Tập 1 – Chương 2: Kiếm Thuật

 

 

Kimberly, ngôi đền mê hoặc—khó mà có thể nói được chính xác cái công trình khổng lồ, bí ẩn này là gì. Quan điểm đưa ra khác nhau ngay cả trong giới sinh viên nghiên cứu địa phương, và thậm chí còn có một lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn được biết đến với tên gọi “nghiên cứu cấu trúc Kimberly.”

Nó giống như kiểu một pháo đài thì đúng hơn là trường học, với sự trang hoàng lộng lẫy ở tường ngoài và tháp cao dường như xuyên thủng những tầng mây. Vì vậy, nhiều người tin rằng đây là kiến trúc Cygan, phổ biến vào thế kỷ thứ tám. Trong những bức tường của nó, ta sẽ tìm ra ít nhất hai mươi sảnh tiệc lớn và hơn ba trăm phòng nhỏ khác, tuy là số lượng của chúng dao động tùy từng ngày, và các phòng mới vẫn thường được phát hiện. Kích thước của công trình nhìn từ ngoài rõ ràng không khớp với bên trong của nó—và đó là còn chưa kể vô số những nơi bí ẩn náu mình trong góc tối của cung điện ma thuật này.

 

Trong lúc đó, ký túc xá của học sinh lại nằm khá xa so với trụ sở chính. Tại phòng 106 của tòa tháp năm tầng dành cho con trai, Oliver chớp mắt tỉnh dậy trên một chiếc giường chắc chắn đã nằm ở đó suốt hàng thế hệ.

“…Mmm?”

Điều đầu tiên cậu cảm nhận khi mở mắt là sự khó hiểu. Trước khi đi ngủ, cậu đã đặt một chiếc đồng hồ bên cạnh giường. Kim của nó hiện đang chỉ 9:27 AM. Nếu đó là sự thật, thì không những cậu đã ngủ quên ngay ngày học đầu tiên, mà lại còn muộn kinh khủng. Đồng hồ sinh học trong cơ thể đang mách bảo cậu có gì đó sai sai. Cậu bình tĩnh nhấc cái đồng hồ và xem xét nó. Mắt nhắm mắt mở nhìn đồng hồ, cậu nhận thấy có thứ gì đó đang bám vào kim giờ và kim phút. Cơ thể chúng dài, mỏng, và hơi trong suốt, với hai bên có gì đó nhô ra như kiểu cánh hoặc vây. Hài lòng, cậu gật đầu.

“Woops—quên mất ở đây có bọ đồng hồ,” cậu nói, hà hơi một cái. Chỉ vậy là đủ để đám sinh vật đang bám lấy kim đồng hổ tản mác một cách thương tâm. Mạo thời gian, như cách chúng thường được gọi, là một chủng tộc tiên bậc thấp chuyên đi nghịch kim đồng hồ. Đa phần chúng thường được tìm thấy ở những nơi có độ tích tụ hạt ma thuật cao.

Phải lấy kính đậy lại thôi, Oliver nghĩ trong lúc bật ra khỏi giường và bắt đầu chuẩn bị cho ngày mới. Trong lúc mặc áo, cậu nhìn quanh phòng. Một ánh sáng mờ le lói qua bức màn. Ở giường bên cạnh là bạn cùng phòng của cậu, Pete, dễ ngủ và có tật ngáy nhẹ.

“Ha-ha… Coi chừng cảm lạnh đấy, Pete.”

Cậu chàng hẳn đã trằn trọc và trở mình trong đêm, bởi tấm chăn bị bung ra, để lộ bụng cậu chàng. Khi Oliver đã mặc đồng phục và dắt athame bên hông xong, cậu nhẹ nhàng kéo chăn lên để không đánh thức anh bạn. Nếu được thì, cậu muốn kết thân với người bạn cùng phòng ủ rũ này. Cậu vẫn còn nhớ vẻ mặt gắt gỏng của Pete tối qua khi biết cả hai người sẽ chung một phòng.

“Rồi, đi thôi.”

Oliver chỉnh trang lại và rời khỏi phòng. Vẫn còn hơi sớm để thức dậy, nhưng như này thì cậu có thể thoải mái đi khám phá sân trường. Mức độ tự do cao như vậy là một trong những tiêu chí của Kimberly—cũng đồng nghĩa với việc cậu phải chịu trách nhiệm cho sự an toàn của chính mình.

Biết vậy, cậu bước vào sảnh kí túc. Có vẻ xung quanh không có học sinh nào khác, ở đây yên ắng như thư viện. Hầu hết các học sinh mới chắc vẫn còn ngủ, do kiệt sức từ hôm qua. Không ít người có khả năng đã trở thành nạn nhân của bọ đồng hồ và bị lừa cho đi ngủ tiếp. Oliver tính sẽ trở lại và gọi họ dậy sau.

“Dậy sớm hả nhóc?”

Khi cậu lại gần cánh cửa sau ở cuối sảnh, đột nhiên nhưng không mấy ngạc nhiên, một cái miệng xuất hiện trên tay nắm cửa. Anh chị họ của Oliver bảo cái tay nắm cửa này có tính đa nghi để nó có thể theo dõi sự ra vào của học sinh. Kết quả, Oliver nói với nó mà chẳng tỏ ra ngạc nhiên chút nào.

“Tôi là Oliver Horn, năm nhất. Tôi định đi dạo quanh ký túc xá.”

“Ra vậy. Thích làm gì thì làm, nhưng đừng có mơ mà bước vào ký túc xá nữ.”

Và với lời cảnh báo nhẹ nhàng đó, cánh cửa tự động mở ra. Oliver cúi mình, rồi bước ra ngoài. Đến cả sự tự do được ca tụng của Kimberly cũng phải có ranh giới ở đâu đó.

Bên ngoài, Oliver nhìn về phía trời đông. Mặt trời vẫn chưa mọc; cậu đoán giờ chắc khoảng hơn năm giờ sáng. Không khí trong lành, và bầu trời vẫn trong như hôm trước.

“…Haah…”

Khu vực này có nồng độ hạt ma thuật đậm đặc hơn bất cứ nơi nào cậu từng sống, đến mức nhịp tim cậu có chút tăng khi cậu hít một hơi sâu. Oliver dạo vòng quanh tòa ký túc, hít vào thở ra để làm quen với nó.

Hơn một ngàn học sinh nam, từ năm nhất đến năm năm, sống trong hai tòa tháp này, nên chỉ riêng một cái trông cũng bự chảng. Ký túc bên con gái cũng khoảng cỡ tương tự. Tuy nhiên, năm sáu và năm bảy, lại có ký túc riêng ở chỗ khác. Bản thân một số không ít những học sinh học đến năm sáu năm bảy trên thực tiễn là những nhà nghiên cứu toàn lực toàn tâm. Họ có thể yêu cầu những sắp xếp phù hợp cho ngủ nghỉ, nghiên cứu, hay bất cứ gì khác họ cần.

Khi đã có cái nhìn sơ qua về phía bên ngoài tòa nhà, Oliver liền hướng đến khu vườn nằm giữa ký túc xá nam và nữ. Không có cây cối gì cả, chỉ một đài phun nước lớn vây quanh là mấy cái nhỏ hơn cùng băng ghế để mọi người ngồi nói chuyện. Cậu nghe nói rằng nơi này không những là nơi để học sinh hội nhập, bất kể năm mấy, mà còn là chốn hò hẹn cho các cặp tình tứ.

“Vườn cũng rộng hơn mình tưởng nữa… Hừm?”

Khi đến chỗ đài phun nước trung tâm và nhìn quanh, cậu nhận thấy một bóng người ở một trong sáu đài nhỏ hơn. Ngay khi tập trung để nhìn rõ hơn, Oliver gần như ngã ngửa ra vì kinh ngạc.

“Phew! Lạnh và trong! Nước này đúng là xuất sắc!”

Cậu nghe tiếng nước bắn khi mà gái Azian múc nước từ đài phun bằng một cái xô và tự dội lên đầu mình hết lần này đến lần khác—hoàn toàn khỏa thân từ hông trở lên.

“…Mm? Ngài đấy phải không, Oliver? Cũng dậy sớm nhỉ, ra vậy!”

Nhận ra cậu, Nanao vẫy tay đầy hứng khởi. Ngay khắc đó, Oliver lao về phía trước nhanh hết sức có thể, xoay người cô lại, và vừa niệm phép vừa chĩa athame về phía kí túc xá nam.

“Covell!”

Tức thì, sắc đen bắt đầu sủi bọt ra ngay trước mặt cậu, bám dính vào nhau tạo thành một tấm màn đen che phủ cả hai người họ. Nanao bị ngợp trước màn biểu diễn ma thuật tai nghe mắt thấy.

“Ôooo! Một thần chú tạo ra tấm chắn đen này ư? Ngài đúng là pháp sư mà!”

“Quan trọng hơn!” Oliver hét lên mà không quay người lại, cố gắng duy trì tấm chắn phép mặc cho nhịp tim nhanh dần của mình. “Cậu đang làm cái quái gì vậy hả?! Đây là chốn công cộng đấy! Con trai cũng vào được! Lỡ có ai thấy cậu cởi trần như này thì sao?”

“? Ủa, thì có gì phải giấu giếm?”

“Có thể cậu bị đứt dây thần kinh xấu hổ, nhưng hãy nghĩ cho người khác đi chứ! …Ghét phải nói cơ mà, không lẽ như vậy là bình thường ở Azia? Con gái tắm ở nơi công cộng mà chẳng thèm che đậy gì cả đúng không?!”

“Không, ở đất nước tôi, phụ nữ thậm chí còn che thân cả khi ở với những phụ nữ khác. Nhưng trước khi trở thành phụ nữ, tôi là một chiến binh,” Nanao nói không biết xấu hổ, lại dội mình lần nữa. Oliver há hốc mồm trong lúc cô nói tiếp. “Vả lại, đây không phải tắm. Mà là nghi lễ gột rửa. Trước khi xông pha vào một trận chiến khác ở đây, tôi nghĩ mình nên rửa sạch máu từ trận chiến trước. Sao ngài không tham gia cùng tôi nhỉ, thưa quý ngài? Việc này sẽ xua đi tất cả suy nghĩ lung lạc và giúp tâm ngài thanh sạch.”

“Vậy nó kiểu như là nghi thức tắm rửa? Ngay cả thế, cậu cũng không nên dùng nước ở đài—A! Ê! Đừng có cử động chứ?!”

Tấm màn đen không thực sự to, ấy vậy Nanao dường như chẳng đếm xỉa, bởi cô cứ tự nhiên cử động. Trong cơn hoảng loạn, Oliver vô tình nhìn ra sau lưng—và ngay lập tức đứng hình, hơi thở nghẹt trong cổ họng.

 

 

Làn da cô lấp lánh dưới ánh mặt trời—và tạc vào nó là vô số những vết sẹo.

“…Sao cậu có những cái đó vậy?”

“Hửm? À, chúng là vết tích từ những trận chiến trước ấy mà. Nếu chúng xúc phạm ngài, thì cho tôi xin lỗi.”

“Ờ… không…”

Oliver không tài nào thốt ra được những câu hỏi đang nảy lên trong đầu mình. Trận chiến nào cơ? Một cô gái chạc tuổi cậu đã phải trải qua những gì để mang nhiều sẹo như thế? Ở quê nhà cô ấy đã có chuyện gì xảy ra? Mà cậu cũng chẳng thân với cô ấy lắm để mà hỏi.

Ấy vậy, cậu không thể rời mắt. Những cơ bắp giãn ra dưới làn da sẹo theo từng nhịp thở, cơ thể cứng cáp như thanh kiếm trải qua tôi luyện không ngừng. Mana tinh khiết chảy theo từng nhịp đập của trái tim cô gái. Và đưa tất cả lại với nhau là nhân cách thẳng thắn và bộc trực. Chỉ trong vài giây, Oliver đã có thể thoáng chiêm ngưỡng bức tranh toàn cảnh này. Rồi thì…

 

Cứ tự nhiên. Chiêm ngưỡng đi, Noll. Giờ là lúc rồi đấy.

 

Có một lần, cậu đã từng được chứng kiến một vẻ đẹp hùng vĩ tương tự—tình cờ thôi, hai khung cảnh như hợp vào nhau trong tâm trí cậu.

“…!”

Thở hắt một hơi, cậu đưa mình trở lại thực tại và xé mắt ra chỗ khác. Cậu quay lưng về phía cô trong lúc cố lấy lại vẻ bình tĩnh của mình. Sau nhiều lần hít thở sâu, Oliver cuối cùng cũng thốt lên được.

“…Cái ‘gột rửa’ gì gì đó này—lần này cậu cứ làm cho xong đi, nhưng ít nhất thì cũng nhanh chóng lên.”

“Hiểu rồi. Nếu vậy thì, đây sẽ là đợt cuối.” Nanao dường như không nhận ra sự ảnh hưởng của cô lên cậu. Cô dội nước xuống từ đỉnh đầu và vẩy ra những giọt lóng lánh, rồi đặt cái xô lên thành bể để cho thấy mình đã xong. Đột nhiên, cô ngừng lại.

 

 

 

 

“…Mm. Chết. Tôi để khăn ở trong phòng—”

“Dùng cái này đi!”

Thấy được chuyện này sẽ thành ra thế nào, Oliver liền ngắt lời và quăng áo choàng của mình cho cô. Nanao bắt lấy nó và nghiêng đầu.

“Cái này? Oliver, đây là áo choàng của ngài mà, phải không?”

“Cứ dùng đi! Tớ thì muốn sấy khô cậu bằng phép gió cơ, nhưng nếu làm thế, thì không giữ được cái lá chắn này!” Cậu gằn giọng để che đậy sự không thoải mái của mình.

Gái Azian khúc khích và gật đầu. “Ngài đúng là người thú vị đấy, Oliver ạ. Nếu ngài cứ nài nỉ, thì tôi xin phép dùng… Nhưng ngài có cái thay thế không?”

Oliver im lặng không trả lời.

Nanao bật cười nói, “Vậy là giờ tôi nợ ngài một ân huệ lớn rồi.”

 

 

Học sinh Kimberly ăn uống ở trường hàng ngày ngoại trừ các ngày lễ. Theo luật, họ có thể chọn ăn ở bất cứ cái nào trong ba nhà ăn tự phục vụ lớn, nhưng nhờ có một luật bất thành văn, phần lớn học sinh từ năm nhất đến năm ba ăn ở nhà cấp độ thấp nhất, tòa Tình Bằng Hữu.

“Chào buổi sáng, Guy, Pete, và Oliver. Đêm qua các cậu ngủ ngon chứ?”

Tình Bằng Hữu vốn đã đầy ắp các học sinh đang ăn sáng khi ba cậu chàng tới. Chela gọi họ, nên họ bèn vào ngồi cùng nhỏ và mấy gái khác ở bàn.

“Ừa, có. Thực ra có khi còn hơi ngon quá. Đùa, lẽ ra giáo viên phải nói nơi này có mạo thời gian chứ,” Guy vừa càu nhàu vừa dụi đôi mắt ngái ngủ. Cậu ta gần như đã định quay trở lại ngủ tiếp khi được Oliver cứu. Chela có vẻ tinh ý nhận ra điều này và mỉm cười.

“Tốt hơn hết cậu nên sớm bỏ cái suy nghĩ ngây thơ như vậy đi. Vì đây là học viện ma thuật, nên việc vướng phải không ít những trở ngại ma thuật mỗi ngày là chuyện đương nhiên. Nếu muốn biết cách xử lí cái nào, thì hãy hỏi giáo viên hoặc bạn.”

“Ừa, cũng phải… Àiii, mới sáng ra đã nghiêm khắc.” Guy rên rỉ trước lòng tự trọng bị tổn thương của mình.

Katie đang bận cắt trứng chiên trong lúc hỏi, “Mạo thời gian hở? Trong phòng bọn này thì không có. Cơ mà Nanao đúng là có dậy siêu sớm thật.”

“Tôi không biết ‘mạo thời gian’ là gì, nhưng cơ thể tôi buộc phải thức dậy lúc sáu giờ mỗi bình minh. Tôi không thể bỏ tập luyện, không thì kĩ năng sẽ thui chột mất,” Nanao vừa nói vừa đánh chén cái đĩa đầy xúc xích, bánh, và mấy đồ ăn sáng khác. Oliver có chút nhẹ nhõm khi trông thấy cảnh—kĩ năng dùng dao nĩa của cô không chắc tay, nhưng ít ra thì vẫn còn giữ cung cách tối thiểu.

“Ồ!” Guy thốt lên. Cậu ta mất một lúc lâu hơn Oliver để nhận ra sự thay đổi lớn ở cô. “Nanao, nay cậu có đồng phục nè.”

“Đúng vậy! Nó đã được chuyển đến phòng tôi tối qua, đúng là vậy. Váy đã được đổi thành hakama, và nhìn xem, độ dài đúng là hoàn hảo.”

“Tớ dạy cậu ấy cách mặc đó. Trước là samurai, giờ là pháp sư rồi. Trông tuyệt dữ!” Katie nói, ngừng ăn để khen phong cách của Nanao. Điều này làm Oliver tò mò.

“Vậy tớ và Pete là bạn cùng phòng… Hai cậu cũng vậy luôn hả?”

“Ừ, đúng vậy. Vui quá đi mất!”

Katie và Nanao vui sướng đan tay vào nhau. Oliver không khỏi mỉm cười. Có vẻ họ đã khá thân thiện với nhau từ bữa tiệc hôm qua, và dành cả đêm với nhau chỉ càng đưa hai người lại gần nhau hơn nữa. Phía đối diện, Guy khoanh tay nghĩ ngợi trong lúc nhìn họ.

“Thôi nào, không thể là tình cờ được, đúng không?” cậu hỏi. “Nghe nói giáo viên đã thay đổi sự xếp phòng trong bữa tiệc chào mừng.”

“Vì hai cậu vốn xuất thân từ nước ngoài, nên vốn đã có điểm chung rồi. Như này thì cả hai sẽ ít cảm thấy bị lạc loài hơn. Hợp lí.”

“Hừm. Chắc là họ cũng có lưu tâm chút đỉnh, ha?” Rồi Guy hướng ánh nhìn từ hai đứa con gái sang chàng trai ngồi bên cạnh, “…Mà nhân tiện, Oliver. Do tớ bị ảo, hay áo choàng cậu có vẻ ướt vậy?”

“Chắc chắn là bị ảo rồi,” Oliver đáp lại cộc lốc và không nói thêm gì nữa. Guy nghiêng đầu đầy nghi hoặc.

 

Và rồi, cuối cùng, cũng đến tiết học đầu tiên. Hơn năm mươi học sinh quy tụ trong một căn phòng lớn không bàn không ghế. Trước mặt họ, vị giáo viên đầu tiên xuất hiện trong chiếc áo choàng trắng.

“Mm. Đông đủ hết rồi hả? Tốt. Bắt đầu thôi. Chào mừng đến với lớp kiếm thuật.”

Một người đàn ông trung niên đẹp mã mới chớm tuổi ba mươi. Mấy đứa con gái ré lên vui sướng, nhưng tiếng “Ồ!” của Nanao thì lại vì một lí do khác. Oliver biết cô đang nghĩ gì. Người ta bảo rằng những người rèn luyện đàng hoàng có thể hiểu được kĩ năng của kiếm sư chỉ từ bước chân của họ.

“Ta là giáo viên của các trò, Luther Garland, và sẽ dạy các trò toàn bộ kiếm thuật trong vòng ít nhất bốn năm tới, có khả năng là bảy. Các trò có thể gọi ta là Thầy Garland. Ta cũng không phiền Sư phụ Garland đâu, nhưng ta không định quá khắt khe về lễ nghĩa. Như các trò thấy, ta cũng chẳng quan tâm đến chúng cho lắm.”

