượu mạnh hơn.

“Đàn ông là phải biết uống rượu,” ông ấy nói.

“Chú có chắc là Mary sẽ không nổi giận chứ?”

“Thôi nào. Cô ấy đâu cần phải biết đúng không? Đây sẽ là bí mật giữa hai ta!” Ánh lửa trong mắt ông bập bùng, và ông ấy trông có vẻ đang rất vui. Tôi khó mà từ chối ông được.

Sau khi dễ dàng đồng ý, cả hai chúng tôi chạy băng qua rừng để tìm một tổ ong. Rồi chúng tôi cùng nhau cười to khi hun khói để đuổi ong ra. Việc lấy mật cũng không gặp khó khăn gì, và bọn tôi cho nó vào hũ.

Tôi có ăn thử chút nhộng ong sau khi Blood giới thiệu. Chúng ngon đến bất ngờ. Tôi chợt nhận ra mình đã thô hơn và không còn cầu kỳ như trong kiếp trước nữa.

Bọn tôi đợi vài ngày, và sau khi kiểm tra xem nó đã lên men ổn và biến thành rượu chưa, chúng tôi bí mật ngồi đối diện nhau và cùng thưởng thức cốc rượu. Nói là vậy, nhưng Blood lại không có lưỡi hay cổ họng. Ông ấy vừa đổ rượu vào mồm là nó chảy hết xuống đất.

“Ồ, ngon quá. Ngon quá xá,” ông ấy thích thú nhận xét. Tôi cứ tưởng là ông ấy không thể nếm rượu hay bị say được. Vậy nhưng Blood lại trông như thể ông ấy ưa thích món rượu này và tâm trạng đang rất vui.

“Vâng.” Cốc rượu này, khi được ngồi uống cùng với Blood, cũng có mùi vị rất tuyệt vời.

Vì không có đồ nhắm gì nên chúng tôi cứ uống hết cốc này đến cốc khác, và vừa ngồi ngắm trăng vừa say khướt. Không lâu sau, một cảm giác dễ chịu, bay bổng nhẹ nhàng bắt đầu tràn ngập khắp đầu tôi, và bọn tôi cùng cười sằng sặc như hai tên ngốc kể cả với những câu nói đùa bình thường nhất. Chúng tôi càng ngày càng hào hứng hơn, cho đến lúc bọn tôi đều hành xử chẳng khác gì hai tên bợm rượu…

“Con muốn chứng tỏ mình gan dạ không?” Blood lèm bèm.

“Vâng?”

“Ta đi nhìn trộm Mary thay quần áo đi.”

“Ồồồ, gan đấy nha!”

“Chuyện. Ta gan lắm phải không?”

“Hahaha!” Chúng tôi cùng cười nắc nẻ. Sao chuyện lại thành ra như thế này vậy?

Tất nhiên là trong đầu tôi vẫn biết rằng đây không phải là việc chúng tôi nên làm. Chắc chắn dù bộ não của tôi có xỉn đến mức nào đi nữa, nó vẫn sẽ minh mẫn hỏi tôi, Chuyện này thì có gì mà vui chứ?!

“Ahahaha!”

“Ahahaha!”

Chỉ có điều, có hỏi câu đó với một tên say rượu thì cũng vô ích mà thôi.

Chúng tôi nhanh chóng hành động. Hành lang ngôi đền đang lảo đảo. Ủa, không, đó là tôi.

Chúng tôi căn đúng lúc rồi nhanh nhẹn chạy đến cửa phòng Mary. Tôi có thể nghe thấy tiếng quần áo sột soạt. Blood với tôi nhòm qua khe cửa và thấy Mary vừa mới cởi chiếc áo choàng rộng ra.

Cả Blood và tôi đều có thể thành thạo đi lại mà không phát ra tiếng động nếu cần. Đối với bọn tôi thì nhìn trộm người khác là việc rất đơn giản… nếu như bọn tôi còn tỉnh táo.

“A—”

“Thằng—ngốc này!”

Tôi chao đảo, loạng choạng, và khiến cho cả hai cùng ngã nhào xuống đất.

Mary thét lên. “A-Ai đấy?!”

Chúng tôi cố chạy trốn nhưng không kịp. Cô ấy đã tìm được thứ gì gần đó để mặc vào, rồi chỉ trong chốc lát, cô ấy đã mặc quần áo chạy ra, và bắt quả tang chúng tôi.

“Will?! Blood?! Chuyện gì thế nà—ưgh, cả hai người nồng nặc mùi rượu!”

Tôi hiếm khi nào thấy Mary lúng túng như thế này.

“Ưm, con… đây không…!”

“Hehe, bọn anh định nhìn em thay đồ tí thôi mà.”

“H—H—H—?!”

Nếu còn sống, thì chắc hẳn lúc này mặt cô ấy đã đỏ ửng lên rồi. Cái cách Mary mất bình tĩnh vì xấu hổ khá là đáng yêu, đến nỗi tim tôi còn đập loạn nhịp trong giây lát.

“Hai người làm cái trò gì vậy hả?!”

Một dấu tay đỏ lừ in đậm trên má tôi. Còn với kẻ chủ mưu, Blood, Mary tát mạnh đến nỗi đầu lâu ông ấy quay vòng tròn luôn. Rồi cô ấy leo lên người và đẩy Blood ngã xuống, rồi đấm ông tới tấp.

Chúng tôi đã không chỉ say bí tỉ mà còn đi nhìn trộm một cô gái lúc đang thay quần áo. Vậy nên bị như vậy cũng đáng. Có thể nói là hình phạt của chúng tôi vẫn còn nhẹ đấy.

Và khi tôi thức dậy ngày hôm sau, chẳng hiểu sao, tôi lại bị mộng tinh. Phải, đây là lần đầu tiên đó.