Garland thật thà nói, như đang cố giải tỏa tinh thần cho học sinh. Sau khi thấy mình hiệu quả thế nào, ông nói tiếp.

“Nào, giờ thì chúng ta chưa rút athame ra vội—theo truyền thống ngày đầu tiên phải bắt đầu từ phần giới thiệu. Nghe có vẻ chán, nhưng chúng ta cần phải lược qua lịch sử kiếm phép. Có ai có thể giải thích nguồn gốc của chúng không?”

“Có em, thưa Sư Phụ Garland!”

Ngồi cạnh Oliver là Pete, người giơ tay lên nhanh hơn bất cứ ai khác.

Garland mỉm cười với cậu. “Năng lượng tuyệt đấy, Trò Reston. Tốt lắm, sân khấu là của trò. Cứ thong thả.”

Mặt Pete sáng bừng khi nhận được sự đồng ý. Sau một hồi hắng giọng, cậu giải thích:

“Ở thời hiện đại, chúng ta mang athame và đũa phép trắng, nhưng các pháp sư ngày xưa chỉ dùng gậy phép—thứ chúng ta gọi là đũa phép trắng. Đó là tất cả những gì họ cần để niệm phép, cho dù không có kiếm. Việc mang kiếm thực chất được coi là một sự bôi bác đối với pháp sư, bởi chúng là vũ khí của người thường, những kẻ không thể nếm trải sự huyền bí.”

“Đúng. Tiếp tục.”

“Vâng, thưa ngài. Mãi cho đến khoảng bốn trăm năm trước, năm 1132 Lịch Đại Niên, thái độ này mới bắt đầu thay đổi. Đây là năm mà một kiếm sĩ người thường chém gục Đại Thuật Sĩ Wilf Badderwell. Trước đó đã từng có vài pháp sư bị giết bởi người thường, nhưng có hai điều khiến sự cố này đặc biệt. Thứ nhất đó là Badderwell là Cơn Lốc Darmwall trứ danh. Điều còn lại là—là, ờm…” Pete lắp bắp. Cậu đang nói quá nhanh và gặp trục trặc trong việc tìm câu kế tiếp. Trước khi cậu kịp hoảng loạn, thì Oliver thì thầm:

“…Đấy không phải một vụ ám sát.”

“P-phải rồi! Điều còn lại đó là đó không phải một đòn tấn công bất ngờ, mà một trận đấu sòng phẳng giữa hai chiến binh sẵn sàng.”

“Ta ấn tượng việc trò nhớ biệt danh của Badderwell đấy. Tiếp tục.”

“Vâng, thưa ngài! Trước sự cố này, người ta tin rằng người thường chỉ có thể giết pháp sư nếu có trong tay yếu tốt bất ngờ. Xét cho cùng, việc khiến cho một người trở nên bất lực chỉ cần đến một phép nhanh chóng, cơ bản. Nhưng những pháp sư chứng kiến cái chết của Badderwell nhận ra rằng điều này quá chậm.”

Oliver thầm đồng tình. Đường rút kiếm của một kiếm sĩ lão luyện nhanh hơn hẳn một phép chú niệm nhanh.

“Như vậy họ đã phân tích sự thất bại và sớm đi đến một kết luận không thể phủ nhận—trong một khoảng cách nhất định, ngay cả pháp sư tài ba nhất cũng có thể bị giết trước khi niệm nổi một phép. Badderwell nổi tiếng vì tài niệm nhanh, và cái chết của ngài ấy là minh chứng cho điều này. Ấy là một sự thua cuộc hợp lệ, và không liên quan gì đến sự bất cẩn cả.”

Cảm nhận được sự ngắt quãng trong dòng thoại, Garland vỗ tay.

“Tuyệt vời, Trò Reston. Đó là phần giải thích dễ hiểu nhất ta từng nghe trong suốt nhiều năm trời. Ta đích thân đóng dấu phê chuẩn cho nó. Tất nhiên ta muốn nghe trò nói tiếp, nhưng thế thì ta mất việc như chơi mất. Trò nghỉ một lát được chứ?”

“V-vâng, thưa ngài! Em xin phép!”

Má Pete đỏ bừng trước sự công nhận của ông thầy. Oliver thấy mừng cho cậu bạn, nhưng đồng thời, cậu cũng nghe có vài học sinh khác đang to nhỏ. Họ ghen tị ư? Những học sinh khá giả đến từ dòng dõi ma thuật không phải lúc nào cũng có cái nhìn thiện cảm với hành động của những kẻ có xuất xứ vô năng.

“Chà, làm thế nào nối tiếp phần giải thích xuất sắc đó bây giờ nhỉ? Phải, đây chính là lí do tại sao pháp sư chúng ta mang kiếm bên mình—để tự vệ khỏi những đòn tấn công tầm gần mà không phép nào phản ứng kịp, chúng ta cần có vũ trang. Để không ai phải bỏ mạng giống như Badderwell nữa.”

Garland ngừng một khắc và đặt tay lên thanh athame của mình.

“Ấy vậy, đây mới chỉ là khởi đầu thôi. Một thanh kiếm chỉ đơn thuần đưa các trò về thế cân bằng so với đối thủ. Ta chắc rằng điều này khiến tất cả đều lo sợ. Xét cho cùng, làm pháp sư để làm gì khi mà ở quá gần đến mức không thể niệm nổi phép? Nhưng đừng lo. Nếu điều đó là thật, thì ta đã chẳng dạy lớp này làm gì.”

Theo đó, ông rút kiếm ra và giơ cao nó để toàn bộ học sinh trông thấy. Tức thì, một ngọn lửa cuồn cuộn tỏa ra từ nó. Trong lúc vung vẩy thanh athame lửa qua lại, Garland nói tiếp:

“Như các trò có thể thấy, cho dù có bị ngăn niệm phép, thì vẫn có thể thi triển ma thuật mà không cần thần chú. Ngay tức thì, các trò có thể thắp lửa, gọi gió, bắn điện—và vân vân nữa mà chẳng phải hé một lời.”

Ngọn lửa tan, và thế chỗ nó, dòng điện trắng xanh trào dâng từ mũi kiếm. Đám học sinh lên kinh hãi.

“Tất nhiên, sức mạnh của ma thuật như vậy chỉ như mắt muỗi so với thần chú đàng hoàng. Chỉ mình thứ này thì còn không đến mức gần đủ để khiến đối phương bất lực. Xét đến độ khó kiểm soát và lượng tập luyện đòi hỏi, thì nó vẫn chẳng hơn mánh giấu tay áo là mấy. Chính vì lí do này mà các pháp sư trước thời Badderwell không màng nghiên cứu. Nhưng ta chắc hẳn giờ các trò đang nghĩ—nếu như ma thuật và kiếm kết hợp thì sao?”

Điều này cộng hưởng với các học sinh. Chẳng hạn, cho dù họ có một mình và bị áp đảo, thì ma thuật vẫn còn nhiều cách sử dụng thực tiễn, ví dụ như làm mù mắt hay đánh lạc hướng đối phương. Kết hợp với kiếm thuật, số lựa chọn kiểu chiến đấu họ có trong tay sẽ nhảy vọt. Do vậy, các dạng kỹ thuật hệ thống hóa mới đã được phát triển cho mục đích thể hiện đó. Garland ngừng phép, hạ kiếm về tầm trung, và vung như thể đang cắt một đối thủ tưởng tượng trước mặt mình.

“Nếu có thể bước một bước và đánh gục đối phương bằng athame, thì tức là các trò đang ở trong cái gọi là ‘khoảng một bước, một phép.’ Trong giới hạn này, các trò chiến đấu bằng hiểu biết về kiếm và ma thuật—đây là cái chúng ta gọi là kiếm thuật.”

Xong bài giảng lí thuyết, Garland quét mắt khắp gương mặt các học sinh. Thấy rằng chúng đã hiểu, ông nói tiếp.

“Sau khi nghe tất cả những điều này, ta dám chắc một số trò có hoài nghi. Những trò thuộc dòng dõi tôn vinh giá trị ma thuật truyền thống có khi còn phát tởm với điều này. Có lẽ các trò ấy tin rằng kiếm thuật là dị giáo—rằng một pháp sư thực thụ có thể giết bất cứ ai trước khi họ kịp có cơ hội lại gần như vậy. Điều này có thể đúng. Nhưng nếu các trò có nghĩ vậy, thì có vài điều ta muốn các trò phải nhớ.

“Thứ nhất: Kiếm thuật đa phần là thuật phòng thân. Trừ khi các trò định trở thành một kẻ hoàn toàn xa lánh xã hội, việc học cách để đối phó với khả năng hiếm hoi bị tấn công bất ngờ chẳng gây mất mát gì cả. Các trò tuyệt đối không thể nói thế giới này đủ an toàn để một thứ như này là thừa thãi—ngay cả khi các trò ở tại Kimberly đây.

“Thứ hai: Nay khi mà việc nghiên cứu kiếm thuật đã trở nên quá phổ biến, nó không chỉ còn dừng lại ở mức tự vệ trước người vô năng nữa. Trên thực tế. hiểu biết của chúng ta về thuật đã gia tăng nhờ có những cuộc so tài giữa pháp sư. Thứ nữa, hai pháp sư càng ngang tài ngang sức đến đâu, thì càng có khả năng đòn kết liễu sẽ được gây ra ở tầm gần. Xét đến tất cả những điều này, việc học kiếm thuật mang lại một lợi thế to lớn.”

Oliver cảm thấy một nụ cười nhẹ đang nhếch lên trên môi mình trong lúc lắng nghe lời giải thích chú tâm của thầy giáo về mọi giá trị của kiếm thuật trong việc chế ngự đối thủ. Ông ấy đang dùng tiết học đầu tiên này để giúp họ thấm nhuần cái ý chí học kiếm thuật. Kĩ thuật thực sự có thể để sau. Rõ ràng, ông ấy coi trọng thứ tự giảng dạy.

“Chà, dài hơi thật. Ta chắc có nhiều trò cũng đã học kiếm thuật từ gia đình rồi. Tuy nhiên, truyền thống khởi động ở đây là để những học sinh có kinh nghiệm đấu nhau cho cả lớp xem.”

Đám học sinh bắt đầu xôn xao đầy phấn khởi khi nghe mấy lời đó. Garland cười trừ trước phản ứng sáo rỗng trong lúc quét qua các gương mặt.

“Chỉ là một buổi diễn nhỏ thôi. Nếu không ai muốn, thì có thể bỏ qua, cơ mà… có ai tình nguyện không nhỉ?”

Căn phòng trở nên căng thẳng trong khi đám học sinh coi xét lẫn nhau, cảm xúc trộn lẫn giữa niềm tự hào vào kĩ năng của mình và lưỡng lự để bị làm bẽ mặt trước chúng bạn—tất cả khiến ai cũng chần chừ.

“Tôi! Tôi muốn thử!”

Kết quả là, gái Azian người chẳng quan tâm gì mấy cái đó liền giơ tay lên trước. Garland khoanh tay, nét mặt băn khoăn.

“…Trò Hibiya. Ta cảm kích sự hăng hái, nhưng trò có thực sự có kinh nghiệm trong mảng này không?”

“Em cũng muốn tình nguyện, thưa Thầy Garland.”

Tay một học sinh khác giơ lên, lần này là một cậu chàng tóc dài sau lưng Oliver. Cung cách và tông giọng của cậu ta khá giống Chela, tức là chắc hẳn cậu ta cũng có một xuất xứ đặc biệt tương đương. Nhưng có gì đó bẩn thỉu từ nụ cười trên gương mặt hắn.

“Em nghe nói bạn ấy đã hạ một con troll bằng kiếm vào ngày nhập học. Nếu điều đó không sai, thì em đây muốn nhân cơ hội này nếm thử một chút kiếm thuật Azian,” hắn nói và nhìn về phía Nanao mà không hề có chút thiện chí nào le lói trong ánh mắt.

Đám học sinh ở gần hắn khúc khích. Đó là lúc Oliver biết—tên này tính phá hoại chiến công Nanao đã phải mạo hiểm tính mạng để đạt được bằng cách lợi dụng sự không quen của cô ấy với kiếm thuật.

“…Hừm. Thôi thì, nếu cả hai đứa đều muốn—”

“Em xin phép được đấu một trận với Nanao!”

Trước khi Oliver kịp nhận ra, tay cậu đã giơ lên từ lúc nào. Tiếng xì xào tràn ngập cả phòng. Tên con trai kia bắn một ánh nhìn bẩn thỉu, không lấy làm vui trước sự can thiệp.

“Tránh ra đi, cậu kia. Tôi giơ tay trước.”

“Không, có mà cậu tránh. Tôi gặp Nanao từ lâu trước cả cậu. Bọn này thậm chí còn đánh con troll đó cùng nhau nữa,” Oliver khẳng khái đáp.

Mặt tên con trai đỏ bừng, méo mó vì giận. Rồi Oliver nhận ra hắn là một trong số đám học sinh cúp đuôi bỏ chạy khỏi con troll. Mà không phải làm vậy là đáng xẩu hổ hay gì đâu.

“Cậu…!”

Lòng tự trọng bị tổn thương, tên con trai gán cơn giận vào Oliver, người đang lườm lại hắn. Thông điệp rõ ràng: Thế vậy chúng ta đấu thì sao?

“Cho phép tôi là đối thủ của cậu, Cậu Andrews,” một giọng duyên dáng cắt ngang ngay khi Oliver chuẩn bị bước vào cuộc đấu. Đó là Chela, từ phía trước kế bên cạnh Katie. Tên con trai nhảy dựng khi nghe họ mình bị gọi và lúng túng quay ra.

“……Cô McFarlane…”

“Nanao có tài dùng kiếm, nhưng với ma thuật thì vẫn còn non. Cậu ấy sẽ khó lòng có thể đấu lại kiếm thuật mà gia đình cậu đã tận hiến trong suốt nhiều năm trời. Nếu định đánh bại ai đó, thì chẳng phải đánh bại tôi sẽ ấn tượng hơn nhiều sao?”

Tên con trai vật lộn không nghĩ ra được gì để cãi lại lôgic hợp lí của nhỏ.

Chela được đằng chân lân đằng đầu. “Hay là cậu sợ đánh với tôi ở chốn công cộng?”

“Có mà mơ nhé!” tên con trái lập tức đáp lại, như thể bất cứ câu trả lời nào khác sẽ bôi tro trát trấu vào thanh danh của gia đình hắn.

Nhìn họ cãi nhau, Oliver thầm gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến nhỏ tóc lọn. Phân nửa ý xấu dành cho cậu giờ sẽ chĩa sang nhỏ.

“…Vậy là chốt rồi phải không? Trận một là Trò Hibiya vs Trò Horn. Trận hai là Trò Andrews vs Trò McFarlane. Còn ai nữa không?”

Garland không can thiệp hay thậm chí thừa nhận cuộc cãi vã đang diễn ra ngay trước mắt mình, có vẻ không hứng thú với việc dây dưa vào sự tình của đám học sinh. Một khi xong phần mục đích, ông bước vào và biến nó thành hành động.

“Được rồi, vậy bắt đầu thôi. Mọi người, tạo chút khoảng trống ở giữa căn phòng. Tốt, cứ như thế. Khi nào xong—Trò Horn, Trò Hibiya, hai trò đứng vào giữa.”

Theo chỉ thị của thầy giáo, đám học sinh di chuyển sang bên để quan sát trận đấu. Bị ánh mắt mọi người đổ dồn vào, Oliver và Nanao bước vào giữa căn phòng. Họ cách nhau cái khoảng một bước, một phép mà họ vừa học hồi nãy.

“Cúi mình, rồi rút kiếm.”

Cả hai làm theo được chỉ và rút athame từ vỏ bên hông. Ngay lập tức, Garland niệm một phép.

“Securus!”

Ánh sáng trắng bao bọc lưỡi kiếm của họ. Vài giây sau, nó tan đi, làm Nanao bối rối.

“Ta đã niệm phép để ngăn hai trò giết nhau,” Garland giải thích. “Chừng nào nó còn hiệu lực, các vết đâm và chém sẽ không gây thương tích. Không phải là athame của các trò vốn có cạnh sắc đâu, nhưng giờ thì chúng an toàn tuyệt đối.”

Nghe vậy, Nanao liền khẽ ấn mũi kiếm vào ngón tay. Đột nhiên, một lực đàn hồi bí ẩn đẩy cô lại. Thích thú, cô bắt đầu dùng nhiều lực hơn, thậm chí vỗ tay vào thanh kiếm. Ngay cả vậy, cô vẫn không nhỏ ra dù chỉ một giọt máu. Gương mặt cô tràn đầy sự kinh ngạc.

“Ôooo, là thật nè!”

“Theo luật, đọ sức giữa học sinh chỉ được cho phép khi phép này được niệm. Bất cứ ai vi phạm luật này đều sẽ phải chịu phạt nặng, nên hãy nhớ cho kĩ. Khi nào lớn tuổi hơn, các trò sẽ được cho phép giảm hiệu lực để khiến trải nghiệm chân thực hơn.”

Nói vậy xong, tiếp đến Garland chuyển sang thiết đặt luật lệ cho trận đấu.

“Trong lúc chiến đấu, các trò có thể bước ra khỏi khoảng chỉ định, nhưng nếu điều đó xảy ra hôm nay, các trò sẽ không được phép niệm phép. Nói chung không thể để lớp kiếm thuật trở thành một đống phép bắn từa lưa được. Các trò có thời gian không giới hạn; khi nào một bên ra đòn chí mạng, thì trận đấu kết thúc. Ta sẽ là trọng tài. Lưu ý: Đòn nhắm vào đầu, ngực, và thân trên được coi là chí mạng. Cũng như việc bị đánh vào tay cầm kiếm. Đối với tay còn lại, trừ trường hợp đỡ bằng Adamant, các em không được sử dụng tay đó suốt phần còn lại của trận đấu.”

Garland ngắt quãng, cho hai người thời gian để cho thấy rằng mình hiểu. Oliver gật đầu; sau một khắc, Nanao hỏi một câu.

“Thưa Sư phụ Garland, nếu như một người cầm kiếm bằng cả hai tay thì sao?”

Garland trợn mắt vì ngạc nhiên. Ông nhìn tay cô, và đủ chắc chắn, cả hai đều đang cuốn quanh tay cầm. Luật ông vừa đưa ra cho rằng đấu sĩ cầm kiếm bằng một tay. Thầy kiếm thuật khoanh tay và nghĩ ngợi một hồi, rồi nhún vai cam chịu.

“…Không có đủ tiền lệ để tạo thành một luật rõ ràng. Hôm nay, chúng ta sẽ tính trúng đòn vào bất cứ tay nào là chí mạng.”

“Đã hiểu.”

Nanao gật đầu. Từ cuộc trao đổi của họ, Oliver xác nhận lại một điều mình đã tò mò từ ngày hôm qua. Trong trận đánh với con troll, cô ấy cũng đã dùng cả hai tay. Vậy phải chăng đó là một thanh kiếm hai tay? Những thanh athame pháp sư thường cầm là kiếm ngắn rơi vào khoảng từ 33 đến 55 cm. Dài hơn bất cứ chút nào nữa, sẽ thành mất quá lâu để vung, tức là một câu niệm đơn giản sẽ nhanh hơn. Theo tự nhiên điều này dẫn đến việc cầm kiếm ngắn bằng một tay.

Tuy nhiên, thanh kiếm của Nanao rõ ràng dài hơn 55 cm. Tính cả cán, chắc nó phải hơn 63 cm rưỡi. Nó không phải kiếm dài, thứ phổ biến trong giới vô năng, nhưng không thể phủ nhận là một thanh athame thì nó có bất lợi.

“Và chỉ có vậy thôi. Thí sinh, vào vị trí,” Garland nói. Oliver mở rộng tay phải và chân phải về phía trước, kiếm giữ tầm trung. Lẽ dĩ nhiên kiếm của Nanao sẽ không phù hợp để dùng làm đũa phép, bởi cô ấy chưa luyện tập phép thuật bao giờ. Làm thế nào cô ấy biết được căn bản của kiếm thuật? Cuộc đấu này sẽ chẳng bao giờ là gì hơn ngoài một trận đấu giữa tay mơ và kỳ cựu. Nên cậu quyết định mình nên tránh dùng ma thuật và thay vào đó tập trung tận hưởng đọ kiếm với kiếm kĩ của một quốc gia khác. Cậu sẽ không chú trọng vào thắng thua và, khi hai bên đã qua lại đôi ba lần, sẽ tự tay kết thúc nó. Nghĩ vậy, Oliver đối mặt với đối thủ.

“Haaah…”

Đối diện cậu, Nanao chậm rãi giơ kiếm lên trời. Oliver chưa bao giờ thấy thế đứng cao nào hùng vĩ như vậy trong trường phái của mình.

“Bắt đầu!”

Garland ra hiệu bắt đầu trận đấu. Oliver vẫn không nhúc nhích, giữ vững thế. Đúng như dự định, cậu sẽ giữ phòng thủ và quan sát. Cậu chờ đợi cô đi nước đầu tiên.

Ngươi có thực sự ổn với điều này không?

Một giọng nói chế nhạo sự kém cỏi của cậu. Cơn rùng mình chạy dọc sống lưng.

Nhìn con bé xem. Ngươi vẫn còn ngây thơ vậy sao?

Hình ảnh cơ thể chằng chịt sẹo của cô quay trở lại trong tâm trí cậu. Một cơn ớn lạnh báo điểm gở xộc ra từ sâu trong lồng ngực—không nghi ngờ gì nữa, linh tính của cậu đang rung chuông báo động.

“Hãy đấu một trận thật hay và vẻ vang nhé, ngài Oliver.”

Khoảnh khắc linh tính của cậu chiếm lấy và đưa cậu vào thế thủ, thân hình gái Azian hòa làm một với cơn gió.

“?!”

Chùn bước, và mình sẽ chết. Cảm thức được điều này, thay vào đó Oliver nhanh chóng bước tới. Liền đó, một đòn dữ dội dội vào tay phải cậu, vừa đưa lên để đỡ. Hai thanh kiếm chạm nhau ngang tầm mắt, làm lửa bắn tung tóe. Nỗi sợ choán lấy con tim cậu—Cô ấy quá nhanh và mạnh!

“Ồ…!”

Áp lực từ thanh kiếm đẩy cậu lùi lại. Một giây sau đòn đầu tiên, cổ tay cậu gào thét; nó không chịu nổi nữa. Đó là lúc Oliver biết—cậu không còn thời gian để lượn lờ và quan sát nữa. Cứ thế này, chẳng mấy chốc cậu sẽ bị đánh bại. Cơ thể cậu vốn đã đang phản ứng, sự trui rèn đang trỗi dậy.

“Mm?!”

Nanao đột nhiên mất chỗ đứng. Mặt đất từng rắn chắc nay nuốt chân cô đến tận mắt cá. Đây là kiếm thuật trường pháp Lanoff, thế đất: Chôn Vùi. Bằng một chút can thiệp ma thuật, nền đất đã trở nên mềm như bùn lầy và bám lấy chân cô.

“Hmph!”

Nhân lúc Nanao mất thăng bằng, Oliver nhanh chóng né sang bên và tung một đòn nối tiếp nhắm vào lưng. Nương tay là điều cuối cùng còn lại trong tâm trí cậu. Nhưng vung kiếm được nửa đường, một thanh kiếm xuất hiện trên vai đối thủ của cậu.

“—?!”

Nhận thấy nguy hiểm, Oliver nhảy lùi lại. Ngay khi cậu làm vậy, mũi kiếm vọt lên, cách mặt cậu chỉ nửa phân—cô đã để lộ lưng cho cậu, chỉ để đâm cậu ngay sau đó. Nhưng thay vì quay người lại rồi đâm, cô biến hành động quay thành một cú đẩy.

“Haah…”

Lúc này Nanao đã chỉnh lại thế đứng, và lợi thế vị trí mà Oliver dày công đạt được bằng Chôn Vùi cũng không còn nữa. Suy nghĩ của cậu nhanh dần trong khi ánh mắt bị thu hút bởi mái tóc trắng tinh khôi, chứa đầy ma thuật. Hai người còn ở gần nhau hơn cả khoảng một bước, một phép!

“Yaaah!”

Một lần đọ kiếm nữa. Lưu thông ma thuật qua athame, Oliver đánh cược cả trận đấu vào một kĩ thuật tổng lực này. Tiếng lắc rắc nổ tanh tách giữa họ trong khi cả hai cùng dấn về phía trước, tạo với nhau thành một đường thẳng. Hai thanh kiếm va chạm nhau thành tiếng cùng ánh lòe của sắt chạm sắt.

“Gư!”

“—!”

Cuộc vật lộn chỉ kéo dài một khắc, theo đà hai người lao xuyên qua nhau. Khoảng cách giữa đôi bên mở rộng trở lại, Oliver ngay lập tức xoay người và chuẩn bị tấn công một lần nữa.

“Hộc… Hộc…”

Cô ấy đã ở cách một khoảng xa, ấy vậy cơn rùng mình chạy dọc cơ thể cậu không chịu lắng xuống. Không đùa đâu—cô ấy đã có ý định lấy mạng cậu. Oliver không mảy may nghi ngờ cô đã từng tước đi sinh mạng trong quá khứ, và không chỉ một vài, hay thậm chí vài chục. Cô ấy đã làm đổ bao nhiêu máu để tới được đây? Thanh kiếm của cô ấy thuộc về một chiến binh thực thụ chỉ để cho chính mục đích đó.

“Cậu…”

Nanao lẩm bẩm gì đó, nhưng Oliver không nghe được. Cậu còn đang bận phân tích tình hình. Cậu có nên đẩy lùi cô ấy bằng một phép khác không? Hay cậu nên chủ động tấn công? Dù thế nào thì, những chiến lược thông thường sẽ không có tác dụng ở đây.

Có lẽ mình sẽ có gợi ý cho điều nên làm kế tiếp từ việc nhìn mắt cô ấy, Oliver vừa nghĩ vừa liếc nhìn gương mặt đối thủ.

 

“Cậu… đây rồi.”

 

Điều trông thấy khiến cậu hoàn toàn cạn lời. Nước mắt, trong như pha lê, chảy xuống má Nanao. Đôi môi cô, run rẩy vì sung sướng, đến mức không thể cất lên lời. Đột nhiên, cậu nhận ra cô ấy đang dán mắt vào mình.

“…”

Tâm trí Oliver trở nên trống rỗng. Cậu chưa thấy con gái khóc bao giờ cả. Cứ như thể một mũi thương vừa cắm vào lồng ngực cậu. Cậu không hiểu. Cô ấy đã biết được gì từ hai lần đọ kiếm ngắn ngửi tổng cộng chưa đầy mười giây ấy? Họ mới biết nhau được có hai ngày. Không đời nào cậu có thể hiểu được điều cô ấy đang cảm nhận.

“……Đừng khóc.”

Ấy vậy, tuy không biết gì cả, một suy nghĩ choán lấy tâm trí Oliver: Bằng mọi thớ thịt trên cơ thể mình, cậu muốn ngăn dòng lệ ấy.

“Nè. Tớ bảo đừng khóc mà.”

Trước mắt Nanao, thế đứng của cậu chàng chuyển từ thế trung chính thống của trường phái Lanoff sang một thế chéo thấp hơn không khớp lắm so với bất kì cái nào trong ba trường phái cơ bản. Dẫu có là gì, không ai trong phòng hiểu được ý nghĩa của nó. Tuy nhiên…

“…Cảm ơn.”

Chỉ mình cô gái Azian hiểu: Đây chính là cậu lúc nghiêm túc.

Tinh thần chiến đấu của họ đang sôi sục, tan chảy vào nhau. Như đáp lại, ánh sáng từ phép an toàn trên kiếm họ phân giải. Thứ nữa, mọi thứ khác trong căn phòng tan biến khỏi nhận thức của họ, chỉ trừ sự hiện diện của nhau. Tiếng ồn không còn nữa; thế giới khép lại, tinh khiết và tĩnh lặng nhất có thể. Đây chính là dấu hiệu—kiếm của họ sẽ không ngừng lại cho đến khi một người ngã xuống. Không do dự một khắc, cả hai cùng bước về phía trước—

“Đủ rồi!”

Ngay trước khi họ kịp đọ kiếm lần ba, Garland nhảy vào giữa hai người, kiên quyết ngăn chặn hẹn ước của họ.

“Ta nói đủ rồi, Trò Horn, Trò Hibiya! Hạ vũ khí xuống!”

Họ đứng hình, vẫn nắm kiếm trong tay. Thầy giáo quát họ xối xả.

“Ta đã nói từ đầu rồi—đây chỉ là trình diễn chút cho vui thôi. Ta không bảo các trò phải đánh nhau đến chết.”

Mặt Oliver trở nên bệnh hơn theo mỗi giây. Phải rồi, đây lẽ ra chỉ là một trận đấu giả thôi. Thế cậu đang làm cái quái gì vậy?

“Ngày đầu tiên vậy là đủ rồi,” Garland nói, mắng họ thêm. “Giờ thì cất kiếm vào vỏ và nghỉ ngơi đi. Ta cấm các trò rút kiếm ra cho đến khi cả hai bình tĩnh lại. Nghe không?”

Oliver tra kiếm vào vẻ đầy tội lỗi; Nanao cũng hối lỗi làm theo.

 

 

“Ờm… Chuyện gì vừa xảy ra vậy?” Katie hỏi từ chỗ của mình trong hàng khán giả, ánh nhìn khó hiểu trên gương mặt. Guy, Pete, và nhiều học sinh khác xung quanh cũng ngẩn ra tương tự.

“Có không hiểu thì cũng không trách cậu được. Đó là một trận đấu ở đẳng cấp cực kì cao,” Chela nói cách một quãng từ phía sau. Nhỏ nói tiếp, lần này là với đám đông. “Để tớ giải thích lại từ đầu. Đầu tiên, đòn thứ nhất của Nanao—một đòn từ thế rất cao, mà Oliver đã đỡ khá tốt. Tớ chắc chắn chín mươi phần trăm mọi người ở đây không thể làm điều tương tự. Tốc độ tiến công thất thường, kết hợp cùng sức nặng của đòn đánh chứa ma thuật—bạn ấy sẽ chém xuyên qua bất cứ ai dám giương mình ra đỡ đòn. Tương tự với những kẻ lùi lại vì sợ hãi. Bạn ấy sẽ tức thì bám theo và chém rụng đối phương.”

Chela rút athame ra và bắt đầu lặp lại trận đấu từ góc nhìn của Oliver. Tay phải đưa ra ở thế trung như cậu đã làm, nhỏ đối mặt với một phiên bản tưởng tượng của Nanao.

“Để đỡ một thứ như vậy, ta phải tự mình bước vào. Làm vậy cắt đứt quỹ đạo của đòn tấn công ngay tại gốc trước khi nó có thêm đà. Rồi, uốn khuỷu tay và gập cổ tay lại, vung chân tay phải trong lúc trụ. Nếu không làm vậy, cổ tay của các cậu sẽ vỡ nát ngay khi va chạm.”

Nhỏ vừa nói vừa di chuyển, chầm chậm sao chép lại những chuyển động tức thời. Đám học sinh lắng nghe chăm chú bài phân tích chuyên gia trong lúc nhỏ trôi chảy nói tiếp.

“Từ đây, thì nan giải hơn. Đòn đầu tiên đã bị phản, như tớ vừa giải thích, nhưng trong khoản vật lộn, lợi thế của kiếm cầm hai tay đã trở nên rõ ràng. Cố lao đầu vào nó chỉ mang lại kết quả thất bại. Như vậy, để phá thế bế tắc, Oliver đã sử dụng Chôn Vùi, một phép cơ bản thuộc trường phái Lanoff. Bằng cách nhắm ngay lúc bạn nữ dồn trọng tâm vào chân trước, cậu ấy đã làm bạn mất thăng bằng.”

Chela chĩa mũi kiếm xuống chân. Một câu hỏi dấy lên trong đầu Katie.

“Lúc xem thì tớ cũng hiểu sơ sơ, nhưng Oliver đâu có chĩa đũa phép xuống đất. Vậy làm thế nào cậu ấy dùng ma thuật để làm mất thăng bằng bạn nữ?”

“Đó là một kĩ thuật có tên gọi ma thuật không gian. Thông thường, phép bay ra từ đầu đũa phép. Nhưng ở khoảng cách rất gần, ta có thể định hướng phép bằng ý chí bản thân mặc cho đũa có chĩa hướng nào đi nữa. Chẳng hạn, như thế này.”

Vừa dứt lời, một tia điện lóe lên ngay bên cạnh—ngay trước mặt Katie. Nhỏ ré lên và bật lùi lại. Chela đã dùng ma thuật, nhưng athame của nhỏ vẫn đang chĩa xuống đất.

“Người mới thì thường có xu hướng đảo mắt về phía mục tiêu, nhưng Oliver… Phép của cậu ấy có độ chính xác điểm chỉ mà không cần phải đảo mắt. Đây là một kĩ năng rất ấn tượng nữa.”

Mắt Chela liếc về phía Oliver và Nanao. Cách xa một khoảng, họ đang ngạc nhiên lắng nghe nhỏ giải thích, Trông họ không có vẻ bất mãn với nó.

“Nào, tiếp tục. Thấy Nanao hướng kiếm về phía trước, lẽ dĩ nhiên Oliver sẽ di chuyển tấn công từ đằng sau. Nhưng đây, chúng ta chứng kiến một phản ứng phi thường từ Nanao. Bạn ấy ngay lập tức đổi trọng tâm sang chân thả bên trái và giải phóng một cú đâm trực tiếp ra đằng sau trong lúc xoay người. Cảm nhận được đòn phản công này, Oliver ngừng đòn đánh giữa chừng và nhảy lùi lại để nới rộng khoảng cách.”

Lần này, Chela tái hiện trận đấu từ góc nhìn của Nanao. Đâm ra phía sau và thấy Oliver tưởng tượng rút lui, Chela lên giọng có phần to hơn nữa.

“Đây là lúc mọi thứ thực sự trở nên thú vị. Trong một khắc, cả hai cùng tung đòn một lúc. Bên phía Oliver, đó là kĩ thuật cao cấp Đụng Độ của trường phái Lanoff. Những trường phái khác cũng có thứ tương tự, nhưng vì cậu ấy đã dùng thế Lanoff, chúng ta hãy cứ gọi nó như vậy. Rõ ràng, tớ không thể giải thích nó chi tiết, nhưng hãy nghĩ nó như kiểu một kĩ thuật phản công đốn hạ đòn đánh của đối thủ rồi chém ngược lại họ.

“Còn Nanao thì… Ôi, sốc. Các cậu thấy đấy—Tớ không thể nói mình biết trường phái của bạn ấy, nhưng kĩ thuật của bạn giống y hệt cái Oliver dùng. Thầy dạy và thậm chí quốc gia của họ không thể nào khác nhau hơn, ấy vậy họ đụng độ nhau bằng cùng một kĩ thuật, cứ như thể đã thảo luận với nhau từ trước, và đối đầu trực diện với nhau cùng độ chính xác không thể tin nổi. Không bên nào có thể tung đòn dứt điểm, và kết quả là hòa.”

Hai đấu sĩ lướt qua nhau, rồi dãn khoảng cách với nhau. Chela, đã hoàn thành tái hiện trận đấu, bèn tra kiếm vào vỏ. Rồi nhỏ hướng mắt về một học sinh cách xa một quãng.

“Và liệu cậu đã có thể đỡ được bao nhiêu đòn của bạn Nanao, hả Cậu Andrews?”

“……!”

Nhỏ đang nói với tên con trai tóc dài mới nãy chọn Nanao làm đối thủ cho trận đấu giả của mình. Hắn hoảng loạn, không đáp lại được gì, và nhỏ thở dài. Chela quay lại về phía thầy kiếm thuật.

“Thưa Sư phụ Garland. Rất tiếc nhưng mà, cho dù em và Cậu Andrews có đấu, thì cũng không thể nào sánh được với trận vừa rồi. Một cách kính cẩn em xin rút lại tay và yêu cầu thầy tiếp tục với bài học.”

“…Rồi. Nếu trò muốn vậy thì được thôi.”

Garland gật đầu, có chút nhẹ nhõm. Ông ra hiệu lớp học sẽ bắt đầu trở lại, đánh thức đám học sinh tạm thời đang mông lung. Từng người một, họ quay trở lại hàng ban đầu của mình.

 

Và như vậy, tiết học kiếm thuật hỗn loạn đáng ngạc nhiên của họ kết thúc. Oliver nằm trong số những người đầu tiên rời khỏi phòng học. Cậu bước qua sảnh học viện một mình, chú tâm ngẫm nghĩ về điều đã xảy ra.

“……”

Đơn giản cậu không thể hiểu nổi. Tại sao cậu lại làm vậy? Tại sao cậu lại mất kiểm soát trong trận đấu với cô ấy? Khoảnh khắc cậu và Nanao đọ kiếm, cậu đã bị ấn tượng sâu sắc bởi sức mạnh của cô ấy. Điều đó đúng. Kết quả là, kế hoạch giữ cho mọi thứ nhẹ nhàng của cậu bị đổ bể. Song, cậu không hối hận phần đó. Những năm rèn luyện của cậu đã thể hiện hết ra trong nháy mắt, vốn là điều khiến cho pháp sư nào cũng nên cảm thấy mừng.

Nhưng vấn đề nằm ở điều xảy ra sau đó. Khi đã giãn khoảng cách sau lần đọ kiếm thứ ba, lấy lại một chút bình tĩnh, và đối mặt với cô ấy lần nữa—đó là lúc cậu thấy những giọt lệ.

“……!”

Khoảnh khắc đó, mọi thứ đều sụp đổ. Lí trí và lôgic—biến mất không còn dấu vết. Chỉ còn lại sự thôi thúc trả lời cô ấy dấy lên trong cậu, sự chắc chắn có một khoảng trống mà chỉ mình mới có thể lấp đầy. Bị linh tính đó thúc vào lưng, cậu đã bước vào một thế chết chóc mà cậu đã thề không bao giờ tiết lộ.

“…Bất cẩn thật đấy.”

Cậu cuộn tay lại thành nắm đấm. Song, cậu cũng chắc cô ấy đã cảm nhận được chân ý của mình. Trong bầu im lặng tột cùng đó, Oliver nhớ được cảm giác của sự thấu hiểu lẫn nhau—Chúng ta đánh cho đến khi một người chết. Nhất định ấy không phải là mong muốn từ một phía. Khoảnh khắc ấy, một khế ước đã trói buộc số phận thanh kiếm của họ vào nhau.

“Oliver!”

Giọng nói quen thuộc vang lên bên tai, cắt ngang dòng suy nghĩ lặp hồi của cậu. Cậu sực tỉnh ra và thấy mình vừa rẽ vào một góc sảnh. Nanao đang chạy về phía cậu.

“Ngài đây rồi! Ngài biến mất ngay khi tiết học kết thúc, nên tôi đã phải tìm tới tìm lui đấy!”

Cô dừng lại trước mặt cậu, cười toe toét ngây thơ như một chú cún con. Oliver cạn lời.

“Trận đấu đó thật xuất sắc—xuất sắc thực sự,” cô nói tiếp. “Tôi có thể thật lòng nói rằng mình chưa bao giờ trải qua một khoảnh khắc mãn nguyện như vậy trong đời, kể từ lần đầu tiên cầm kiếm tới giờ.”