Dạo này tôi đã bắt đầu vỡ giọng rồi, nên chuyện này cũng không có gì bất ngờ lắm, nhưng không ngờ bản năng tình dục của tôi lại xuất hiện sau khi nhìn Mary thay quần áo. Bản năng tình dục của tôi xuất hiện sau khi nhìn Mary thay quần áo. Và không chỉ vậy, Blood còn phát hiện ra nữa, ông ấy vừa chỉ ngón tay vào tôi vừa cười sằng sặc. Tôi đá ổng một phát.

Và, trong khi giặt cái khố bẩn của mình, tôi bắt ông ấy thề rằng chúng tôi sẽ đem bí mật này xuống mồ.

Thôi lần này tôi cạch rượu luôn rồi. Thật đấy, không uống nữa đâu.

Những “phi vụ” của tôi với Blood và Gus có thể khiến bạn nghĩ rằng tôi là một đứa nghịch ngợm khủng khiếp. Nhưng về cơ bản thì tôi là một đứa trẻ ngoan. Tôi… nghĩ vậy. Chắc là thế. Khả năng cao là vậy.

“Mary, con nhổ cỏ trong vườn rồi. Với cả con cũng phơi quần áo xong rồi.

“Cảm ơn con nhé, Will.”

“Với lại con cũng đã phủi bụi cho tượng thần và đặt vài bông hoa ở đó nữa.”

“Ôi chà.”

Để chứng minh cho điều đó, dạo gần đây, tôi đã không chỉ giúp đỡ Mary làm việc nhà, mà còn làm hết việc của cô ấy luôn. Ngạc nhiên thay, nói thì dễ vậy thôi nhưng lúc bắt tay vào thực hiện mới khó. Tôi không thể ngồi chờ được chỉ dẫn. Tôi phải nắm rõ được lịch trình của cô ấy, nghĩ xem những việc nào cầm phải làm, và hoàn tất chúng trước cô.

Mary rất nhanh nhẹn. Cô ấy đã bảo tôi rằng mẹo để không bị quá tải việc nhà là phải xử lý chúng ngay lập tức mỗi tìm thấy việc gì. Những dụng cụ dọn dẹp và làm vườn luôn được để ở những nơi dễ lấy, và nếu như cô ấy phát hiện ra một chút bụi bẩn hay cỏ dại là cô sẽ xử lý chúng ngay lập tức, không để công việc tồn đọng.

Để có thể hoàn thành công việc trước cô ấy, tôi phải luôn chú ý quan sát, không được lười biếng chểnh mảng. Luôn luôn nghĩ cách để giảm nhẹ việc cho Mary trong lúc vẫn đang sinh hoạt như thường ngày, có thể nói là đã giúp tôi học được nhiều điều hơn cả những bài học của Blood và Gus. Ít nhất thì trong phương diện đời sống hàng ngày, nó còn quan trọng hơn cả việc rèn luyện cơ bắp.

Nếu ở kiếp trước tôi ít nhất cũng phụ giúp được một vài việc nhà, thì đã có thể đỡ làm gánh nặng một chút cho gia đình rồi. Giờ khi đã được sống ở thế giới này, tôi không bao giờ muốn lặp lại sai lầm đó nữa.

“Cảm ơn con nhiều, Will. Xem nào, giờ ta có chút thời gian rảnh. À phải rồi, hay là hôm nay ta cắt tóc cho con nhé?”

“A, ý hay đó.”

Tóc tôi đã mọc khá dài chẳng biết từ khi nào. Lần cuối cùng Mary cắt tóc cho tôi là khi nào nhỉ?

Cô ấy rất giỏi cắt tóc. Còn Gus thì chưa bao giờ ngỏ ý muốn làm cả, và lần duy nhất tôi nhờ Blood cắt chỉ có thể được miêu tả bằng từ “kinh khủng.”

“Con sẵn sàng rồi. Cảm ơn cô trước nhé, Mary.”

Gần đây giọng tôi không còn thay đổi nữa. Tôi giờ cao hơn nhiều, và vai cũng rộng ra. Tôi đã vượt qua cả Mary lẫn Gus về chiều cao, và mặc dù tôi vẫn chưa thể đứng vai kề vai với Blood, nhưng sự khác biệt về thể trạng giữa chúng tôi cũng đã được rút ngắn đáng kể rồi. Giờ tôi đã có thể tập đấu tay đôi với ông ấy.

Buổi sáng mùa thu thật là mát mẻ và sảng khoái. Mary cắt từng chỏm tóc của tôi với cây kéo đã được mài sắc, không hề tỏ ra chần chừ chút nào.

“Ta có thể thấy yết hầu của con lồi ra rồi. Chắc con cũng sẽ sớm mọc râu thôi.”

“Vâng. Hay là con nhờ Blood dạy cách dùng dao cạo râu nhỉ. Không biết chú ấy có còn nhớ không.”

Mary cười nhẹ. “Ta cũng chẳng biết. Cũng đã lâu lắm rồi anh ấy không dùng đến nó.”

Dao cạo râu chạy điện rất phổ biến ở thế giới trước của tôi. Không biết là có bao nhiêu người trẻ tuổi đã từng cạo râu bằng dao cạo truyền thống nhỉ. Tất nhiên là tôi cũng bó tay rồi. Vậy nên tôi mới phải học cách làm.

Nhưng mà, tự cắt mặt mình bằng dao cạo trông có vẻ đau quá. Nếu phong tục của thế giới bên ngoài cho phép, thì có lẽ tôi cứ để râu mọc cũng chẳng sao nhỉ…

“Giờ nói mới nhớ, mặt Blood trông thế nào vậy ạ?”

Gus trông vẫn như bình thường. Mary chỉ bị khô đi thôi, còn mái tóc vàng dài mượt và đôi mắt dịu dàng của cô ấy thì vẫn vậy, nên nếu là cô ấy thì ít nhất tôi vẫn tưởng tượng ra được. Còn Blood thì khó nhất.

Mary ngừng cắt tóc và nhìn xa xăm một cách u sầu.

“Blood trông khá là khác con. Chắc hẳn con nhìn cấu trúc xương của anh ấy là biết. Anh ấy có một bờ vai rộng, với tay và cổ to. Một khuôn mặt hoang dã… một khuôn mặt bất khuất, đầy tự tin. Mái tóc anh khi bay trông gió trông giống như bờm sư tử vậy. Ánh mắt của anh ấy rất mạnh mẽ và sắc bén. Nếu phải nhận xét thì anh ấy trông mạnh mẽ hơn là đẹp trai nhỉ?”

Tôi tưởng tượng cơ bắp lực lưỡng được đắp lên bộ xương quen thuộc của Blood. Rồi tôi kéo da lên trên nó, và gắn tóc vào. Một ánh nhìn sắc bén, hoang dã và khoẻ mạnh, một người đàn ông tựa như sư tử.

“Ồ, con có thể nhìn thấy chú ấy rồi.”

“Đúng vậy phải không? Anh ấy trông rất ngầu,” Mary cười, hơi chút e thẹn. Có lẽ họ đúng là có mối quan hệ gì đó với nhau.

Tôi cũng không chắc lắm, bởi hai người họ đều luôn tỏ vẻ người lớn khi ở gần tôi. Kể cả khi có ký ức từ kiếp trước, rõ ràng là tôi vẫn không biết nhiều về những chuyện tinh tế như thế này.

Mary lại tiếp tục đưa kéo, và từng ngọn tóc của tôi tiếp tục rơi xuống sàn nhà.

Đôi tay của cô ấy nhanh nhẹn cử động cứ như thể đây đã là bản năng của cô rồi vậy. Đôi lúc cô ấy sẽ nhìn tôi ở nhiều góc độ để kiểm tra xem kiểu tóc trông như thế nào.

“Xong rồi,” cô ấy nói sau một thời gian, và đưa một chiếc gương cầm tay ra trước mặt tôi.

Một chàng trai trẻ với nét mặt trông gọn gàng và vui vẻ đang nhìn tôi từ trong gương. Cậu ta có mái tóc màu nâu hạt dẻ hơi bù xù, và tôi có thể thấy đôi mắt màu xanh lơ đậm của cậu trông có vẻ khá hiền lành. Nếu chỉ nhìn khuôn mặt thì cậu ta trông chẳng khác nào một đứa trẻ nhà giàu được cưng nựng, nhưng với cơ thể cơ bắp kia, thì cậu trông giống một chiến binh trẻ xuất thân từ một gia đình tử tế hơn.

Mary cười khúc khích. “Ta nghĩ con trông khá đẹp trai đấy chứ, phải không nào?”

“Con không nghĩ vậy. Con muốn có một khuôn mặt giống Blood hơn.” Thế giới này có vẻ khá nguy hiểm, nên tôi nghĩ một khuôn mặt trông mạnh mẽ, dữ dội sẽ hữu dụng hơn. Với lại, cá nhân tôi muốn được như ông ấy. “Hơi chán vì hai chúng con không giống nhau lắm nhỉ.”

“Hai Blood thì có vẻ hơi nhiều quá đó,” Mary cười và nói. “Nhưng ta nghĩ con trông trưởng thành hơn nhiều—à phải rồi.”

“Hửm?”

“Lễ trưởng thành của con sắp diễn ra rồi phải không,” cô ấy nói trong khi đang bỏ khăn khỏi cổ tôi và quét dọn chỗ tóc trên sàn. “Con phải nghĩ kỹ về vệ thần của mình, cũng như quyết định lời thề đi.”

Ấy chết. Tôi quên khuấy mất.

Thế giới này có nhiều vị thần. Thần lớn, thần bé—ai cũng đều khác nhau, và ai cũng đều được người nào đó tôn thờ.

Mỗi người đều có một “vệ thần” riêng, đó là vị thần mà người đó tin vào nhất. Nghe nói, cho đến khi một đứa trẻ trở thành người lớn, nó sẽ được đặt dưới sự bảo hộ của vệ thần của cha mẹ mình. Lễ trưởng thành là một nghi lễ khi ta rời khỏi sự bảo hộ đó: tự quyết định vệ thần của riêng mình, lập một lời thề và xin được bảo hộ.

Theo quan niệm ở thế giới này, con người nên sống và chết sao cho hợp lòng với vệ thần của mình. Nghe thì có vẻ khá là kìm kẹp, nhưng ta vẫn có thể thực hiện nghi lễ một lần nữa sau này để thay đổi vệ thần của mình, nếu thái độ hoặc hoàn cảnh thay đổi.

Với lại, cũng không có gì lạ khi có người thờ cúng một vị thần khác ngoài vệ thần của mình tuỳ vào tình cảnh. Ví dụ như, gần như ai cũng sẽ cúng cho Whirl, thần gió, trước khi bắt đầu một cuộc hành trình. Hệ thống đa thần ở đây có vẻ không nghiêm ngặt lắm.

Cách nhìn nhận về sự sống và cái chết ở đây được dựa theo khái niệm đầu thai.

Khi một người chết, họ sẽ được triệu hồi ra khỏi chiều không gian này, đến nơi vị thần mà họ tin vào, và tại đó, những việc làm trong cuộc đời họ sẽ được phán xét. Nếu vị thần đó hài lòng, thì họ sẽ được yên nghỉ trên những cánh đồng êm đềm. Còn nếu không, thì họ sẽ bị đày vào những chốn hoang vu gian khổ để xám hối. Và sau một thời gian, họ sẽ được tái sinh một lần nữa. Sau vô số lần tái sinh như vậy, sau khi linh hồn đã được tinh luyện đến trạng thái cao nhất rồi, người đó sẽ có thể bước trên nấc thang trở thành thần. Những anh hùng và vị thánh cao nhất sẽ có thể vượt ra khỏi chiều không gian của loài người và trở thành thần.