Cô nói như mê sảng, mắt tràn ngập sự ngạc nhiên. Rồi đột nhiên, cô cúi xuống và cuộn tay thành nắm đấm.

“Nuối tiếc duy nhất của tôi đó là cuộc vui bị bỏ dở giữa chừng. Thậm chí lúc này, tôi vẫn không thể thôi nghĩ về điều đã có thể xảy ra. Trái tim tôi bừng cháy vì khao khát nó—ngài có cùng cảm giác không? Ngài cũng cảm nhận được nó phải không?”

“……”

Oliver giữ im lặng, không thể trả lời. Tin chắc rằng cậu cũng cảm thấy tương tự, Nanao bèn ngẩng đầu, mắt sáng lên vì vui sướng.

“Vậy nên, ngài Oliver, tôi xin yêu cầu một trận tái đấu!” cô tuyên bố. “Lần sau, chúng ta có thể đấu bằng tất cả những gì mình có mà không gặp trở ngại gì cả?”

Nanao nhấn mạnh, hoàn toàn nghiêm túc—Lần sau hãy chiến đấu đến chết. Yêu cầu của cô quá đỗi lạ lùng so với vẻ ngây thơ trên mặt. Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Oliver.

“Không có đâu!” cậu đáp lại theo phản xạ, chấm dứt cô hoàn toàn.

Mặt Nanao đanh lại. “…Hở?”

“Tớ bảo không. Tớ sẽ không bao giờ đánh với cậu nữa. Và tớ tuyệt đối sẽ không dùng sát lực,” Oliver nói vào mặt con bé đứng hình. Đã nói ra thành lời rồi, mới cảm thấy thật tự nhiên. Chẳng có lí do gì để có một trận đấu sinh tử với bạn đồng môn cả.

“N-nhưng tại sao?”

Ấy vậy, gái dường như không hiểu rằng mọi thứ nó phải là như vậy. Cô bị rúng động đến tận gốc rễ, giọng run rẩy. Mặc cảm tội lỗi xâu xé con tim Oliver mặc dầu cậu không có lỗi gì cả. Những giọt nước mắt như pha lê cậu chứng kiến trong trận đấu—kí ức còn mới trong đầu, cậu khăng khăng giữ thái độ lạnh lùng.

“Không phải rõ ràng rồi sao? Tớ không muốn giết cậu, hoặc bị cậu giết. Không một chút nào cả.”

Đó là kết thúc của cuộc đối thoại đầy ý nghĩa. Oliver quay gót và bước đi, kết thúc cuộc trò chuyện. Nanao choáng váng nhìn theo khi cậu biến mất vào khoảng không, một giọt lệ lăn dài xuống má.

“………Nhưng tại sao…?”

 

 

Tiết hai là thần chú học. Trước khi các học sinh năm nhất ngồi xuống ghế dài, một phù thủy già trong chiếc áo choàng màu câm xuất hiện.

“Chào mừng đến với thần chú học. Ta là giáo viên của các trò, Frances Gilchrist. Và có vẻ là năm nào ta cũng bị ấn định cho phải thất vọng tràn trề khi nhìn thấy tất cả các trò.”

Học sinh bị sốc trước màn mở đầu tiết học gay gắt.

“Mấy cái thứ kim loại khó coi bên hông các trò kia… Sao các trò có thể tự gọi mình là pháp sư khi đeo chúng? Ta không tài nào hiểu nổi. Có lẽ chúng cần thiết đối với những kẻ vô năng tội nghiệp, nhưng chúng ta sống cùng với những bí ẩn của thế giới này. Chỉ có đũa phép là phù hợp thôi.”

Thở dài, bà giáo già rút đũa thần ra từ bên hông. Katie giơ tay lên, không thể chấp nhận được điều này.

“X-xin phép, thưa Cô.”

“Ơi? Tên trò là gì?”

Sự chú ý của phù thủy ngay lập tức khép vào nhỏ tóc xoăn. Sau khi Katie giới thiệu bản thân, Gilchrist gật đầu và mời nhỏ tiếp tục.

“Tốt lắm, Trò Aalto. Hãy nói ra suy nghĩ của trò.”

“V-vâng, thưa cô. Cô gọi chúng là ‘những thứ kim loại khó coi,’ nhưng ngoài cô ra mọi giáo viên ở Kimberly đều mang athame cả. Đến cả cô hiệu trưởng còn là một người luyện kiếm thuật nổi tiếng. Cô định sỉ nhục cả họ nữa ư, thưa cô?” Katie xông xáo hỏi.

Phòng học trở nên ồn ã, nhưng vị giáo già không lúng túng. “Đúng là một câu hỏi ngu ngốc. Ta tôn trọng các giáo viên đồng nghiệp của ta, và rõ ràng ta không hề có ý định bôi bác thanh danh của quý hiệu trưởng. Tuy nhiên, xét đến tất cả mọi điều—không ai ở học viện này sống lâu hơn ta với tư cách là pháp sư cả.”

Biểu hiện của Katie chuyển thành sốc.

Gilchrist khẽ đặt một tay lên ngực. “Ta biết những pháp sư thời xưa thể hiện mình như thế nào. Đó là lí do tại sao ta hành xử như vậy, dẫu có biết bao người bảo ta là cổ hủ đi chăng nữa.”

Ánh mắt vị giáo già chuyển từ Katie sang các học sinh còn lại.

“Nhưng chắc như vậy là không đủ để thuyết phục các trò,” Gilchrist nói tiếp. “Vậy cho phép ta được chỉ trích cái trào lưu kiếm thuật hiện hành này… Như các trò biết, pháp sư trên toàn thế giới bắt đầu mang athame kể từ sau thất bại đáng xấu hổ của Badderwell. Họ bảo là, để phòng thủ trước đòn tấn công từ đám vô năng—một khẩu hiệu thuận tiện. Song, các trò có biết kết quả ra làm sao không?”

Câu hỏi của bà lơ lửng trong không trung trong lúc bà thở dài thườn thượt.

“Phải nói là nó khá hài hước. Kéo theo sự giảm thiểu về tử vong do đám vô năng là sự gia tăng tử vong do bạo lực trong giới pháp sư. Nó tạo thành một lí do để mang kiếm bất cứ khi nào ta đi gặp ai đó. Và đối với những người sẽ làm hại kẻ nào cạnh tranh mình, thì đây là một lợi thế.”

Im lặng bao phủ đám học sinh. Phương thức tự vệ trở thành vũ khí làm hại người khác là một tiến trình tự nhiên đến mức không tưởng.

“Xét đến sự thật này, ta có thể nói chắc rằng sự phổ biến athame không những không làm thế giới ma thuật an toàn hơn, mà lại còn làm hại nó. Ấy là một thực tế không thể chối cãi, mà có thể dễ dàng được giải quyết nếu tất cả đổi từ kiếm sang đũa phép. Tuy nhiên, nói thì dễ hơn làm. Trò kia, có thể nói cho chúng ta biết tại sao không?”

Câu hỏi hướng về phía Oliver, người đang ngồi trong góc phòng học. Sự hiện diện của Nanao đang khiến cậu mất tập trung vào tiết học, hẳn bà giáo đã nhận ra. Cậu chỉnh đốn lại và đứng dậy.

“…Bởi vì chúng được coi là cái ác cần có. Chẳng hạn, khi một pháp sư cầm athame phạm tội, những ai định đưa họ ra công lý phải được trang bị tương đương hoặc nếu không sẽ bị bất lợi. Cũng có thể nói tương tự đối với tự vệ, đó là lí do tại sao không ai muốn từ bỏ kiếm của mình.”

“Chính xác. Tên trò là gì?”

“Oliver Horn, thưa cô.”

“Câu trả lời xuất sắc. Ta hy vọng sẽ được thấy nhiều hơn,” bà nói, ngụ ý rằng câu trả lời của cậu đầy đủ. Oliver khẽ cúi người và định ngồi xuống khi ánh mắt chạm phải Pete. Cậu khẽ mỉm cười lại, khiến cho Pete nhanh chóng ngoảnh mặt đi. Nụ cười của Oliver trở nên kì cục; chắc phải một thời gian họ mới thân nhau hơn được.

“Như Trò Horn nói, một khi thói xấu đã cắm rễ thì không dễ dàng từ bỏ nó được. Thế nhưng, đó không phải cái cớ để ta bằng lòng với thế giới hiện đại ngày nay. Chính bởi vì khắp cộng đồng ma thuật ai cũng đều quá thoải mái với athame nên ta mới cố nhắc nhở mọi người về một thời tốt đẹp hơn, khi mà những thứ đó không tồn tại,” Gilchrist giảng.

Vẫn để mắt đến bà, Guy thì thầm với người ngồi cạnh, Chela. “…Ê, vậy tức là bà ấy đã sống hơn bốn trăm năm rồi hả?”

“Ủa không biết à? Bả là một trong số ít những phù thủy của cộng đồng ma thuật đã trực tiếp trải nghiệm cuộc sống ‘trước thời Badderwell’ đấy.”

“Đùa nhau?” Guy giật mình. Nhân chứng lịch sử sống ngừng bài giảng và quay về phía các học sinh, đứa nào đứa nấy còn trẻ hơn cả chắt của mình.

“Nói là vậy, ta chỉ có một tín điều duy nhất—nếu là pháp sư, hãy giải quyết vấn đề của mình bằng ma thuật. Vậy thôi.”

Kết luận này rõ ràng khiến các học sinh phải cau mày. Xét cho cùng, chẳng phải khó khăn từ cách làm này chính lí do các pháp sư thời hậu Badderwell cầm kiếm sao?

“Ta có thể thấy các trò đang nghĩ rằng điều đó là bất khả thi. Nhưng đây chính là biểu hiện của sự non nớt. Để ta cho các trò một ví dụ,” Gilchrist nói với đám đông nghi hoặc. Đột nhiên, những chiếc bóng xuất hiện xung quanh bà. Sau khi thoát khỏi lớp ngụy trang, có vẻ chúng là những hình nhân nhiều hình dạng. Trên mặt chúng có sáu con mắt thủy tinh, và tay chân kết nối bằng khớp bóng. Chuyển động của chúng cực kì chi tiết, nhưng lại không hề toát ra sự sống.

“Woa, rối!”

“Trò vừa lên tiếng kia. Tên trò là gì?”

Bà giáo ngay lập tức cô lập Guy. Cậu ta nhanh chóng bật dậy và tự giới thiệu.

“Sai rồi, Trò Greenwood,” bà nghiêm nghị sửa lại lời cậu. “Đây là người máy. Chúng là thân cận tự làm bởi pháp sư và có thể cử động mà không cần sự điều khiển mọi hành động.”

Trong lúc bà nói, đám người máy di chuyển tạo thành một vòng tròn phòng thủ xung quanh bà. Tổ chức của chúng hoàn hảo; Oliver nuốt nước miếng trước hiệu suất rõ ràng của chúng.

“Giờ các trò đã hiểu chưa? Đến cả pháp sư kém nhất cũng có thể tạo dựng lớp phòng thủ tầm gần như vậy. Thậm chí không nhất thiết phải là người máy—một ma thú thân cận cũng được. Dẫu thế nào, nếu học được các kỹ thuật để làm chủ điều này, thì tất nhiên lựa chọn cầm kiếm lên chiến đấu sẽ không còn là vấn đề với các trò nữa,” Gilchrist tự tin tuyên bố, rồi ra hiệu với các học sinh. “Nếu các trò nghĩ người máy không đáng tin cậy, thì xin mời thử cắt chúng. Nếu có thể làm đứt chỉ một cánh tay bằng kiếm thôi, biết đâu các trò có thể thuyết phục ta xem lại cách xử sự của mình.”

Oliver lo lắng nhìn qua phía Nanao, lo rằng cô ấy sẽ chấp nhận thử thách hệt như trong lớp kiếm thuật. Nhưng trước sự ngạc nhiên của cậu, gái Azian giữ im lặng bên cạnh Katie suốt cả tiết học.

 

 

“…Đùa, choáng thật sự. Ý là, cũng kiểu không ngoài mong đợi, nhưng thế này đúng là căng thẳng thật.”

Qua những tiết học buổi sáng, giờ là buổi trưa. Theo yêu cầu của Guy, họ quyết định ăn ở ngoài, và sau khi gói ghém bữa ăn ở nhà ăn lại để mang đi, sáu người họ tìm thấy một băng ghế dài ngoài tòa học viện để ngồi ăn.

“Kiểu thần chú học. Mới ngày đầu tiên thôi mà lí thuyết đã muốn ngập họng. Và cái kiểu bắt người ta học kiếm thuật trước, xong ngay tiết sau lại bảo tất cả chẳng để làm gì là sao? Thế có hợp pháp không vậy?” Guy phàn nàn, nhồi vào mồm một cái bánh xăng-uých kẹp đầy rau diếp và thịt nguội. Kế bên, Pete cũng ăn giống vậy, nhưng theo một cung cách dè dặt hơn nhiều.

“Tôi có thể đồng tình với nhiều điều bà giáo nói,” Pete khẽ đáp. “Nhưng không phải cái gì bà ấy cũng đúng.”

“Hừm, lạ đó, Pete, cậu có thể nói lí do tại sao không?” Chela hỏi, thấy tò mò. Pete chỉnh lại kính trước khi trả lời.

“Cái đám người máy đó rõ ràng là hàng thượng phẩm. Dân gà qué như tôi có cố đến mấy cũng không thể cắt qua chúng được. Nhưng gánh nặng của việc điều khiển nhiều thân cận như vậy cùng một lúc cũng không phải dạng thường.”

Lần này, Katie là người ngấc đầu dậy khỏi bữa trưa đang ăn dở.

“Cái đó đúng. Tớ có thể triệu hồi ít thân cận hơn, nhưng nếu có quá nhiều cùng một lúc, chẳng mấy chốc tớ sẽ kiệt sức. Trữ lượng ma thuật gia tăng theo thời gian và tập luyện, nhưng vẫn có giới hạn. Mà không phải ai cũng như nhau nữa.”

“Cho dù tất cả chúng ta đều có thể làm vậy, thì cũng sẽ không thể dùng ma thuật vào việc gì khác nữa. Tức là các phép khác sẽ bị hạn chế, dẫn đến phi thực tiễn. Lí do duy nhất bà ấy có thể đưa lí thuyết vào thực hành là nhờ vào trữ lượng ma thuật khổng lồ,” Oliver phỏng đoán.

Sau khi nghe họ nói, Chela mỉm cười. “Phải rồi. Song, tớ tin Cô Gilchirst hiểu điều đó khi nói về lí tưởng của mình. Cho dù có không thể bắt chước, chúng ta cũng nên tìm ra giải pháp ma thuật khác. Bất kể có sống ở thời đại nào, chúng ta cũng phải không ngừng mài dũa kĩ năng và không để chúng hoen gỉ. Có lẽ đây mới là ý nghĩa thực sự đằng sau tín điều cô dạy, “Nếu là pháp sư, hãy giải quyết vấn đề của mình bằng ma thuật,” Chela nói.

Katie khoanh tay và hừm. “…Cậu có ý đúng. Cô ấy có vẻ nghiêm khắc, nhưng có lẽ cũng là một giáo viên giỏi. Cô ấy còn nhớ cả tên tớ cơ mà.”

“Có ai lại quên cái đứa nói thẳng vào mặt mình không? Và cậu thực sự nên thôi phản pháo bất kì quan điểm nào mình gặp đi, bởi cậu lí luận dở chết đi được ấy.”

“I-im đi! Tớ sẽ lấp đầy khoảng trống trong kiến thức của mình sớm thôi! Và tớ không hề phản pháo lại tất cả mọi quan điểm! Đó hoàn toàn là hư cấu!”

“Thưa Quý Tòa, nguyên đơn đang nói nhăng nói cuội.”

“Cậu kia!”

Katie đập vai Guy trong lúc cậu ta trêu nhỏ. Hai con người này thì chẳng lúc nào yên được.

Liếc nhìn họ từ phía bên, Chela quay sang Nanao, người vẫn chưa nói năng gì cả.

“Nanao, trông cậu có vẻ buồn. Mấy cái lớp học lạ này làm cậu mệt hả?”

“……Mm, không, tôi ổn. Chỉ đang mơ màng chút thôi,” Nanao hiền lành trả lời. Cô thậm chí còn chưa đụng miếng ăn nào. Chela tốt bụng lắc đầu.

“Không phải gồng mình lên thế đâu. Chẳng ai trách cậu việc mất chút thời gian để làm quen với môi trường rồi mới thể hiện mình ra cả. Tạm thời hãy cứ tập trung vào thích nghi với không khí Kimberly là được rồi,” nhỏ nói, cầm xăng-uých của mình lên cắn một miếng. Nanao làm theo nhưng còn chẳng đến mức cắn ngập răng vào, cái thói háu ăn lúc trước đã biến đi đâu mất.

 

 

Khi giờ nghỉ ngắn ngủi kết thúc, họ di chuyển tới một không gian ngoài trời để tiếp tục bài học.

“A, học sinh mới. Chào mừng đến với ma sinh học. Ta là giáo viên của các trò, Vanessa Aldiss. Nhớ đấy nhé.”

Giọng nói đầu tiên họ nghe thấy phát ra từ một người phụ nữ mặc thường phục. Cả lớp được tách ra thành từng nhóm sáu người ngồi quanh những chiếc bàn học lớn mà cô giáo đi tuần quanh trong lúc nói.

“Trước hết cho ta hỏi: Có trò nào yêu động vật không? Bản thân trò hoặc cha mẹ các trò chủ trương ủng hộ quyền á nhân?”

Câu hỏi kì lạ khiến đám học sinh nhìn nhau. Sau cùng, một vài cánh tay bắt đầu giơ lên. Khi một phần ba lớp giơ tay, Vanessa khịt mũi.

“Hừm, năm nay nhiều phết nhỉ. Mà, rất tiếc phải nói rằng, tất cả các trò cần phải quẳng cái lí tưởng quí giá của mình vào sọt rác ngay và luôn. Ta cảnh báo điều đó vì lợi ích của các trò tại đây. Nếu không các trò sẽ chẳng trụ được lâu đâu.”

Sự náo động dấy lên khắp mặt đám học sinh trước lời cảnh báo đột ngột. Bên cạnh Oliver, Katie bặm môi. Nhưng Vanessa không thương xót.

“Để ta làm rõ điều này ngay và luôn: Trong lớp này, chúng ta sẽ xử lí ma sinh vật, và chúng được coi là ‘tài nguyên thiên nhiên.’ Đây không phải chỗ cho cái lí tưởng cùng chung sống hay tình bạn tình biếc hão huyền của các trò. Sẽ không sai khi cho rằng những tài nguyên này bao gồm tất cả mọi thứ ngoại trừ con người và những tộc có quyền công dân được công nhận. Nhân tiện, còn chẳng đến hai mươi năm trước centaur cũng được coi là tài nguyên. Hồi đó hội đồng chưa đưa ra kết luận về quyền công dân cho loài của chúng. Săn, giết, và ăn thịt chúng là điều hoàn toàn bình thường. Thậm chí xiên gan centaur còn là món khoái khẩu của ta. Bản thân ta vẫn còn chưa chấp nhận được sự thật rằng ta không thể ăn chúng nữa.”

“H-h-hả—?!”

Không thể nghe nổi bài nói man rợ thêm nữa, Katie giơ vọt tay lên, rõ ràng có ý định tranh cãi.

Vanessa liếc một cái rồi bơ nhỏ. “Có lẽ việc mất thời gian cho lí thuyết vào tiết học đầu tiên là điều bình thường, nhưng ta thích kiểu bơi hoặc chìm hơn. Trải nghiệm mới là thứ các trò cần, không phải lí thuyết. Và như vậy đây là chủ đề cho ngày hôm nay.”

Liền đó, cô giáo rút đũa trắng từ bên hông và vẫy nó. Những nắp đậy hộp gỗ tại bàn thực hành của tất cả mở ra, và đám học sinh tò mò ngó vào trong thấy những sinh vật trắng tinh đang ngọ nguậy.

“Một số trò có thể đã biết, nhưng đây là ma sâu tằm. Loài côn trùng này đã được thuần hóa hoàn toàn nhờ phối giống chọn lọc và không thể sống trừ khi được pháp sư cho ăn ma thuật. Chính vì lí do này, chúng thường cố ve vãn con người. Một số người giữ chúng làm kiểng. Hiện tại, chúng không nguy hiểm, nên hãy thử chạm vào xem.”

Được khuyến khích, đám học sinh thận trọng đưa tay về phía sinh vật. Mấy con ma côn trùng được bao phủ trong lông trắng mịn. Khoảng cỡ mèo con ba tháng tuổi, chúng hoàn toàn nhỏ hơn so với giống mà người vô năng nuôi, nhưng nhờ hình dáng phủ lông tơ và đôi mắt tròn đáng yêu, ít có khả năng người ta sẽ nảy sinh ác cảm với chúng như với côn trùng bình thường. Đám học sinh bốc chúng lên từng con một, bắt đầu từ con gần nhất.

“C-chúng đáng yêu mịn màng quá nè!”

“Với cả chúng cũng rất bám người… Gia đình tớ không chăn tằm, nên tớ cũng chưa bao giờ chạm vào con nào cả.”

Đám ma côn trùng bò về phía các học sinh không hề cảnh giác, mấy đứa để chúng lên tay để nhìn gần hơn. Vừa cười khẩy vừa quan sát tụi nhỏ, Vanessa bắt đầu bài giảng.

“Giá trị của ‘những sinh vật này’ rõ ràng đến từ sản lượng lụa của chúng. Kén chúng tạo ra cho quá trình biến hóa để trưởng thành là thứ chúng ta thu hoạch. Chúng lớn hơn sâu tằm bình thường, sản xuất nhiều lụa hơn, và tạo đặc tính ma thuật cho sản phẩm, nhưng điều thực sự đặc biệt về chúng đó là một con có thể tạo ra nhiều kén.”

“Hở? Chúng không tiến hóa thành con trưởng thành sao?”

“Để yên thì có. Nhưng nếu kén được thu hoạch trước lúc không thể trở lại, quá trình biến hóa của chúng sẽ đảo ngược. Chúng có thể sống ở dạng ấu trùng mãi mãi. Bằng cách cho chúng ăn ma thuật và lặp lại quá trình này, họ có thể sản xuất trữ lượng lụa gần như vô hạn trong vòng đời của chúng. Về cơ bản chúng sống vì lợi ích của con người. Không may thay, mặt hạn chế là có. Không tính đến nhiệt độ phải điều chỉnh phù hợp và môi trường cho ăn, sinh thái học của chúng khá là phiền phức. Để ta giải thích.”

Và liền đó, cô giáo bước về phía một bàn thực hành. Thô bạo bốc một con côn trùng ra từ hộp gỗ, cô giơ nó lên cho mọi người thấy.

“Tất cả đám côn trùng ở đây đều đã được nuôi đến giai đoạn ngay trước khi có thể bắt đầu tự mình tạo kén. Cho vào một chút ma thuật, và chúng sẽ bắt đầu quay. Như thế này.”

Trong lúc nói, cô đưa chiếc đũa trắng lại gần con côn trùng. Ngay khắc sau, sinh vật co quắp trước dòng ma thuật chảy vào nó và bắt đầu nhả tơ ra từ miệng. Chất trắng tinh, tao nhã bao phủ cơ thể nó và chỉ khoảng hơn mười giây sau một cái kén mới, hoàn chỉnh đã được hình thành. Đám học sinh ồoo lên kinh ngạc.

“Tuy nhiên, chút cuối cùng mới là phần nhạy cảm. Lần này không sao, nhưng nếu cho chúng quá nhiều ma thuật, mọi thứ sẽ trở nên lộn xộn. Để ta làm cho xem.”

Vanessa đặt một con côn trùng khác lên bàn thực hành và đưa đũa lại gần nó. Mới đầu mọi thứ có vẻ giống hệt lúc nãy. Nhưng liền ngay đó, sinh vật co thắt dữ dội trước dòng ma thuật chảy vào và bắt đầu nhả tơ đen ra từ miệng. Đám học sinh nuốt nước miếng thành tiếng trong lúc nhìn nó trở thành một khối đen xì.

“K-kén đen…?”

“Tránh ra. Nó sắp nở đấy,” Vanessa cảnh báo, dời đám học sinh đi. Vài giây sau, họ nghe được tiếng sột soạt từ bên trong cái kén, và thứ gì đó bật ra ngoài.

“…?!”

“Woa!”

“Waaah!”

Vỏ ngoài đen của nó trông như bằng chất liệu cứng, cánh bên dưới đập với tốc độ cao để nâng con côn trùng cỡ mèo con lên không trung. Đám học sinh sợ hãi giật lùi lại trước kiểu bay giống ong và tiếng cành cạch hăm dọa phát ra từ hàm dưới của nó.

“Rồi, rồi. Flamma.”

Thấy phản ứng của họ, Vanessa bèn vẫy đũa phép. Một ngọn lửa cam bùng lên, đốt cháy con côn trùng đen trong lúc nó đang vo vo lượn. Nó lao thẳng xuống đất. Đám học sinh hãi thầm nhìn xuống khi mà nó cháy quằn cháy quại. Khi nó cháy ra tro một nửa, Vanessa di bết phần còn lại dưới đáy giày và lại nói.

“Như các trò vừa thấy, quá liều ma thuật biến chúng thành quái vật hung hăng. Ấy là tác dụng phụ của tốc độ lớn nhanh của chúng. Một quá trình nhẹ nhàng ngăn không cho điều này xảy ra, nhưng như vậy thì việc sản xuất lụa lại quá chậm. Do đó, ta phải chấp nhận một vài mất mát. Đến cả người chăn tằm dạy dạn nhất cũng sẽ để mất một con cứ mỗi ba mươi ấu trùng.”

Vanessa nhún vai, xúc cảm duy nhất thể hiện ra là chút nuối tiếc khi mà vụ lụa sẽ giảm mất một con. Cho dù muốn hay không, giờ các học sinh đã trực tiếp hiểu thế nào là đối xử với ma sinh vật như tài nguyên.

“Như các trò có thể đoán, bài tập hôm nay chính là thực hiện bước cuối cùng này. Mỗi đứa có mười con. Nếu có thể thành công với năm con trở lên, thì đạt. Nghe vui nhỉ phải không?”

Đám học sinh nuốt nước miếng ừng ực trước phần việc sắp tới của mình. Vanessa đưa một lời cảnh báo nữa.

“Với cả, thất bại, thì phải tự mình dọn. Chúng không khó giết đâu—cứ đốt chúng bằng phép lửa trước khi nở, hay đâm chúng bằng athame là được. Mỗi người không được phép giúp nhau. Bí quyết nằm ở việc coi đũa phép của mình là muỗng cà phê còn ma thuật là nước. Các trò sẽ muốn cho chúng ba thìa ma thuật rưỡi. Mà mỗi con mỗi khác, nên đó chỉ là ước lượng chung chung thôi. Điều ta muốn nói đó là, việc chúng sống hay chết là tùy thuộc vào mỗi người.”

Và không cho ai thời gian để chuẩn bị, Vanessa vỗ tay.

“Hiểu chưa? Tốt. Giờ bắt tay vào việc đi!”

Chính xác như đang thả một người không biết bơi xuống nước. Với đũa thần trong tay và lòng xốn xang, nhiều học sinh bốc lấy con sâu—và giống hệt như những năm trước, náo loạn nổ ra.

“Agh! Nó tự nhiên chuyển đen rồi…!”

“Mau đốt nó đi thằng đần! Nó mà nở ra là không ai xử lí được đâu!”

“Ba thìa rưỡi là bao nhiêu? Tớ dở mấy cái số đo chi tiết này thực sự…”

“Im lặng đi! Người ta đang tập trung!”

Đến cả sự đo lệch nhỏ nhất cũng sẽ làm hỏng nỗ lực của họ. Xung quanh Chela, các pháp sư thực tập đang cố thành công trong tuyệt vọng khi mà một mình nhỏ có vẻ thất vọng.

“…Bài tập gì mà dễ vậy. Còn chẳng phải mất thời gian nữa,” nhỏ nói, đặt mười con sâu thành một hàng trên bàn thực hành. Nhỏ lần lượt vẫy đũa thần lên đầu từng con, rót ma thuật vào và khiến chúng nhả lụa. Tuy nhiên, có một kén chuyển đen.

“Chín kén thành công trên mười, với một thất bại. Cũng không quá tệ. Flamma.”

Ngay khi kết quả hiện ra, Chela niệm phép lửa lên cái kén đen và đốt nó. Mồm Guy há ra vì sốc trước sự hờ hững của nhỏ.

“H-hờoo, đúng là không do dự…”

“? Đến cả một người chăn nuôi lành nghề cũng sẽ để mất khoảng ba phần trăm số sâu, vậy chỉ một thất bại thôi là khá tốt rồi. Đạt được điểm số tối đa là dựa vào may mắn. Nếu không định trở thành người chăn lụa, thì chẳng cần phải luyện tập dữ quá làm gì đâu,” nhỏ giải thích, như thể điều mình đang nói là hiển nhiên. Vì là người xong bài tập đầu tiên, nhỏ nhìn quanh sang các bạn.

“Oliver, tớ cá kiểu bài tập này cũng có trong chuyên môn của cậu. Để tớ trông Nanao, còn cậu sao không đi giúp Katie với Pete đi nhỉ?”

“K-không ai giúp tớ à?”

“Guy, riêng cậu phải thất bại năm lần trước đã. Khi nào quen rồi thì hẵng đi xin lời khuyên.”

“Đùa nhau, việc tớ dở mấy cái này rõ ràng thế cơ á?”

Có vẻ không hợp với công việc tinh vi được yêu cầu, Guy cầm đũa lên đầy cam chịu.

Oliver hướng chú ý đi chỗ khác; cậu lo lắng cho Nanao, nhưng hiện tại đa phần cậu đang lo cho một người khác.

“…Katie, cậu làm được không?” Oliver khẽ hỏi.

Mặt Katie tái ngắt trong lúc nhìn trân trân con sâu trong hộp gỗ. Sau khi ngồi đứng hình mất vài giây, nhỏ kiên quyết gật đầu.

“T-tớ ổn. Nói cho cậu biết, tớ giỏi điều chỉnh mana đấy nhé…!” nhỏ nói, như đang triệu hồi sức mạnh tinh thần của mình. Tay run, nhỏ rút đũa phép từ bên hông. Mặt nhỏ nghiêm túc hơn bất kì học sinh nào khác. Oliver không chắc mình nên nói gì thêm không nữa. Lỡ cậu làm rối sự tập trung của nhỏ thì tệ phải biết.

“Pete, cậu—?”

“Tôi không cần lời khuyên. Cậu đang quấy rầy đấy, nên đừng có đứng sau lưng tôi nữa.”

Oliver nhận được câu trả lời cộc lốc tạt vào sự lo ngại của mình. Nhưng không phải điều ấy nằm ngoài mong đợi. Ngoan ngoãn, cậu bước sang một bên. Cậu nhấc đống sâu của mình ra khỏi hộp gỗ, nửa vẫn để mắt đến Chela đang hướng dẫn Nanao.

“Chắc mình làm cho xong bài tập đi thôi.”

Cậu xếp hàng mười con ma sâu tằm trên bàn thực hành và rót ma thuật vào chúng, như Chela làm. Chín con thành công như mong đợi, nhưng một thất bại và quay tròn thành kén đen.

“……”

Do dự một khắc, Oliver khéo chỉnh người và che cái kén đen đi để Katie không thấy.

“…Flamma.”

Cậu niệm phép, và trước mặt, sinh mệnh ngoài ý muốn nhanh chóng cháy thành tro bụi.

 

 

Hai mươi phút sau khi giao bài tập, Vanessa, đó giờ hầu hết chỉ quan sát, nói với cả lớp.

“Được rồi, chắc đủ thời gian rồi đấy. Sao, mấy đứa? Trung bình mỗi đứa có được ba con không?”

Cô giáo len qua lớp học, mặt trông tàn bạo thích thú. Kết quả của từng học sinh lên xuống điên đảo. Vanessa liếc từng bàn thực hành đánh giá những phần cháy đen còn lại như đi mua đồ ngoài chợ, cười vui vẻ trong lúc lượn lờ.

“Hừm, hừm… Thôi thì, tốt hơn mấy năm khác, chắc vậy. Cũng không đứa nào bị tấn công do không tiêu hủy được sai lầm… Hửm?”

Đột nhiên cô ngừng lẩm bẩm. Ghé đến bàn thứ năm, cô thấy Katie đang đối mặt với mấy con sâu, đũa sẵn sàng nhưng hoàn toàn bất động. Xung quanh nhỏ, mấy đứa bạn nín thở quan sát.

“Ê, ê, vẫn chưa xong hả? Mất thời gian quá đấy. Chỉ là chút trộn mana thôi mà.”

“Thì đang làm đây! Im lặng giùm cái!” Katie hét. Nhỏ còn chẳng biết mình đang nói chuyện với giáo viên nữa. Tất cả sự tập trung đều đổ dồn vào mấy con sâu trước mặt, từ chối thất bại dẫu có là một trong mười ngàn lần thử.

Oliver đang toát mồ hôi ra nhìn khi mà Chela xuất hiện bên cạnh.

“Hầu hết là thất bại, nhưng Nanao xong rồi. Bên này có chuyện gì vậy?”

“…Tất cả đều xong ngoại trừ Katie. Nãy giờ nhỏ đã cực kì cẩn thận, tức là may mắn đã thành công được chín lần, nhưng mà…”

“Uầy, tuyệt vậy. Vậy thì nhỏ không cần cẩn thận nữa rồi.”

Trông thấy sự khó hiểu trên mặt Chela, Oliver cắn môi. Cảm xúc phức tạp dâng trào trong cậu. Đây không phải vấn đề về nhân cách hay cảm quan. Chela xuất thân từ một gia đình ma thuật nổi tiếng—trong thế giới của nhỏ, tất cả những điều này là bình thường, nên nhỏ khó lòng mà đồng cảm được với xung đột nội tâm của Katie.

“Một lần nữa… một lần nữa thôi…! Ổn mà, minh làm được…! Chị thề sẽ cứu em…!” Katie không ngừng lẩm bẩm với chính mình. Rồi, nhỏ vung đũa xuống với sự tin chắc.

Thì rồi, một luồng gió gợn qua chỗ mồ hôi đọng sau gáy nhỏ sau khi tập trung quá lâu.

“Éccc! …Hở?”

Sự tập trung của nhỏ chỉ trật mất một nhịp. Ấy vậy, đó lại là khác biệt then chốt giữa thành công và thất bại. Trước mắt nhỏ, con sâu rót quá tay bắt đầu nhả tơ đen.

“A—a, a, a…!”

Một màu đen đậm đáng quan ngại bao phủ sinh vật trong tay nhỏ. Tuyệt vọng chất chứa trong mắt Katie trong lúc nhỏ nhìn; vai nhỏ run, và nhỏ đứng đơ như phỗng.

Lo lắng, Oliver liền bước tới. “Thất bại rồi, Katie! Mau thiêu đi! Không nó nở ra bây giờ!”

Chiếc kén đen cần phải nhanh chóng bị đốt. Đó là luật lệ quan trọng nhất của bài tập này, và ưu tiên của nó còn đứng trước cả thành công hay thất bại. Nhưng nhỏ sẽ không làm vậy. Katie quẳng đũa phép lên bàn thực hành và cầm cái kén lên bằng cả hai tay.

“K-Katie?!”

“Vẫn còn thời gian! Nếu có thể gỡ kén trước khi…”

Đầu óc nhỏ quá rối loạn, đến mức chỉ có thể nghĩ ra được một kế hoạch điên rồ như vậy. Trong cơn tuyệt vọng, nhỏ giống như một bậc thân sinh đang ẵm đứa con đã chết của mình—chỉ để nhận lại sự trừng phạt do đã phạm phải điều cấm kỵ. Con côn trùng, ló đầu ra khỏi cái kén sau khi tự cắn đường thoát thân, không thương xót ngoạm vào tay phải nhỏ.

“Augh…?! A-aaaaa…!”

“Ầy, ngu thế thì chịu. Đã bảo chúng hung hăng rồi mà. Nếu không giết nhanh thì nó ăn mất ngón tay ráng chịu,” Vanessa nói, không lấy làm ấn tượng. Ấy vậy, cô chẳng hề có ý định can thiệp. Nhận ra điều này, Oliver và Chela rút athame chém con côn trùng đang làm hại bạn mình.

“……A…”

Katie nhìn, đờ đẫn, trong khi con côn trùng rơi xuống đất thành ba mảnh. Vết cắn trên tay đã ngập vào xương, nhưng nhỏ dường như không để ý. Nhỏ cứ thế nhìn trân trân vào phần còn lại của sinh mạng mình đã không thể cứu.

“Cậu ổn chứ, Katie?! Gì liều quá vậy, ai lại dí tay vào kén thất bại thế!”

“Đưa tay đây! Để tớ niệm phép hồi phục ngay—”

Chela và Oliver nháo nhào hai bên cạnh nhỏ. Nanao, Guy, và Pete cũng chạy tới, nhưng giọng của những người bạn không còn chạm đến tai nhỏ nữa.

“…A…ô…”

Katie đưa bàn tay phải máu me về phía tàn dư của con côn trùng, như thể chẳng biết đau là gì.

Mặt Oliver méo mó đầy đau khổ. Cậu đã thấy điều này từ cách xa cả dặm nhưng vẫn chẳng làm gì để ngăn nó lại được.

Vanessa, nhìn đám học sinh nhảy tới chăm sóc bạn mình, khịt mũi khinh rẻ.

“Suýt chút nữa nhỉ? Đùa, lại còn đúng ngày đầu tiên nữa. Lạy chúa tôi, cái đám công chúa chưa biết mùi đời…”

Lời lẽ cô ta chẳng có tí quan ngại nào. Vai Oliver giật.

Thoáng trông thấy biểu hiện của cậu, Chela giật lùi lại.

“…Thưa Cô, Katie cũng bị thương trong đoàn diễu hành hôm qua. Ngón tay bạn ấy không thương nặng lắm, nên chắc bạn ấy chỉ bị sốc. Bọn em đưa bạn ấy đến bệnh xá được không?” Oliver hỏi một cách vô cảm, không thèm nhìn bà giáo. Vanessa thô lỗ vẩy tay.

“Ừ, ừ. Thoải mái. Ồ, với cả, Trò Horn, Trò McFarlane? Các trò đã không nghe theo lời cảnh bảo không được giúp tiêu hủy thất bại của người khác. Nên hãy coi đó như hình phạt đi.”

Cô ta áp dụng hình phạt không khoan nhượng. Chela lặng lẽ chấp nhận đưa Katie mượn một bên vai và đỡ nhỏ dậy.

“Em không có vấn đề gì cả. Nào, đi thôi, Katie. Để tớ dìu cậu đến bệnh xá.”

“Tớ đi cùng cậu. Guy, Pete, Nanao, ở lại lớp. Tớ sẽ trở lại ngay.”

Và như vậy, họ rời khỏi không gian tập luyện ngoài trời, đỡ Katie ở cả hai bên. Một khi đã đi đủ xa, Chela nói nhỏ với Oliver.

“Oliver, hít thở sâu đi.”

“…Hở?”