Tôi vẫn không hiểu rõ chuyện này lắm. Trong những thế giới đa thần của Nhật Bản và La Mã cổ đại, những cá nhân xuất sắc vượt trội sau khi chết sẽ được tôn thờ như thần thánh. Mục tiêu ở đây cũng là để trở nên như vậy sao?

Sảnh đường của ngôi đền vẫn tráng lệ như mọi ngày. Đã rất lâu rồi kể từ ngày tôi thức dậy lần đầu tiên ở đây. Trong quá trình lớn lên và học hỏi về thế giới này, tôi đã biết được tên của tất cả những vị thần được khắc hoạ trong những bức tượng này. Đây là những vị thần nổi tiếng nhất, những người đã tồn tại trên thế giới này từ rất lâu về trước.

Bức tượng miêu tả một người đàn ông oai nghiêm, trông rất trang trọng. Ông ấy vẫn còn trong tuổi thanh xuân, tay phải cầm một thanh kiếm trông giống như tia sét và tay còn lại cầm một cán cân.

Đó là thần công lý và sấm sét, Volt. Ông ấy là lãnh đạo của những thiện thần. Thần của thần và cũng là giám hộ của loài người, ông ấy cai quản những cơn mưa phúc lành, cũng như những tia sét—đòn thiên phạt của ông. Có rất nhiều người tin vào ông ấy, từ tầng lớp cai trị cho đến những người thường dân. Anh trai của ông, ác thần Illtreat, cai quản sự bạo ngược, và hai người họ thường xuyên đánh nhau một cách ác liệt.

Người phụ nữ với nụ cười hiền hậu đang bế một đứa bé trên tay và đứng trước hình ảnh những cây lúa đang mọc lên từ mặt đất—

Mẹ Đất Mater. Bà ấy là vị thần mà Mary thờ phụng, cai quản những món quà mà mặt đất ban tặng cũng như việc nuôi dạy trẻ em. Tương truyền bà ấy cũng là vợ của Volt. Những phước lành bà ấy ban thường có liên quan đến việc trồng trọt và nuôi nấng trẻ em, và những người sống ở vùng nông thôn đều rất tin vào bà ấy, cùng với Volt.

Một người đàn ông râu ria thấp nhưng lực lưỡng, với hình ngọn lửa đang nổi bùng lên sau lưng ông, hai tay cầm một cây búa và một cái kẹp—

Đó là thần của lửa và công nghệ, Blaze. Tương truyền ông ấy là tổ tiên của tộc dwarf (người lùn), tôi cũng thường thấy những bức phù điêu của ông ấy trong thành phố ngầm của người dwarf. Ông không chỉ được những nghệ nhân sùng bái mà còn rất nổi tiếng với giới chiến binh, tương tự như Volt, vì đã đề cao tầm quan trọng của tinh thần nồng nhiệt và ý chí luyện tập không ngừng nghỉ. Tiện thể, Blood đã chọn Blaze là vệ thần của mình.

Một thanh niên trẻ tuổi đang nở một nụ cười hoà nhã, tay cầm một ly rượu và vài đồng vàng, xung quanh là những hình trạm khắc tượng trưng cho gió thổi—

Thần của gió và sự giao thương, Whirl. Thuỷ tổ của loài halfling, một tộc người bé nhỏ nhưng sáng dạ và vui vẻ. Whirl là một người láu cá, cai quản việc buôn bán, giao thương, sự tự do, may mắn và những thứ tương tự, ông được thờ phụng bởi thương gia, những con bạc và các viễn khách. Những ngôi đền nhỏ thờ cúng Whirl thường được tìm thấy ở ven đường.

Một cô gái trẻ xinh đẹp mặc quần áo mỏng đang đứng trong dòng suối trong, nước ngập đến eo, một tay cầm cung, tay còn lại thì giơ ra chạm vào một sinh vật trông giống như tiên (fairy)—

Thần của nước và cây xanh, Rhea Silvia. Cô ấy là một nữ thần thất thường, được tương truyền là tổ tiên của loài elf. Cô cai trị biển xanh, sông suối, rừng rậm cùng tất cả những phước lành mà chúng ban lại, ngoài ra cô còn cai trị cả việc săn bắn cũng như các tinh linh nguyên tố nữa. Thợ săn, ngư dân, tiều phu—trong số những tín đồ của cô có rất nhiều người làm nghề có liên quan đến thiên nhiên. Người ta nghĩ cô là một vị thần thất thường có lẽ là vì cô có liên quan đến những thảm hoạ tự nhiên. À phải rồi, mặc dù tôi chưa bao giờ được tận mắt thấy chúng, nhưng tinh linh nguyên tố (elemental) cùng với tiên (fairy) cũng có tồn tại ở thế giới này, và cũng có một hệ thống ma thuật đặc biệt riêng để mượn sức mạnh của chúng.

Một ông lão chột mắt trông rất thông thái đang đứng trước một bia khắc gì đó, tay cầm một cây gậy và một cuốn sách đang mở—

Đây là vị thần mà Gus đã từng kể với tôi, người đã sáng tạo ra chữ viết bây giờ. Thần kiến thức, Enlight. Ông ấy là một vị thần có rất nhiều tín đồ trong số những người có học. Nghe nói con mắt còn nguyên vẹn của ông có thể nhìn thấy những thứ hữu hình, còn con mất đã mất thì có thể nhìn thấy những thứ vô hình. Vệ thần của Gus thật ra lại không phải là Enlight, thần kiến thức, mà là Whirl, thần gió. Theo như Gus nói, “Được cầm tiền đi phiêu du khắp nơi thích hơn là sống ẩn mình cùng những cuốn sách nhiều.”

Sáu vị thần này là những người được thờ cúng ở đại đa số vùng miền. Theo truyền thuyết, những vị thần này đã có một trận chiến tựa như trận Ragnarok với những ác thần, với kết cục là cả hai bên đều thất bại, và giờ họ đang dưỡng thương ở bên ngoài chiều không gian này. Tuy nhiên, tôi nghe nói rằng thỉnh thoảng họ sẽ gửi một thứ gọi là Echo xuống thế giới này, giống như một cơ thể tách ra từ họ vậy, để giúp dẫn dắt mọi người. Những Echo của thần, cả thiện lẫn ác này, đã xuất hiện rải rác trong những trang sử thi tôi từng được đọc qua truyện và thơ.

Tất cả những chuyện tôi được nghe kể này đều nằm ở một quy mô hoàn toàn khác hẳn. Tôi đã định sống một cuộc sống bình thường rồi. Chắc hẳn tôi sẽ chẳng bao giờ phải dính vào mấy chuyện này đâu. Trong khi suy nghĩ như vậy, tôi nhìn bức tượng với chiếc lồng đèn đã từng cuốn hút tôi đến kỳ lạ.

Một vị thần không rõ giới tính gì, xung quanh không có hình điêu khắc nào, đang cầm một chiếc lồng đèn cán dài trong tay. Con của thần sấm sét, Volt, và Mẹ Đất, Mater. Thần của ngọn lửa, người cai quản vòng luân hồi vĩnh cửu. Gracefeel.

Gracefeel khá giống với Tử Thần (Grim Reaper), với quyền điều khiển linh hồn và sự đầu thai. Nghe nói vị thần này sẽ xuất hiện trước linh hồn của người chết, và dùng chiếc lồng đèn để dẫn đường cho họ đến những cánh đồng của thần, cũng như đến kiếp sau. Không có nhiều chuyện kể về Gracefeel. Giới tính của vị thần này là một ẩn số, ngoại hình cũng không được miêu tả. Kể cả trong số các thánh thần, đây vẫn là một người kín đáo. Gracefeel hiếm khi ban chỉ dẫn, và những thánh thuật vị thần này ban qua việc giáng phước cũng không hữu dụng lắm.

Nếu lấy ví dụ, thì một tu sĩ của Mẹ Đất Mater sẽ có thể dùng giáng phước để khiến cho đất đai màu mỡ, giúp việc sinh đẻ an toàn cho cả mẹ lẫn con, hoặc ban sức khoẻ cho những em bé đang lớn. Thần sấm sét, Volt, có thể giáng phước để phán xét xem lời nói của người khác có đúng sự thật không. Những tu sĩ cấp cao còn có thể cầu nguyện để xin mưa rơi xuống một vùng đất đang hứng chịu hạn hán.

Giáng phước của Gracefeel, mặt khác, lại không có tác dụng thiết thực lắm mà chỉ có thể làm những việc như giúp linh hồn người chết được yên nghỉ và dẫn lối cho họ.

Trong thế giới này, thần thánh có ảnh hưởng trực tiếp đến thực tại. Chính tôi đã lớn lên bằng cách ăn cháo và bánh mì được tạo ra bằng giáng phước, nên tôi không hề nghi ngờ về chuyện này. Nếu một ngày nào đó bạn đột nhiên có khả năng giáng phước, thì đó sẽ là một sự kiện thay đổi số phận bạn. Đột nhiên bạn sẽ có khả năng chữa lành vết thương cũng như thực hiện đủ các phép màu khác, và bạn sẽ trở thành tâm điểm của những người xung quanh. Chẳng khác gì trúng xổ số vậy. Chính vì vậy nên nhiều người sẽ nghĩ đến những yếu tố thực dụng khác, ví dụ như loại giáng phước mà họ sẽ nhận được, khi chọn vệ thần. Bởi vậy nên Gracefeel không nổi tiếng lắm.

Cũng chẳng có gì lạ khi mọi người nghĩ vậy. Nếu ta chỉ được nhận một tờ vé xổ số, thì tất nhiên là ta sẽ muốn có một tấm vé với giải thưởng lớn nhất rồi. Lòng tin mà những vị thần nhận được bằng cách này sẽ trở thành sức mạnh của họ, và những vị thần càng trở nên mạnh mẽ thì sẽ có càng nhiều người tin vào họ hơn. Nó lại bắt đầu nghe giống như một bài giảng về khoảng cách giàu nghèo rồi nhỉ?

Đó chính là Gracefeel: một vị thần hạng hai, chỉ được nhắc đến sau sáu vị thần lớn kia. Có lẽ lý do khiến tôi bị Gracefeel cuốn hút đến vậy là vì tôi vẫn còn ký ức từ kiếp trước. Tôi không khỏi cảm thấy mình có mối liên hệ đặc biệt nào đó với vị thần này, người cai quản vòng chảy luân hồi vĩnh cửu của vạn vật.

Tôi nhìn quanh ngôi đền. Tôi sẽ bước sang tuổi thứ mười lăm vào ngày đông chí năm nay. Rồi tôi sẽ lập lời thề với một trong số những vị thần này, chọn họ làm vệ thần của mình… và rồi, khi xuân đến, có lẽ tôi sẽ rời khỏi ngôi đền này. Người sống cần phải trở về bên người sống. Cả ba người họ đều nghĩ như vậy, cứ như thể đó là điều hiển nhiên.