“Trong mắt cậu có ánh nhìn nguy hiểm. Tớ chắc chắn cậu đã định tấn công giáo viên lúc ở đó,” nhỏ nói, giọng đầy vẻ khó dễ.

Oliver bặm môi và thở sâu. Tay vẫn còn run vì giận, cậu đút được kiếm lại vào trong vỏ.

 

 

Lớp ma sinh học tiếp tục mà không có ba người họ như thể chưa có gì xảy ra. Khi lớp học kết thúc, Guy, Pete, và Nanao trở lại tòa học viện, nơi họ hội nhóm với Oliver và Chela tại một sảnh.

“Học xong rồi, nhưng mà… giờ sao? Lần này cả nhóm có cùng đi thăm nhỏ không?” Guy hỏi, gợi ý điều đầu tiên mình nghĩ ra.

“Không phải ý tệ, nhưng tớ nghĩ Oliver nên đi trước,” Chela xen vào.

Oliver nhướn mày ngạc nhiên. “Chỉ tớ thôi á? Tại sao? Cả năm đều ở đây mà.”

“Bởi có lẽ cậu là người hiểu cảm giác của Katie lúc này nhất,” Chela nêu, khoanh tay. Thừa nhận điều đó có vẻ làm tổn thương nhỏ đôi chút. “Tớ không thể nói mình có hiểu. Tớ hiểu thế nào là yêu động vật, và tớ có thể đoán bạn ấy bị sang chấn tâm lý do không thể an toàn đưa con sâu đó thành một cái kén. Nhưng… đó chỉ là phỏng đoán thôi. Tớ không thực sự có thể đồng cảm.”

Oliver có thể thấy sự cố này đã khiến nhỏ ấy nhận ra sự khác biệt giữa cách mình và Katie nhìn nhận sinh vật sống. Và sợ rằng mình sẽ làm tổn thương bạn mình hơn khi cố động viên.

“Tớ tin Guy cũng có chung cảm giác,” Chela nói tiếp. “Nanao đã không còn là chính mình từ lúc ăn trưa, và Pete không phải kiểu người biết an ủi người khác. Vậy chỉ còn cậu thôi, Oliver. Chỉ mình cậu có thể đồng cảm với bạn ấy đủ để biết cách động viên.”

Mặt Oliver đanh lại, và cậu khoanh tay trước lời khẳng định cậu là người thích hợp cho vai trò này.

Chela mỉm cười bâng khuâng với cậu. “Tớ chắc cậu cảm thấy khó chịu khi tự dưng phải nhận trách nhiệm. Vậy nên nếu gặp rắc rối, thì cứ ra ngoài. Bọn tớ sẽ quay trở lại cùng cậu như một đội.”

“…Được, tớ sẽ làm. Không chắc việc này sẽ ổn đến mức nào, nhưng cứ chờ tớ ở nhà ăn.”

Đã quyết định, cậu quay gót và bước đi. Mang trên vai sức nặng từ nỗi lo và hy vọng của bạn mình, cậu nhanh chóng hướng đến bệnh xá.

 

 

Sau khi Oliver báo cậu đến để thăm một học sinh, bác sĩ học viện chỉ cậu đến một giường ở mặt sau bệnh xá. Cảm nhận được cô gái phía bên kia bức màn riêng tư, Oliver bồn chồn lên tiếng.

“…Oliver đây. Katie, tớ vào nhé?”

“Ồ—ừ. Cứ vào đi.”

Nhỏ nhanh đáp, và Oliver bước qua bức màn. Nhỏ đang ngồi lặng lẽ trên giường. Cậu khẽ mỉm cười.

“Xin lỗi chỉ có mình tớ. Mọi người còn lại đều muốn đến, nhưng chắc như vậy thì khó nói chuyện hơn. Nếu cậu muốn gặp ai khác, thì cứ bảo…”

“Không, tớ mừng là cậu đến… Xin lỗi vì lại làm cậu lo nữa. Sắp đến bữa tối rồi, phải không? Đừng lo, tớ sẽ trở lại ngay—”

Nhỏ nói nhanh và định đứng dậy, nhưng Oliver đưa tay ngăn nhỏ lại.

“Ngồi xuống, Katie… Cứ ngồi đi,” cậu giục nhỏ, và nhỏ ngồi xuống trở lại. Oliver ngồi ở ghế người thăm nên là họ đang đối mặt nhau và thở dài. “Tớ biết có ai đến thì cậu cũng lại cố là phẳng mọi thứ ra thôi… Nhưng nếu được thì, cậu chiều tớ một chút được không? Tớ muốn nói về một điều khá phức tạp, tự ý mình.”

“Ồ… đ-được.”

Katie, cảm nhận được sự nghiêm túc, bèn ngồi thẳng dậy trên giường. Khi nhỏ sẵn sàng, Oliver nói tiếp.

“Chúng ta chỉ vừa mới gặp, và tự nhiên bảo cậu cởi mở ra với mình thế thì đúng là thô lỗ… Nên trước hết, để tớ kể cho cậu một câu chuyện quá khứ của mình được không?”

Nhỏ gật đầu.

Oliver tạm ngừng để lựa từ ngữ, rồi bắt đầu. “Hồi bảy tuổi, tớ có một con vật nuôi. Tên nó là Doug. Nó chỉ là một con chó săn thỏ bình thường, không thông minh lắm, nhưng dễ thương và rất thân thiện. Vì là con một, tớ và nó trở thành bạn thân nhất chỉ sau một đêm. Hồi đó cái gì bọn tớ cũng làm cùng nhau.”

Một nụ cười thoáng hiện lên má khi cậu nhớ lại những ngày vui vẻ ấy. Katie chú tâm lắng nghe.

“Một hôm, Doug đột nhiên bị sốt. Nó không ăn và lúc nào cũng đau. Tớ đã rất lo lắng. Cha tớ bảo cái đó tùy từng lúc mới bị, và ông ấy chắc chắn Doug sẽ hoàn toàn ổn chỉ sau một tuần nghỉ ngơi.”

Nét mặt Oliver sầu thảm trong lúc nhớ lại chi tiết sự ốm đau của chú chó yêu dấu của mình.

“Nhưng tớ đã không chờ nổi một tuần. Tớ không thể chịu được việc ngồi một chỗ nhìn Doug đau đớn… Nên tớ nảy ra ý tưởng chế thuốc để chữa cho nó. Lúc đó, tớ đã biết căn bản về trộn thuốc ma thuật. Cha mẹ bảo tớ giỏi việc đó, nên tớ tự tin mình có thể pha ra thứ gì đó đơn giản. Lén lút, tớ đọc trộm ma đạo thư của cha mẹ, thu thập nguyên liệu, rồi trộn chúng lại với nhau. Rồi tớ cho Doug uống.”

Cậu ngừng lời, cuộn tay lại thành nắm đấm. Đầu cậu gục xuống.

“Kết quả là bi kịch… Chưa đầy một tiếng sau, Doug bắt đầu ho ra máu và chết.”

“……!”

Hơi thở của Katie nghẹt lại trong họng. Mắt vẫn hướng xuống, Oliver ép mình nói tiếp.

“Tớ đã lấy sai nguyên liệu. Về sau tớ có xem lại, và có vẻ là, tớ đã trộn một loại cây độc mạnh cùng đống thảo dược mình thu thập. Loại cỏ đúng có lá tương tự nhưng rễ thì hình dạng khác. Nếu biết trước, tớ đã có thể phân biệt chúng. Nhưng vì học hành không đủ, nên tớ không biết được. Thành ra tớ đã giã cây mà không biết nó có độc rồi đem đun lên. Tớ bảo Doug uống vào sẽ làm nó khỏe hơn. Nó không nghi ngờ tờ dù chỉ một khắc.”

“……!”

“Không phải tớ đang cố so sánh chuyện đó với điều xảy ra trong lớp lúc nãy, nhưng mà… Chỉ là tớ cảm giác mình có thể đồng cảm một chút. Đó là điều tớ muốn nói.”

Và theo đó, cậu kết thúc câu chuyện về một sai lầm đau đớn từ thời thơ ấu của mình. Một khoảng lặng dài bao phủ hai người họ.

“…Tớ cũng có nhiều động vật ở nhà lắm.”

Cuối cùng, Katie cũng bắt đầu mở lòng từ từ.

“Chó, mèo, chim, bò sát, ma thú lớn, và cả á nhân nữa. Tớ thân nhất với Patro, con troll của nhà. Nó đã bảo vệ tớ từ khi còn bé. Patro luôn tốt bụng. Khi tớ khóc, nóc cồng tớ lên vai và đưa đi chơi. Buổi tối khi tớ không ngủ được, nó ở bên và hát ru tớ. Cậu có biết troll có thể hát không? Giọng chúng kì lắm, như kiểu sáo làm từ vỏ sò lớn ấy.”

Giọng nói nhẹ nhàng và nét mặt mềm mỏng của nhỏ làm Oliver mỉm cười. Nhận thấy cậu đang điềm tĩnh nhìn mình, Katie hơi rụt lại vì xấu hổ và mỉm cười theo.

“Đối với người ngoài, hẳn là gia đình tớ kì lắm. Chắc Guy nói đúng. Cha mẹ tớ bảo họ từng sùng đạo Duy Tâm. Hồi còn trẻ, họ đã bỏ ra rất nhiều nỗ lực để nghiên cứu cách tạo ra thế giới nơi mọi sinh vật có thể chung sống mà không làm hại lẫn nhau. Từ thuyết ăn chay đến phát triển hạt ma thuật chứa dinh dưỡng, họ đều thử hết… Nhưng khi mẹ mang thai tớ, tớ đoán bà ấy đã thu hẹp lại chỉ còn bảo vệ á nhân. Bởi vậy—và có lẽ nghe hơi kì, nhưng thịt có ở trên bàn ăn của chúng ta giống như mọi người khác.”

Nhỏ cay đắng gặm môi trong lúc nhớ lại.

“…Ừ, tớ cũng ăn thịt cá. Chúng không khác gì so với con ma côn trùng đó. Tớ đã cố hiểu logic của mẹ mình. Xã hội không thể phát triển nếu chúng ta cấm tất cả mọi thứ bởi chúng có thể làm hại ai đó. Điều này đúng đối với cả người hữu năng lẫn vô năng.”

“……”

“Nhưng cảm xúc của tớ không theo được. Chỉ là tớ không thể có suy nghĩ như vậy—tất cả mọi sinh vật ngoại trừ những loài được trao quyền công dân đều là tài nguyên để pháp sư sử dụng. Tớ không thể chấp nhận cái ranh giới vạch ra đó. Tớ không muốn chấp nhận điều được coi là bình thường ở đây…!”

Katie ôm đầu gối và dữ dội lắc đầu. Oliver lặng lẽ nghĩ về tình thế khó xử của nhỏ trước khi lại cất lời.

“… ‘Giả sử cái ‘thiên đường’ người vô năng tin vào này có tồn tại.’”

“…Hở?”

“Ấy là câu trích từ một cuốn sách tớ đọc lâu về trước. ‘Các “thiên thần” sống ở đó không bao giờ đói khát, đấu tranh, hay đố kị. Nếu mọi người xung quanh ta đều như vậy, thì làm người tốt thật dễ.’”

Katie trống rỗng nhìn trong lúc cậu nói tiếp.

“‘Nhưng bụng ta trở nên rỗng tuếch, họng ta trở nên khát khô. Số người nhiều hơn số gạo là điều thường tình; những kẻ ta ghét, ta đánh; và những kẻ thông minh hơn, ta ghen. Trong một thế giới mà làm người tốt thật khó, chúng ta phải làm gì để trở nên tốt hơn?’”

Katie nuốt hơi thở ngược lại. Xong câu trích, Oliver thở hắt.

“Câu trích đó nằm ở nửa sau cuốn sách. Nó thể hiện xung đột trong câu truyện được viết nên bởi nhân vật chính. Cứ khi nào thấy ai phải chịu khổ vì cố tỏ ra tốt bụng, tớ lại nhớ đến đoạn đó.”

“……”

“Chừng nào còn sống ở thế giới này, thì tai ương đối với lòng tốt còn tồn tại. Tốt bụng về cơ bản là từ bỏ lợi ích bản thân. Điều này cũng không chỉ giới hạn ở cách chúng ta đối xử với á nhân—cho người khác bánh mì tức là bản thân sẽ có ít hơn. Đem áo khoác cho người khác tức là bản thân sẽ không có gì mặc khi trời lạnh. Ta không nhận được gì từ nó cả, và đó là điều lòng tốt luôn phải đấu tranh cùng.”

Katie ngước nhìn mặt Oliver trong lúc cậu nói. Chưa một ai ngoài cha mẹ từng nói chuyện với nhỏ một cách nghiêm túc như vậy.

“Bỏ qua cái làn gió ngược này mà sống thì dễ hơn nhiều. Có làm thế cũng chẳng ai trách cậu đâu. Song, có những người vẫn đang chống trả lại. Suốt cả cuộc đời tớ đã chứng kiến—những người vẫn cố hết sức làm điều tốt mặc cho khó khăn có thế nào.”

Cậu ấy đang nghĩ về ai vậy nhỉ? Katie thắc mắc.

“Cha mẹ cậu chắc hẳn cũng như vậy. Nên theo một cách hiểu nào đó, có lẽ ngôi nhà cậu lớn lên là nhà của thiên thần, chan chứa lòng tốt và lòng mến khách, nơi mọi sinh vật có thể sống trong hạnh phúc và hòa thuận. Nhưng giờ, cậu đã giáng xuống Hạ Thế và trải nghiệm sự độc ác của nó. Nên…cậu không còn có thể là thiên thần nữa.”

“……!”

“Chấp nhận thực tại này và sống tiếp, hay phủ nhận nó và thống khổ là tùy ở cậu. Có chọn thế nào thì cũng không sai. Không ai trách móc gì lập trường của cậu cả. Nhưng nếu cậu chọn cách đối tốt với người khác…”

Oliver ngừng lại và nhìn thẳng vào mắt nhỏ. Katie, như bị mê hoặc, nhìn ngược lại cậu.

“Cách sống đó, theo tớ, thật cao quý. Cao quý hơn, hơn bất cứ thiên thần nào.”

Lời lẽ của cậu chứa đựng một sự mong manh dễ vỡ đáng kinh ngạc. Một giây sau, mặt Katie đỏ bừng lên.

“Ờm… ờ…”

Ngồi trên giường, nhỏ hướng mắt nhìn xuống và nhích vai một cách kì cục. Oliver, nhận ra cách chọn từ của mình có hơi căng quá, bèn nhanh chóng lên giọng.

“N-nói chung là…! Điều tớ muốn nói là cậu chắc chắn không một mình đâu! Lối sống của chúng ta không ngừng bị thách thức bởi sinh y đạo lý của thế giới ma thuật, và chúng ta đang tiến từng bước. Vậy nên phong trào ủng hộ dân quyền mới có sức ảnh hưởng như vậy. Cậu không chiến đấu một mình đâu… Đừng có đặt nặng quan điểm của mỗi bà giáo ấy quá,” cậu nhấn mạnh, rồi lại nhìn vào mắt nhỏ. “Đừng vội quá, Katie. Cậu mới chỉ thấy một góc nhỏ của Kimberly thôi. Tuyệt vọng và quyết định có thể đợi sau mà. Cứ thử tìm khắp học viện xem, và tớ dám chắc cậu sẽ tìm ra những người cùng chí hướng. Bọn tớ cũng ủng hộ cậu nữa. Tuy là nhìn nhận và quan điểm của mỗi người khác nhau… nhưng giờ chúng ta là bạn bè rồi mà, phải không?”

Khoảnh khắc những lời ấy chạm đến tai, cảm tưởng như gánh nặng đã được trút khỏi vai nhỏ.

“Cậu nói đúng. Cậu nói đúng lắm, Oliver. Tớ đần thật sự. Chả hiểu sao, tự nhiên tính làm quân thập tự một mình hay gì?”

Tâm trạng nhỏ quay ngoắt 180 độ. Thế gian dường như sáng trở lại, và nhỏ bật ra khỏi giường.

“Cảm ơn cậu, Oliver. Tớ ổn rồi. Lần này, tớ thực sự ổn hơn rồi.”

Giọng nhỏ chắc nịch, sức mạnh lại trào dâng. Oliver mỉm cười ấm áp lại với nhỏ.

 

 

Một tiếng sau, ăn tối xong ở Tình Bằng Hữu, sáu người bạn đang bước dọc sảnh của tòa học viện.

“Aaaa, ngon quá! Tớ no căng rồi!” Katie nói đầy hứng khởi.

Chela mỉm cười bước bên cạnh. “Mừng là thấy cậu ổn hơn rồi. Tớ không thể nào để cả hai người về phòng trong trạng thái trầm cảm được,” nhỏ nói, mắt hướng sang người bạn còn lại. Nanao đã im lặng suốt cả ngày.

Hoạt bát trở lại, Katie di chuyển sang bên cô bạn và cố bắt đầu một cuộc trò chuyện.

“Nanao, cậu ổn chứ? Tớ biết từ xa đến đây cảm thấy thế nào mà. Tất nhiên cậu sẽ nhớ nhà rồi. Nếu có gì phiền muộn thì cứ nói tớ. Tớ sẽ luôn ở đây để lắng nghe cậu.”

“…Mm. Cảm ơn, Katie.”

Nanao mỉm cười yếu ớt trước sự ân cần của bạn mình. So với ngày hôm qua, cứ như thể một ngọn lửa trong cô đã bị dập tắt.

Bằng khóe mắt, Oliver quan sát cô. Rõ ràng điều này có liên quan đến cuộc đấu khẩu giữa hai người hôm trước.

“…Ồ,” Pete thở ra, có vẻ nhận ra điều gì đó khi họ mới ra khỏi tòa nhà, và đứng lại. Mấy người còn lại tò mò nhìn cậu lục lọi trong cặp. Cậu cau mày, rồi lên tiếng.

“…Tôi phải quay trở lại trong. Cứ đi trước đi.”

“Sao vậy? Quên gì hả?”

“Chỉ là sách thôi. Tôi biết nó ở phòng nào, nên đi một mình là được rồi,” Pete nói và quay gót. Thì rồi, hai con người lập tức xuất hiện hai bên cậu.

“Hai cái đầu thì tốt hơn một, đúng không, Pete?”

“Và ba thì lại còn đặc biệt an tâm hơn, phải không nào?”

Bị kẹp giữa Oliver và Chela, Pete hoảng.

Hai người họ nói tiếp như đang song ca.

“Đừng tưởng tìm đồ thất lạc ở Kimberly dễ dàng như mấy chỗ khác.”

“Biết đâu bọn tiên trêu người đã đem nó về tổ rồi. Nhỡ thế thì cậu biết phải làm gì không?”

Kính cận ré lên “Éc!” khi họ chỉ ra điều này, và họ mỉm cười. Giống như Nanao. Pete không quen với cuộc sống của một pháp sư. Không đời nào họ có thể để cậu quay trở lại tòa học viện một mình.

“Đừng lo. Thực ra tớ tìm đồ khá giỏi đấy. Kết hợp cùng Oliver, tớ đảm bảo gần như cái gì trên đời này cũng tìm được.”

“Ba người là đủ quá rồi. Nanao, Katie, hai cậu về phòng ngủ sớm đi. Còn, Guy, bạn cùng phòng đang đợi cậu mà phải không?”

“…Ừa. Tớ không hiểu cái anh bạn này lắm, nên nếu có cơ hội nói chuyện thì tốt. Mà tớ cũng chả giỏi tìm đồ, nên thôi để mấy cậu xử lí đấy,” Guy trả lời, vẫy tay. Katie và Nanao gật đầu bước tiếp theo cặp. Pete khịt mũi; Oliver cất bước về phía tòa học viện.

“Vậy được rồi. Đi thôi nào!”