Tôi im lặng nhìn tay mình. Hai bàn tay này giờ đã khác rồi. Vết da đổi màu vì bị bỏng, chạy dài lên đến cánh tay tôi vẫn còn ở đó. Có những vết xước nhỏ và đất bám trên lòng bàn tay tôi, từ việc giúp đỡ Mary làm việc nhà và làm vườn. Vết mực, từ việc học cùng với Gus. Vết chai tay, từ những buổi luyện tập với Blood. Chúng không phải là bàn tay tôi có lúc nhỏ. Chúng không phải là bàn tay ốm yếu tôi có ở kiếp trước. Chúng là những bàn tay đã lao động, đã làm việc.

Tôi đúng là đã được dạy dỗ rất nhiều. Biết bao điều khác nhau. Mary từng kể với tôi rằng cô ấy không biết thế giới ngoài kia hiện như thế nào, chỉ có điều nó chắc chắn sẽ rất nguy hiểm. Cả Gus và Blood cũng không nói gì về xã hội bên ngoài. Tôi thậm chí vẫn còn chưa biết vì sao mình lại ở đây. Nhưng, ít nhất thì tôi vẫn biết chắc chắn được một điều.

Hai bàn tay này, hai bàn tay với những dấu tích không thể xoá nhoà sau biết bao bài học này, chứa đầy sự ân cần mà ba người họ đã dành cho tôi. Dù cho ngoài kia có nguy hiểm đến nhường nào, dù cho nó có khắc nghiệt đến mức nào đối với một người không rõ xuất thân, ba người họ đã dạy dỗ tôi đủ để giúp tôi sống sót rồi.

Một ngày nào đó… tôi muốn được quay trở lại đây. Và nếu có thể, thì quay lại cùng với bạn bè, hoặc một gia đình. Rồi tôi sẽ giới thiệu bọn họ với Blood, Mary và Gus. Đây là ngôi nhà nơi tớ lớn lên, tôi sẽ nói vậy, và đây là cha tớ, mẹ tớ, và ông tớ.

Liệu ba người họ sẽ nói gì khi thấy tôi quay trở lại nhỉ? Liệu họ có thấy vui khi nhìn thấy bạn bè và gia đình tôi không? Tôi sẽ đem gì về làm quà cho họ nhỉ?

Viễn cảnh trong tưởng tượng của tôi chứa đầy niềm hạnh phúc giản đơn đó.

“Nếu phải chọn, thì mọi người sẽ chọn vị thần nào ạ?” Tôi quyết định mình nên hỏi ý kiến ba người họ về việc chọn vệ thần xem sao.

Blood trả lời đầu tiên. “Trừ khi con đã quyết định được mình muốn làm gì, còn không thì ta sẽ lập một lời thề vô hại nào đó với Volt.”

“Ồ, ý kiến hay đó,” Mary đồng ý. “Có nhiều loại người khác nhau tin vào Volt, và ngài ấy cũng được xã hội tin tưởng nhất nữa.”

“Hừm, đúng vậy.” Kể cả Gus cũng đồng tình. “Một quyết định khôn ngoan… Đúng là hiếm có đối với Blood.”

“Biến đi.”

Gus đáp lại bằng cách khịt mũi một cách khinh bỉ.

“Nào, nào, nào, hai người. Thôi đi chứ.”

Blood càu nhàu, rõ ràng là vẫn còn bất mãn.

Gus ho một tiếng để hạ hoả tình hình rồi nói. “Whirl cũng không phải là một lựa chọn tồi, nhưng một số tin đồ của Whirl lại là con bạc hoặc quân trộm cắp. Ta đồng ý rằng nếu nói về việc được xã hội tín nhiệm thì Volt ở trên một bậc. Ông ấy đúng là sự lựa chọn tốt hơn.”

Cả ba người họ nhanh chóng đồng tình chọn Volt, thần của thần, người cai quản công lý và sấm sét.

“Con ngạc nhiên khi thấy mọi người dễ dàng đồng ý như vậy đấy.”

“Con khó mà mắc sai lầm được khi chọn Volt,” Gus thẳng thắn nói. “Đó là sự thật hiển nhiên rồi. Với lại đâu phải là sau này con không thể thay đổi lại được đâu.”

Blood gật đầu. “Nếu như con ước mơ trở thành, ví dụ như, nghệ nhân hoặc học giả chẳng hạn, thì lại khác, nhưng làm sao mà con có thể mơ được như vậy khi con còn chẳng biết thế giới bên ngoài ra làm sao?”

“Vậy nên tốt nhất là con nên giữ cho mình luôn có nhiều lựa chọn,” Mary ngẫm nghĩ, “vậy nên đối với ta thì Volt là tốt nhất, sau đó có thể là Mẹ Đất Mater.”

Mấy cuộc nói chuyện về việc “không cần phải thu hẹp lựa chọn của mình lúc này đâu” và “chọn cái gì để sau này dù con có chọn gì cũng không gặp bất lợi” này bắt đầu làm tôi cảm thấy như mình đang chọn nghề nghiệp vậy.

Chọn một trường có chương trình học bình thường thôi—vậy là an toàn nhất. Kiểu vậy.

“Vâng, con sẽ ghi nhớ điều đó. Với cả con nên thề như thế nào? Trong ‘Truyện về Berkeley Can Đảm’ mà chú từng kể con, ông ấy đã thề dưới thanh kiếm sét của Volt rằng mình sẽ tiêu diệt hết mọi cái ác.”

“À…” Blood nghe có vẻ lo lắng. “Đó là một sử thi huyền thoại rồi. Đừng có mà ảo tưởng rồi lập một lời thề như vậy nghe không? Một lời thề mạnh sẽ giúp dễ nhận được sự bảo hộ hơn, nhưng con sẽ bị vướng vào một số phận chông gai đó. Trở thành anh hùng hoặc là chết, cơ bản là vậy.”

“Chắc hẳn thần thánh thấy mấy tên ngốc như vậy dễ dàng chịu đâm đầu vào rắc rối hơn,” Gus nói.

Vậy là còn có những ý kiến như vậy về việc lập lời thề sao. Không biết cái “số phận chông gai” này nó đúng đến mức nào, nhưng tôi vốn đã chẳng muốn lập một lời thề khó khăn như vậy rồi. Tôi chẳng hề ngông cuồng nghĩ rằng mình là một người đặc biệt chỉ vì có ký ức từ kiếp trước, và tôi cũng chẳng muốn trở thành “anh hùng” làm gì.

“Phải, một người bình thường thường sẽ thề kiểu như…” Mary nghĩ ngợi một lát. “’Tôi thề sẽ sống và làm ít việc xấu nhất có thể,’ kiểu vậy.

Gus bổ sung thêm. “’Tôi sẽ quan tâm đến hàng xóm,’ ‘Tôi sẽ không nói dối,’ ‘Tôi sẽ quý trọng gia đình mình’… và nhiều cái nữa.”

Quý trọng gia đình mình… nghe hay đó. Sau khi tổng hợp tất cả những điều mình vừa nghe được, tôi nói, “Vậy về cơ bản, con chỉ cần thề kiểu như ‘Tôi sẽ sống một cách đứng đắn và không làm việc gì xấu’?”

“Đúng vậy, kiểu như thế,” Gus nói. “’Nhưng đôi khi cũng có người lập lời thề phù hợp với tính cách của vị thần mình chọn.”

“Ưmm, ví dụ như?”

“Àà, để xem nào,” Blood nói, “Ta thề với Blaze là mình sẽ tập luyện hàng ngày và mạnh lên. Blaze rất quý trọng tính kỷ luật và một kỹ năng tài giỏi.”

“Lời thề của ta với Mater có hơi trừu tượng hơn,” Mary nói tiếp. “Ta thề sẽ sống đúng theo ý muốn của bà ấy.”

Đúng là chúng hợp với hai người họ thật.

“Còn ta,” Gus nói, “mấy cái thứ vệ thần với lời thề các thứ này trông có vẻ lằng nhằng quá. Ta chọn Whirl vì nó có vẻ là lựa chọn thoải mái nhất, và ta thề là mình sẽ làm những gì mình muốn và sống một cuộc đời thật vui vẻ.”

Già Gus đúng là rock ‘n’ roll quá.

Cuộc nói chuyện đến đó là kết thúc. Mary đi ra hồ để giặt rũ, còn Blood thì vào rừng kiếm củi. Mùa thu sắp kết thúc rồi. Không phải là tôi nói phỏng theo truyện ngụ ngôn gì đâu, nhưng việc chuẩn bị cho mùa đông quan trọng lắm.

Còn tôi, thì đang ngồi học cùng với Gus. Tôi đã luyện tập nhị bội chú hết lần này đến lần khác, và trở nên thành thạo hơn. Những bài học của Gus giờ cũng rất thực tiễn.

“Nghe kỹ này, điều này quan trọng lắm. Khi con cần dùng phép thuật trong một tình huống mà đối thủ có thể tấn công con trong dưới năm giây, đừng bao giờ tốn thời gian suy nghĩ. Hãy dùng một phép thuật theo phản xạ, một phép nào đó mà con đã luyện cho cơ thể ghi nhớ trước rồi. Sau này con sẽ nhận ra rằng đa phần pháp sư trên thế giới toàn nặng về lý thuyết. Họ lúc nào cũng suy nghĩ trước. Rất nhiều người trong số họ không thể làm điều mà ta vừa bảo con đâu.”

Gus nói rằng đã có vô số người mất mạng vì lý do đó rồi, bị bắn hoặc chém chết trong khi đang do dự không biết nên dùng phép gì. Có những người còn tự giết mình khi chọn dùng một Từ Ngữ mà mình không quen và mắc sai lầm.

Nhưng cũng chẳng có gì lạ lắm. Đa phần pháp sư đều là những học giả trong thành phố hoặc người làm công mà. Những người như tôi và Gus, học phép thuật với mục đích sử dụng trong chiến đấu, đều thuộc thiểu số.

“Chỉ dùng mấy kế hoạch khôn ngoan khi nào con có thời gian để xem xét nó. Khi chạm trán bất ngờ, đừng bao giờ tốn thời gian nghĩ mấy kế hoạch linh tinh. Tấn công kẻ thù bằng phép thuật mà con quen dùng nhất. Những chuỗi phép thuật phức tạp đi kèm với rủi ro sụp đổ hoàn toàn nếu một mắt xích bị phá vỡ. Phép thuật càng đơn giản thì càng vững chắc.”

Cách suy nghĩ của Gus về chiến thuật cũng rất giống với những bài học của Blood. Có lẽ ai cũng như vậy nếu kỹ năng của họ được rèn rũa trên chiến trận.

“Với cả Will này, con sẽ rất có lợi nếu có thể chọn khi nào nên sử dụng Từ Ngữ và khi nào thì không. Bởi vì con còn có thể lựa chọn chiến đấu bằng những kỹ thuật Blood đã dạy.”

Không biết là vì mana có tồn tại, hay là vì thế giới này vốn đã vậy rồi, nhưng khi luyện tập ta có thể thu được kết quả tốt hơn nhiều ở thế giới này so với thế giới trước của tôi. Sức mạnh của một chiến binh khi ở tình trạng tốt nhất khá là quái vật.

Lấy ví dụ Blood đi. Khi ông ấy không kiềm sức lại để giúp tôi luyện tập, ông ấy có thể dễ dàng bẻ cong thanh sắt dày mà tôi dùng để tập vung kiếm, và ông có thể chạy nhanh và linh hoạt như một con chim én. Cũng hơi đáng sợ khi nghĩ rằng sức mạnh của tôi đang bắt đầu đuổi theo ông ấy rồi. Chẳng mấy chốc mà tôi thành siêu nhân mất.