 

 

 

Tòa học viện tĩnh lặng, như một nơi khác hẳn so với lúc ban ngày. Ba người họ bước dọc sảnh và sớm đến chỗ mà Pete bảo là nơi mình làm mất sách.

“Phòng thần chú học, hở? Pete, cậu ngồi kia phải không?” Oliver hỏi.

“Đúng rồi. Nếu không ai cầm, thì chắc nó ở dưới bàn….,” Pete đáp và bước đến chỗ bàn, rồi dừng lại chỗ mình ngồi trong lớp. Cậu cúi xuống và lục cái kệ dưới bàn, ngón tay cậu cảm nhận được sự thân thuộc từ tấm bìa lông. Cậu thở phào nhẹ nhõm.

“…Thấy rồi! Đó, dễ mà.”

“Ồ, vậy thì tốt,” Chela nói. “Tớ còn tưởng tụi mình phải lần theo dấu chân tiên cơ.”

“Hoặc nhỡ đâu có con ma nào lấy mất rồi. Pete, may cho cậu đấy.”

“Mấy người tính dọa tôi đấy hả?! Khả năng đầu tiên đáng lẽ phải là học sinh khác cầm mất chứ!”

Pete cẩn thận đặt sách vào trong cặp trong lúc bĩu môi trước trò đùa của họ. Oliver và Chela mỉm cười.

“Cơ mà, cũng mừng là nhanh. Mau về kí túc thôi kẻo muộn,” Oliver nói.

“Đúng thật. Còn quá sớm để chúng ta qua đêm ở đây,” Chela đồng tình.

Hai người họ gật đầu với nhau và quay đi. Pete hơi cau mày.

“…Có thật là…những thứ như ma và tiên có tồn tại không?”

“? Tất nhiên rồi. Đây là Kimberly cơ mà.”

“Ban đêm ở đây cực kì nguy hiểm,” Oliver cảnh báo. “Đó là lúc sự xâm nhập xảy ra. Ma là một chuyện, nhưng còn có cả những thứ xấu xa hơn nữa.” Họ bước từ phòng học ra ngoài sảnh. Trong lúc họ lần theo vết chân cũ của mình, Oliver tiếp tục giải thích. “Kimberly còn có tên gọi khác là Học Viện Đền Quỷ Dữ chủ yếu vì ngôi trường được xây bọc quanh một mê cung lớn—”

“Cái đó tôi biết. Pháp sư đầu tiên khám phá ra độ sâu của nó chính là nhà sáng lập.”

“Chính xác. Tuy nhiên, có một vấn đề. Tòa học viện là một cái nắp đậy phong ấn thứ gì đó—nhưng bản thân ngôi đền thì còn sống,” Chela nói, nhìn xuống chân. Pete, chợt bước hụt về phía trước.

“Nó ngủ yên vào ban ngày, nhưng về đêm, khi hạt ma thuật cô đặc hơn, ngôi đền sẽ thức tỉnh. Đó là lúc sự xâm nhập xảy ra,” Chela nói tiếp. “Ngôi đền bắt đầu xuất hiện ở từng chỗ, và ranh giới giữa nó và học viện bắt đầu nhòa dần.”

“Càng muộn thì ranh giới càng mờ nhạt. Tầm này thì không nguy hiểm lắm, nhưng nếu trễ hơn nữa chúng ta có thể bị bắt cóc—”

Oliver đang nói dở khi mà cả ba người họ chợt đứng hình. Trước mặt họ là một bức tường đá kéo dài từ dưới đất lên trần nhà. Hết sức đột nhiên, nó cắt ngang sảnh mà họ đang đi.

“…Đường cụt rồi. Chúng ta rẽ nhầm ư?” Pete hoài nghi quay người lại. Song, hai người ở hai bên cậu lại mang vẻ mặt kinh khủng hơn nhiều.

“…Không có. Chính lối đi đã thay đổi. Chela!”

“Chính xác!”

Họ quát nhau và nhảy qua bọc sườn Pete, xem xét xung quanh,

“Pete, đừng cử động đột ngột,” Oliver cảnh báo. “Xem chừng chúng ta vướng phải chút trở ngại rồi.”

“Thật vậy… tớ chưa bao giờ nghe nói sự xâm nhập nào sau khi mặt trời lặn diễn ra nhanh đến mức bóp méo cả sảnh như vậy.”

Căng thẳng nặng nề đè nén cuộc trò chuyện của họ. Sự khó hiểu hiện lên trên mặt Pete trước điều đang xảy ra.

“C-chẳng phải chúng ta sẽ ổn nếu quay trở lại lối vào sao? Vẫn còn nhiều sảnh khác dẫn ra ngoài…”

“Không có gì đảm bảo chúng cũng chưa bị bóp méo. Nhớ Chela nói gì không? Ngôi đền đang sống. Trong lúc chúng ta nói, thì nó đang nhập vào học viện đấy.”

Khi Pete nghe những lời đó và ráp chúng với thực tại trước mặt mình, cậu chàng kính cận cảm giác một cơn ớn lạnh bò dọc sống lưng.

Lưng quay về phía đường cụt, Oliver nói chắc nịch. “Quyết định lên kế hoạch thôi. Theo tớ chúng ta nên đợi tới khi đụng phải giáo viên hoặc học sinh khóa trên trong lúc tìm lối ra. Ai có ý kiến gì không?”

“Tớ không. Tớ có thể thực hiện thần chú SOS, nhưng muốn để đến cuối nếu được. Tớ không phiền thiệt hại nó gây ra cho danh tiếng của mình, nhưng cũng có khả năng nó sẽ triệu hồi một thứ tệ hơn.”

Hai người họ đồng ý không tranh cãi gì cả. Pete thì đang quá bối rối không nói được gì.

“Hở? Ờ, à—”

“Không phải hoảng, Pete. Tuy nó xảy ra sớm hơn mong đợi, nhưng mấy cái này không có gì lạ ở Kimberly cả. Giáo viên và các đàn anh đàn chị khóa trên hẳn đang tuần tra quanh học viện để ngăn không cho học sinh mới mất tích rồi. Bị lạc chút chứ có phải tận thế đâu—”

 

“Đúng rồiii. Thấy mấy đứa trông cậy vào ta thật mừnggg quá đi mất.”

 

Giọng nói bỏ bùa, ngọt muốn tiểu đường. Một ngón tay trắng bóc len qua màn đen dinh dính phủ lấp mê cung, cắt qua nó. Ba người bạn quay về phía âm thanh thấy một phù thủy đang cười man dại.

“Ba con cừu lạc con… Dễ thươnggg quá, làm ta chỉ muốn ăn tươi nuốt sống.”

Ả bước về phía họ, tiếng bước chân vang lên có chút trễ. Ngay lập tức, Oliver bước lên phía trước.

“…Chào buổi tối. Chị là… một đàn chị khóa trên, phải không?”

“Chuẩn. Tên ta là Ophelia Salvadori. Năm bốn,” phù thủy đáp, rồi nghiêng đầu thắc mắc và đặt ngón trỏ lên cằm nghĩ ngợi. “…Ta vẫn là năm bốn, nhỉ? Lâu quá rồi chẳng lên lớp, nên chả biết nữa. Nhưng chắc là vậy. Hẳn rồi. Rất vui được gặp nhóc, cừu nhỏ.”

Ả mỉm cười, vẻ đẹp hút hồn đủ sức làm tan chảy giác quan người khác.

Chela nuốt nước miếng. “Oliver…”

“Ừ, biết.”

Cậu thận trọng gật đầu. Salvadori—theo họ biết, thì đây là một trong những cái tên người ta không muốn bắt gặp nhất ở trong mê cung. Oliver liếm môi. Im lặng vô ích sẽ không giúp họ thoát khỏi vụ này.

“Tôi là Oliver Horn, năm nhất. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng sẽ có ngày mình đụng phải Salvadori trứ danh ở một nơi thế này.”

“Ồ, nhóc biết ta à?”

“Lại chẳng. Trước khi thành học sinh ở đây tôi rất lấy làm mê cuốn Nghiên cứu về Sự phát triển Nhanh chóng từ việc Lai tạo Kraken và Scylla.”

Tốt, Chela thầm đồng tình. Cậu đã làm rõ rằng không phải họ không biết gì, một điều sẽ gây trở ngại nếu ả cho rằng Oliver cũng như những năm nhất ngây thơ khác.

Khó mà nói Ophelia nắm bắt được bao nhiêu phần ngụ ý của cậu. Ả giữ dáng nghĩ ngợi một lát rồi vỗ tay.

“…À, cái bài luận ta viết bừa hồi năm ba ấy. Xấu hổ thật. Chắc là nhóc nghĩ nó dở lắm.”

“Không, tôi còn khó mà tin nổi một năm ba đã viết ra lí thuyết đó, còn chưa kể độ chính xác của lôgic… đến mức làm người ta ớn lạnh,” Oliver nói thêm, họng khô khốc vì lo sợ. Giờ cậu đã khẳng định rõ mình hiểu được tầm sâu của nỗi kinh hoàng của ả.

Miệng phù thủy cong thành một nụ cười. Chỉ vậy là đủ để cậu biết ả ta hiểu. “Năm nhất mà thông minh phết. Ta có thể biết tên các bạn nhóc được không?”

“Tôi e là không. Nếu muốn nói chuyện với họ, thì hãy nói vào ban ngày.”

Cậu giữ sự tôn trọng tối thiểu đối với học sinh khóa trên trong lúc thẳng thừng từ chối ả. Việc ả định kéo người khác vào trò chuyện cùng chứng tỏ ả coi cậu không phải dạng vừa.

“Hee-hee-hee. Không việc gì phải sợ đâu. Phải không hả, nhóc?” phù thủy gọi Pete qua phía vai Oliver. Kính cận rùng mình.

“……”

“Pete?!”

Cậu ta bước về phía phù thủy, mắt trống rỗng. Oliver nắm vai và giật cậu ta lại. Liền đó, mũi Oliver ngửi thấy có mùi xạ hương cám dỗ đang lan tỏa khắp khu vực.

“Nước Hoa đấy!” cậu quát. “Chela, nín thở! Bịt mũi Pete lại!”

“Hiểu rồi!”

Chela nhận ra nguy hiểm gần như cùng lúc và liền lấy tay bịt mặt cậu bạn. Oliver lập tức lườm Ophelia đầy tăm tối, mặt ả đang trộn giữa thất vọng và sợ sệt.

“Nhóc kháng cự được ta ư? Hee-hee, giữ mình giỏi đấy.”

“……”

“Không phải giận. Ta chưa có dùng thuốc men gì để mê hoặc bạn nhóc đâu. Chỉ là ta là vậy thôi. Ta lan tỏa nó chỉ bằng việc sống và hít thở bình thường.”

Một chút phản đối bản thân rỉ ra từ giọng ả. Nhưng liền đó, nó biến mất. Phù thủy bật cười và đưa tay ra hiệu.

“Nào, chẳng phải nhóc đang ở xa quá sao? Sao không lại gần đây?”

Hương thơm trở nên nồng nặc hơn. Một mùi huyễn hoặc làm lơi lỏng lí trí và thui chột bản năng. Tập trung sự tự chủ và ghê tởm, Oliver chống lại cám dỗ.

“Chúng tôi từ chối!” cậu cương quyết hét lên. “Đi thôi, mọi người!”

Cậu lướt về phía trước. Chela dùng tay kéo theo Pete còn đang u mê, và ba người họ chạy qua Ophelia. Nhưng trước khi kịp chạy nổi mười bước. vô số hàng rào trắng vọt lên chặn đường họ.

“…?!”

“Không phải vội, nhóc. Ả ta cô đơn mà. Mua vui cho ả thêm chút cũng chẳng chết ai đâu,” một giọng nam, trầm vọng qua sảnh. Nhưng trước khi Oliver kịp nghĩ đến việc tìm nơi phát ra, cậu rùng mình trước cảnh tượng trước mặt. Xương. Hàng rào được làm toàn bộ từ xương của nhiều sinh vật khác nhau, kết nối vào nhau bất tận.

“Ta là Cyrus Rivermoore, năm năm. Xem chừng nhóc này khá là chăm học. Thế nhóc đã đọc bài luận của ta chưa, hả Oliver?”

Phía bên kia hàng rào cổ quái là một thuật sĩ, từ hướng hắn tỏa ra mùi xác chết gây buồn nôn. Đôi mắt hắn soi xét ba người họ bằng khí chất trang nghiêm của một linh mục dị giáo. Pete, vừa mới thoát ra khỏi lời nguyền, rúm ró trước ánh nhìn của Rivermoore chĩa vào mình.

“Ugh… A—”

“Đừng cử động, Pete!” Oliver cứng rắn hét lên, tóm lấy tay cậu bạn khi nó định chạm tới athame bên hông theo phản xạ. Cổ tay Pete giật, rồi bất động. Chela cũng đặt tay lên người cậu.

“Đúng vậy. Rút kiếm ra là xong đấy. Cậu chỉ càng giúp hắn lấy cớ tự vệ thôi.”

Pháp sư tên Rivermoore nhìn Chela đầy vui thú. “Nhóc đây chắc hẳn là con gái nhà McFarlane. Chà, đám năm nhất năm nay đúng là kinh khủng thật.”

Hắn cười khùng khục từ phía bên kia hàng rào xương. Ba người lặng lẽ đối mặt với hào quang hăm dọa của hắn trong lúc phù thủy lại gần từ phía đằng sau.

“Đã lâu không gặp, Rivermoore. Ta tin rằng lần cuối ta gặp ngươi là ở tầng bốn. Ngươi đã xong cái vụ tàn phá xác chết hàng đêm ấy rồi hả?” ả hỏi.

“Bản chất của con người là đôi lúc lại muốn được chạm vào thịt tươi. Xem chừng nhà ngươi đã kiếm được một món đồ chơi non nớt rồi. Vẫn không chịu nổi ham muốn xuất phát từ nửa thân dưới, nhỉ, Salvadori Harlot?” Rivermoore đáp cùng vẻ thân quen lạ lùng và sự khinh bỉ ra mặt.

Nụ cười vụt tắt khỏi khuôn mặt phù thủy. “…Dám gọi ta bằng tên đó thì chắc ngươi cũng chuẩn bị tinh thần để xanh cỏ rồi ha.”

“Ha! Bộ ngươi quên mất lần trước nửa khúc ruột của ngươi đã bị ta xé thế nào rồi hả?”

“Ồoo, sao mà quên được. Đau lắm đấy nhé. Vậy nên ta mới không thể thôi nghĩ mình sẽ chơi đùa với bộ lòng của ngươi thế nào trong lúc ngươi còn thở.”

Không khí trở nên nặng nề hơn theo từng lời hăm họa hai bên quẳng vào nhau. Lòng thù hận giết chóc của chúng rít lên đầy nhức nhối như hai bánh răng khổng lồ không ăn khớp. Đối với những người kẹt ở giữa, thì đúng chẳng khác nào cực hình khi mà tâm trí và nhận thức của họ bị xé vụn.

“Ugh… A… Aaaa!”

“Bình tĩnh đi Pete! Không sao, không sao cả…!”

Oliver bọc một tay quanh người Pete, người đã sợ hết chịu nổi, và tuyệt vọng cố trấn an cậu chàng. Chẳng mấy chốc họ sẽ không chịu nổi được nữa.

Chele một cách đau đớn cũng nhận thức được điều này và liền nói nhỏ đầy lo lắng, “Có không được thì cũng phải chạy thôi. Chứ cứ đứng giữa trận chiến của năm tư và năm năm thế này thì kiểu gì cũng dính đạn lạc.”

“Ừ… Để tớ đếm ngược. Khi tớ ra tín hiệu, cậu hãy chạy nhanh hết sức có thể.”

Chela gật đầu đầy cay đắng trước gợi ý của cậu. Không có gì đảm bảo họ sẽ thoát được, nhưng hết lựa chọn rồi. Việc họ vô cùng bị áp đảo thì không cần phải nói—nếu có đánh lộn xảy ra chỉ một khắc thôi, thì cũng giống như họ đang phải đối mặt với thảm họa tự nhiên vậy.

“…Rồi, đi!”

Cậu sẽ mở đường máu qua tấm hàng rào xương và chạy, dù có gì xảy ra đằng sau cũng sẽ không dừng lại. Tập trung tinh thần, Oliver vừa định di chuyển thì…

“Có mùi chiến trận.”

…yêu kiều, một cô gái Azian quen thuộc xuất hiện ở phía bên kia hàng rào xương.

“…Nanao?”

“Mm? Ồooo. Oliver, Chela, và Pete. Tớ bắt kịp các cậu rồi nhỉ?”

Phát hiện các bạn mình, Nanao bước tới thong thả không chút cảnh giác. Khoảng cách giữa họ thu nhỏ lại trước mắt—đột nhiên, một cái lồng xương mới trồi lên, bọc xung quanh tất cả bọn họ.

“?! Đệch—!”

“Thêm thịt nữa, hửm? Năm nhất, đừng có rời khỏi lãnh thổ của ta, không là ta không đảm bảo được tính mạng mấy nhóc đâu.”

“Càng đông càng vui! Cứ bình tĩnh, mấy cừu nhỏ. Ta sẽ tới chào mừng mấy đứa trong chốc lát thôi.”

Những lời đó báo hiệu cuộc chiến sắp sửa bắt đầu—phù thủy và thuật sĩ rút athame của mình ra cùng một lúc.

“Balthus.”

Tiếng niệm của Ophelia vang lên. Ngực ả hơi ánh màu tím, và từ ánh sáng bí ẩn, một cánh tay khổng lồ vọt ra. Đường kính dày gần bằng thân trên ả, nó cào cấu quanh không gian lạ đối với nó.

“Congreganta.”

Rivermoore theo bằng một phép của mình. Xương đủ hình dạng kích cỡ tích tụ lại ngay trước mắt họ, nhanh chóng tạo thành một con thú bốn chân. Cuồn cuộn lên và sẵn sàng xộc tới, nó giống như một con sói không thịt, khổng lồ, hay một con sư tử đang săn mồi ở mảnh đất chết.

“Ha! Thì ra là ngươi lại đẻ thêm một đứa ác ôn nữa.”

“Lời nói của một thằng mãi không chịu bỏ trò nghịch xương. Ta ngạc nhiên là ngươi còn chưa thấy chán đấy.”

Hai người họ đấu khẩu, nhạo báng phép thuật của nhau. Cả hai đều không phải người—đặc biệt là Ophelia, với hình dáng quái dị của ả. Pete, cuối cùng cũng bình tâm lại được một chút, vừa run rẩy vừa lên tiếng.

“…Đ-đó là phép triệu hồi hả?”

“Không. Một phép đơn giản không thể nào triệu hồi một ma thú mạnh như vậy đâu,” Chela đáp, giọng cũng run. Họ nhìn Ophelia niệm lần nữa.

“Balthus!”

Cánh tay vươn ra bám lấy sàn nhà và tự kéo mình hẳn ra khỏi thân trên ả. Nét mặt phù thủy lẫn lộn giữa đau đớn và ngây ngất, xóa nhòa sự khác biệt giữa chúng. Sũng trong chất nhầy đỏ thẫm, con chimera khổng lồ nay đã được sinh ra đầy đủ.

“GRRÀÀÀÀÀÀÀÀÀÀÀOOO!”

Một tiếng rống vui sướng trào dâng từ cuống họng con chimera, như cất tiếng khóc chào đời. Bầu không khí trong mê cung giần giật vì điện, và nước hoa vốn có trong không khí hòa quyện cùng mùi tanh của máu và nước ối.

“Mụ ấy vừa đẻ,” Oliver nói, nổi hết da gà. “Không có cách diễn tả nào khác đâu!”

Ngay khắc đó, chimera của Ophelia nhảy về phía trước. Cẳng tay khủng bố xoẹt một đường ngang, dễ dàng phá hủy sinh vật xương.