Mặt khác, phép thuật luôn đi kèm với rủ ro tự huỷ hoại bản thân nếu ta mắc sai lầm khi viết hoặc phát âm. Chính vì vậy nên khu vực khoảng mười mét quanh đối thủ được coi là lãnh địa dành riêng cho chiến binh.

Tuy nhiên, Gus, thì lại biết một vài “mánh khoé nham hiểm, chơi xấu” để đối phó với tình huống đó. Không biết đã có bao nhiều người ông ấy hạ trong lãnh địa của chiến binh rồi.

“Tất nhiên, tốt nhất vẫn là không phải đánh nhau ngay từ đầu, nhưng nếu như tình hình mà xấu đi, thì con hãy quyết định chính xác vào.”

Tôi gật đầu.

“À, còn nữa,” Gus nói. “Mấy năm qua ta có tập tành về thiên văn học một tí, và ta tìm ra được ngày đông chí tiếp theo là khi nào rồi.”

Tôi mở to mắt khi nghe vậy. Ông ấy đã nghiên cứu nó cho sinh nhật lần thứ mười lăm của tôi sao?

“Này… Will. Ta có một yêu cầu.”

“Một yêu cầu?”

“Ừm,” ông ấy gật đầu. “Blood chắc sẽ xin đấu một trận một đối một với con vào ngày trước đông chí, hoặc khoảng lúc đó. Một trận đấu hết sức, không có nhường nhịn gì cả, và Mary sẽ đứng trực để hồi phục và chữa thương bằng giáng phước.”

Tôi không thấy ngạc nhiên khi nghe vậy. Tôi cũng đã nghĩ rằng có khả năng Blood sẽ làm vậy. Và tôi cũng đã sẵn sàng chấp nhận lời mời đó.

“Will…” Biểu cảm của Gus trông rất nặng nề. “Liệu con có thể… thua trận đó, sao cho Blood không phát hiện ra không?” Những lời ông ép ra khỏi miệng nghe vô cùng thống khổ.

“Tại sao?”

Tôi nhớ lại lần mình suýt bị giết bởi Gus. Cả lúc đó cũng vậy, tôi không biết lý do đằng sau hành động của Gus. Không hề nói với tôi một lời nào, ông ấy đã suy ngẫm về một hoàn cảnh mà tôi không biết, và đi đến một kết luận khiến cho ông ấy cố giết tôi. Và rồi, vì lý do nào đó, ông ấy lại dừng tay.

“Tại sao lại làm vậy?”

“Điều này quan trọng lắm.”

“Không.” Không phải nó.

“Không phải cháu. Mà là ông cơ! Tại sao ông chẳng bao giờ chịu nói với cháu vậy?!” Tôi còn không nhận ra là mình đang tức giận quát ông ấy.

“Cháu biết ông không phải là một tên ngốc! Cháu biết ông sẽ không dẫm đạp lên cảm xúc người khác mà không có lý do!” Tôi cố túm cổ áo ông ấy, nhưng chỉ nắm được không khí.

Tôi ngước đầu lườm ông ấy, đang trôi nổi giữa không trung. “Cháu có thể làm những gì ông nhờ nếu như ông chịu giải thích cho cháu nghe! Cháu sẽ thua cho ông! Cháu sẽ dâng mạng mình cho ông, giống như cháu đã làm lúc đó! Vậy tại sao ông không nói gì với cháu?! Liệu cháu không đáng tin đến vậy đối với ông sao?! Liệu cháu không quan trọng đến vậy đối với ông sao?!” Những suy nghĩ tôi đã giữ chặt trong tim mình tuôn trào ra như một con đập bị vỡ.

Mặt Gus trông rất đau lòng, và nó vẫn không đổi khi ông ấy nói. “Xin lỗi, Will… Ta không thể. Xin lỗi.”

Tôi cúi đầu và nắm chặt tay. Tôi phải cố gắng lắm mới rặn ra được những từ tiếp theo.

“Vậy sao.” Vậy chuyện là như thế sao.

“Thế… Thế thì đừng mong cháu sẽ giúp ông.” Lời nói của tôi đẩy ông ấy đi. Tôi không thể thua một trận đấu quan trọng như vậy khi thậm chí còn chẳng biết lý do. “Những lời ông vừa nói… Cháu sẽ vờ như mình không nghe thấy.”

Đây sẽ là cơ hội cuối cùng của tôi để đấu với Blood trong trạng thái khoẻ mạnh nhất, không bị ngăn cản bởi thứ gì. Với tư cách là một chiến binh, tôi muốn cố hết sức mình, và tôi chắc chắn Blood cũng nghĩ như vậy. Cố tình thua như thế, trong khi còn chẳng biết lý do vì sao… Tôi không thể làm vậy được.

Nhưng tôi sẽ không nói cho ai biết. Tôi không nghe thấy gì cả. Đơn giản vậy thôi.

Đó là lời cuối cùng của tôi, và cả Gus và tôi đều không nói gì thêm nữa.

Vài ngày sau, Blood thông báo cho tôi biết về bài kiểm tra cuối cùng của mình.


Xin chào! Đây là website chính thức của nhóm dịch truyện ValvrareTeam. Mấy đứa cùng sở thích cùng làm với nhau thôi. Light Novel trên đây được chúng tôi dịch hoàn toàn miễn phí ra phiên bản tiếng việt, tuy nhiên chúng tôi không khuyến khích các bạn sao chép lên website khác. Cảm ơn vì đã quan tâm."
© 2017 ValvrareTeam. Mã nguồn sử dụng Wordpress. Máy chủ sử dụng Vultr
Made with in Novel