“Congreganta deformatio.”

Nhưng phản ứng với phép của Rivermoore, đống xương tản mác nhanh chóng tái dựng lại. Dù hắn ta có đang làm gì, thì cũng bí ẩn hơn nhiều so với bên mụ phù thủy. Là khiển rối chăng? Ma thú thân cận? Thuật gọi hồn? Khả năng cao là hỗn hợp của cả ba cái. Con thú xương, giáp lá cà với chimera, tự tái sắp xếp mình thành một con rắn khổng lồ và thắt lại bằng lực không tưởng đối với một thứ không có xương.

“RAAAAAAHHHHHHHH!”

Con chimera vật lộn, rống lên khàn khàn. Xương con rắn vang lên cót két trước sức khỏe như Héc-quyn. Rivermoore tặc lưỡi.

“…Vậy là rắn không trói được nó, hử? Lần này cái bụng tạp nham của ngươi chửa cái thứ quái quỷ gì thế?

“Câu đó của ta mới đúng. Ta không nhớ mình từng thấy cái xương sống kia. Nói xem, ngươi đã lột nó từ cái xác nào?”

Con rắn xương không chứa nổi con chimera và lại rụng rời. Rivermoore niệm một phép khác, triệu hồi xương mới từ sau lưng hắn.

“Unh… Ugh…”

Tay Pete đang bám chặt vào ống áo đồng phục của Oliver. Không ngạc nhiên—đây chắc là lần đầu tiên cậu chàng chứng kiến một trận đấu giữa các pháp sư. Tất cả những gì Oliver có thể làm là nắm bàn tay run bần bật của Pete để cậu ta không mất trí vì sợ.

“A—đây chắc chắn là vùng đất chết. Hoài niệm quá đi mất,” Nanao bình luận, hoàn toàn không hợp hoàn cảnh. Oliver nhìn cô, khiếp đảm. Nhưng liền đó, cô đã rút kiếm ra từ hông và chém xuyên tấm chắn xương vây quanh họ chỉ bằng một nhát.

“Không phiền nếu tôi tham gia chứ?”

“…?!”

Ba học sinh năm nhất không thể tin nổi điều mình vừa nghe. Đến cả Ophelia và Rivermoore cũng dừng trận đấu lại để nhìn cô một cách hiếu kỳ. Nanao vẫn không nao núng.

“Oliver, Chela, Pete, nếu các vị định rút lui, thì giờ là lúc đấy,” cô nói qua sau vai mình. “Một khi tôi tham gia, thì cuộc chiến sẽ trở thành ba chiều. Trong một trận đấu cân bằng như vậy, sẽ không bên nào có thể dễ dàng di chuyển đâu.”

Cậu ấy bị ngốc hả? Oliver nghĩ theo cảm tính, nhưng đâu đó một phần cũng nhận ra cô có ý đúng. Nếu một trong hai người đang đấu kia bị phân tâm bởi sự can thiệp của Nanao dù chỉ một khắc, thì sẽ bị bên còn lại hạ ngay lập tức. Không phải là Nanao không có khả năng tác động đến trận chiến.

“Cậu đang làm cái—?”

Ngay cả vậy, cậu vẫn không thể đứng nhìn cô ấy bị giết. Oliver với tay ra định nắm vai cô nàng—nhưng trước khi kịp làm vậy, năng lượng toát ra từ lưng cô ngăn cậu lại.

“Tôi không cần sự quan ngại của ngài. Ngay từ trận chiến đầu tiên, hộ vệ tuyến sau vốn đã là vị trí của tôi,” Nanao nói, trách ý định ngăn mình lại của cậu. Hệt như lúc đối mặt với con troll, trong mắt cô không có lấy dù chỉ một ánh do dự.

“Xác sống đơn giản là thuộc về cõi chết—chỉ vậy thôi. Đi đi, ba người!”

Nanao hét lên và, thủ kiếm, bước một bước ra khỏi tấm xương chắn. Oliver đã bỏ lỡ mất cơ hội ngăn cô lại—do dự một hồi, Chela theo sau cô bạn.

“Oliver, đưa Pete chạy đi.”

“Chela?!”

Ngay khi bước qua đống xương, nhỏ cũng rút athame ra. Ngoài mong đợi, nhỏ mỉm cười và nói về sau lưng mình, “Mỗi người hãy bảo vệ một bạn. Vậy là được mà, phải không?”

Hơi thở của Oliver nghẹt lại trong họng. Lòng cậu đau như cắt trước ý nghĩ Chela sẽ phải đi vào chỗ chết để bảo vệ bạn mình.

“……!”

Quay lưng bỏ chạy đi! phần lí trí trong cậu gào thét. Đó sẽ là câu trả lời đúng. Nếu cậu ở lại, thì chỉ càng tổ có khả năng cả đám chết trùm với nhau. Pete đang mất dần lí trí. Sẽ chẳng còn cơ hội nào tốt hơn để thoát thân nữa.

Ấy vậy, Oliver nghĩ, Mình còn phải chịu đựng chuyện này bao nhiêu lần nữa? Trong tâm cậu nhức nhối trước việc lợi dụng lòng tốt và sự tận tâm của người khác để sống sót. Cậu còn phải trải qua chuyện này bao nhiêu lần nữa—chứng kiến ai đó chết để bảo vệ cậu trong khi giữ họ an toàn là điều cậu muốn hơn hết thảy?

“Mẹ kiếppp!” cậu hú lên và khựng lại. Oliver rút thanh athame ra khỏi vỏ.

Chela nhìn cậu sốc ra mặt, nhưng cậu chẳng còn quan tâm nhỏ nghĩ gì nữa. Một cách mỉa mai điều đó lại làm cậu thoải mái.

Phương hướng của cậu rõ ràng: Cậu sẽ tham gia vào cái trận chiến siêu nhân không thể thắng này. Cậu sẽ không bao giờ sống sót, nhưng bằng cách nào đó sẽ giật được chiến thắng từ răng nanh của thất bại. Là một pháp sư, cậu mài sắc ý chí—

 

“Ignis!”

 

“—?!”

“Gwah…!”

Đột nhiên, một ngọn lửa đỏ thẫm nuốt chửng những sinh vật dị dạng, khiến chúng bốc cháy.

“Đủ rồi. Tôi tưởng đã cảnh báo hai người về việc bắt nạt học sinh mới rồi cơ mà,” một giọng mới vang lên. Nó nghiêm nghị và mang tính kỷ luật, khác hẳn so với hai người kia.

Oliver quay ra nhìn xuống cuối sảnh thấy một pháp sư mặc đồng phục Kimberly giống hệt họ, đã rút athame ra đầy cương quyết.

“…Tro thì không biết trả lời đâu. Vẫn cứ là đốt trước hỏi sau nhỉ, Luyện Ngục,” Rivermoore cười nhạo. Bằng cách nào đó hắn đã tạo được một lá chắn từ xương và tránh được ngọn lửa.

Người bên kia khịt mũi. “Đừng có gọi tôi bằng cái tên dở tệ đó trước mặt các học sinh mới. Đừng lo, bốn em. Anh sẽ không để chúng làm hại các em đâu, không thì tên anh không còn là Alvin Godfrey, chủ tịch hội học sinh của Kimberly nữa.” Anh nói khẽ, nhưng họ nghe được rõ như chuông ngân. Tại một góc đang cháy của sảnh, một bóng hình khác cử động.

“Nghe gì chưa? Cuộc vui kết thúc rồi. Giờ thì ngoan đi, Lia.”

“Carlos…!”

Ophelia, vốn đang nấp sau bóng con chimera hóa than chờ thời cơ đánh trả lại, thì chợt nhận ra có kẻ đang đứng sau lưng dí kiếm vào cổ mình. Giữ mụ phủ thủy bất động, học sinh khóa trên thứ tư lên tiếng vẻ thân thiện.

“Còn chụy là Carlos Whitrow, trưởng ban năm năm ngầu lòi của các em. Rất vui được gặp, mấy mèo nhỏ,” người ấy nói và, thổi một nụ hôn bằng tay trái để không. Thân hình gầy gò kiểu ái nam ái nữ, cùng một phong cách nói năng rất độc và lạ. Hơn cả, giọng nói cao vút đẹp đẽ mê li đến mức làm Oliver và mấy người khác quên mất cả mình đang ở đâu. Tướng tá là của đàn ông, nhưng Oliver không thể ngay lập tức xác định giới tính của chụy.

“Hình phạt cho hai người sẽ được phát ra sau. Salvadori, Rivermoore, nếu hai người hiểu, thì mau quay về xưởng của mình đi. Cư dân vùng sâu như hai người không có phận sự gì ở những tầng cao hơn cả,” học sinh khóa trên tự xưng là Godfrey nghiêm nghị nói.

Hai tiếng tặc lưỡi đầy bực dọc.

“…Tất cả xương ta thu thập đều bị đốt sạch trong cái vở hài kịch này rồi. May cho ngươi đấy, đũy succubus.”

“Ồ, có mà ngươi may ấy, thằng ăn xác. Rúc vào xó nào mà mục rữa đi để lần sau ta còn giết ngươi.”

“Hê-hê—Buồn cười!”

Họ chí chóe nhau một lần cuối trước khi tan biến vào bóng đêm. Khi hai người đã rời khỏi, Godfrey thở phào và hạ thấp lưỡi kiếm.

“Đi rồi hở? …Đại khái anh cũng biết chuyện gì xảy ra rồi. Bốn em đúng là phải xui lắm mới đụng phải mấy kẻ thế này ngay từ đầu năm học đấy,” anh chàng nói vẻ đồng cảm. Anh cười nhẹ. “Trước hết thì cảm ơn các em vì đã cầm cự cho đến khi bọn anh tới. Nhỡ có đứa nào bị bắt cóc thì đã khó khăn hơn nhiều rồi. Đuổi theo chúng vào tận những tầng sâu không phải chuyện dễ dàng gì đâu.”

“Đám người này chẳng bao giờ lượn lờ ở mấy tầng trên cả, nhưng chúng sẽ ló mặt ra một chút sau buổi lễ nhập học. Mà chắc việc tò mò về những gương mặt mới cũng là bình thường thôi, dù cho có là năm mấy đi nữa.”

Whitrow cười mệt mỏi. Phải mất một lúc Oliver và các bạn mới nhận ra nói chuyện đùa đùa kiểu vậy tức là họ đã được cứu.

Chân vẫn còn run, Oliver bước lên phía trước và cúi đầu trước những học sinh khóa trên.

“…Em là Oliver Horn, năm nhất. Cảm ơn các anh chị rất nhiều vì đã cứu em và các b—,” cậu mở lời, nhưng Godfrey giơ tay.

“Lễ nghĩa để sau đi. Phải mau đưa các em ra khỏi đây đã. Được khen thì anh cũng thích, nhưng chắc mấy đứa đây cũng mệt cả rồi. Nên để hôm nào mình làm quen sau.”

Cùng với đó, anh ta chỉ về phía sảnh. Whitrow, người vốn đứng sau lưng họ, cũng xen vào.

“Nghe rồi đấy. Chụy sẽ bọc hậu, nên cứ nghe lời Godfrey đi. Không có nơi nào an toàn ở Kimberly hơn năm mươi thước bán kính xung quanh ổng đâu.”

 

 

Mỉa mai thay, nghe theo chỉ dẫn ra khỏi mê cung họ chỉ mất có mấy phút để đến lối ra. Ngay khi họ bước ra khỏi cảnh cửa trước thân thuộc, giọng của những người bạn liền vang lên.

“O-Oliver!”

“Với cả Nanao nữa! Ôi, tạ ơn trời…!”

Những người bạn chạy tới cùng niềm nhẹ nhõm không giấu diếm. Katie nắm lấy tay Nanao bằng cả hai tay.

“Vừa quay lại cái cậu đã biến mất tiêu rồi… Làm tớ lo chết đi được!”

“Xin lỗi, Katie,” Nanao xin lỗi yếu ớt. Đó là lúc Oliver nhận thấy một học sinh khóa trên đứng sau lưng các bạn mình. Chị ấy toát ra một phong thái uyên bác, phù thủy, tóc mái che mắt bên trái, nhưng cậu thấy một ánh hiền từ bên mắt bên phải.

“Ồ!” Katie thốt lên. “Để tớ giới thiệu. Đây là Chị Miligan, năm tư. Chị ấy thấy tớ và Guy loanh quanh trong sảnh nên đã dẫn ra ngoài.”

“Năm nào tầm này mấy anh chị khóa trên cũng phải làm việc này cả. Cũng không khó khăn gì mấy. Cơ mà…” Cô gái tên Miligan ngắt quãng và ngửi ngửi. “Nước hoa và chết chóc. Bốn đứa bốc ra mùi nguy hiểm nồng nặc.”

“Tụi nó bị kẹt giữa Salvadori và Rivermoore,” Godfrey giải thích từ phía sau lưng Oliver.

Sự đồng cảm sâu sắc hiện lên mặt Miligan. “Đúng là khủng khiếp. Bị kẹt giữa ceberus và hydra còn an toàn hơn chán.”

Biểu cảm chính xác một cách vô vọng làm Oliver choáng váng.

Miligan cười, rồi quay người lại. “Để chị đưa các em đến kí túc. Chủ tịch Godfrey, Whitrow-senpai, hai người quay trở lại được rồi.”

“Cảm ơn, Miligan. Có vẻ vẫn còn vài người nữa bị kẹt. Hẹn gặp lại.”

Trước khi Godfrey kịp nói dứt câu, anh và Whitrow đã quay trở lại về phía học viện. Katie định hỏi gì đó, nhưng hai người đã ở quá xa rồi.

“…Họ đi mất rồi. Còn chưa kịp hỏi tên nữa.”

“Tầm này trong năm hai người ấy đặc biệt bận. Chào hỏi cẩn thận đành để sau vậy,” Miligan khẽ nhấn mạnh trước khi dẫn sáu người họ về phía kí túc xá. “Mấy đứa đã vui vẻ với chuyến thám hiểm trong đêm chưa? Giờ thì trở lại thôi nào.”

 

 

Khi bước vào sân kí túc, Miligan nói nhẹ một câu với họ rồi đi. Trong bóng đêm tĩnh lặng, sáu người nhìn nhau ngơ ngác.

“Cũng, ờ, khá muộn rồi nhỉ? Chắc chúng ta nên ai về—”

Katie định mở lời thì bị Oliver chặn họng, tóm lấy cổ áo Nanao.

“Cậu tính cố tình để bị giết hay gì hả?” cậu hỏi, giọng chứa đầy thịnh nộ. Bốn người còn lại ngạc nhiên đến mức không kịp phản ứng.

“…Hở? Khoan đã, Oliver?”

Katie nhanh chóng ngăn cậu lại, nhưng cậu giữ nhỏ ở một khoảng cách cố định bằng tay còn lại.

“Tớ không trách cậu việc đi theo bọn tớ một mình vào học viện lúc buổi đêm,” cậu dữ dội nói tiếp. “Học sinh mới nào cũng ngây thơ và tò mò cả, và cả tớ cũng có lỗi, khi đã không giải thích được sự nguy hiểm.”

Nanao đứng lặng lẽ, gương mặt trống rỗng trong lúc bị Oliver mắng nhiếc. Cậu nhìn sâu vào mắt cô.

“Nhưng tự dấn thân vào một trận đấu giữa hai học viên khóa trên không nằm trong số đó. Cậu còn tự bảo mình là xác sống đã tìm được nơi để chết.”

“……”

“Đã biết là tự sát, vậy mà vẫn còn làm! Mà không, chính xác là cậu muốn chết, đúng không hả?”

“Bình tĩnh đi, Oliver!” Chela la lên, không thể đứng bên nhìn được nữa. Nhận ra mình có hơi quá đà một chút, Oliver bèn nghiến răng.

“Tớ hiểu cảm giác của cậu,” Chela nói. “Tớ cũng sẽ hỏi cậu ấy về chuyện đó sau. Nhưng giờ chuyện gì thì cũng rồi, có lẽ chúng ta nên cùng bàn về nó sau thì hơn.”

Điều này làm giảm đi một chút căng thẳng; nắm tay Nanao, Chela dẫn cô và mấy người còn lại tới một góc sân. Họ ngồi quanh một đài phun nước nhỏ, và nhỏ tóc lọn niệm một phép cách âm bao bọc họ.

“Giờ thì không phải lo về nghe lén nữa. Nanao… cứ từ từ cũng được, nhưng có thể cho bọn tớ biết vì cớ gì mà cậu lại làm vậy không?”

Chela ngồi xuống ghế đài phun nước, bắt Nanao ngồi cạnh mình. Katie cũng đã ngồi xuống, nhưng Oliver bướng bỉnh không chịu ngồi. Guy và Pete đứng cùng cậu. Bị mọi người đổ dồn ánh mắt vào, Nanao cuối cùng cũng chịu mở lời.

“Có lẽ Oliver nói đúng… Tôi đã không còn muốn sống nữa từ lâu rồi,” cô nói và, có chút bẽn lẽn, nắm lấy ngón tay phải của mình. “Nhưng quan trọng hơn, hiện giờ tôi khó lòng cảm nhận được mình đang thực sự sống.”

Năm người bạn giật mình trước lời thú nhận ngoài mong đợi này. Nanao, ngước nhìn bầu trời lạ lẫm bằng ánh mắt xa xôi, kể họ nghe về quá khứ của mình.

 

 

Từ lâu cô đã không còn đếm số lượng những kẻ địch mình đã giết—và con số những người đồng đội ngã xuống. Lí lẽ của cô đơn giản: Chừng nào còn có kẻ địch để đánh bại, thì có đếm cũng chẳng để làm gì cả. Tương tự, nếu sau cùng con số ấy sẽ chạm đến không, thì việc đếm từ từ cũng sẽ không mang lại thay đổi gì.

‘““““““Haaah!”””””” 

Cô né mũi thương lao đến, gạt nó qua một bên, và chém rụng kẻ thù trước mặt. Cô đã làm việc này từ rạng sáng, kể từ lúc mặt trên lên đến thiên đỉnh. Sau khi đáp trả lại vô số làn công kích từ địch, cô gái và những người đồng đội còn sống còn có thể thở được thêm một chút.

“Hộc! Hộc! Hộc! Hộc…!”

Con đường núi nhỏ hẹp. Họ đã ở đây dường như hàng tiếng đồng hồ, chiến đấu để bảo vệ đường lui cho lực lượng chính khỏi một đợt công kích nối tiếp. Bằng thiết lập phòng thủ mang tính ứng biến trên đường núi, họ đã có thể kịch liệt chống trả lại lực lượng địch áp đảo đang cố xuyên phá qua.

Bản thân việc này đã là một phép màu. Tất cả những gì họ có để chống trả lại đoàn quân năm mươi ngàn đơn vị là hai trăm lính ít ỏi. Đã không còn là lúc để nghĩ ra bất kì chiến lược nào nữa. Hàng giờ hàng giờ chiến đấu mệt mỏi đã khiến quân số của họ chỉ còn chưa đầy một nửa so với ban đầu. Song, tinh thần của họ vẫn vững vàng. Không ai có ý định quay lưng bỏ chạy, và đến cả những người đồng đội bị giết cũng ngã về phía trước chứ không phải sau trong khi trút hơi thở cuối cùng của mình. Đang chiến đấu ở tiền tuyến là một cô bé còn nhỏ tuổi, và không ai có thể tỏ ra hèn nhát trong khi cô bé ấy còn ở đây.

“Sao thế, Kiryuu? Chân run hết cả rồi kìa!”

“Tổ sư cái bọn điên cuồng thích tự sát tụi bây,” Souma Yoshihisa, tổng chỉ huy của lực lượng Kiryuu buông lời chửi rủa. Một đoạn trong cuốn sách về nghệ thuật chiến trận mà chính lão từng viết nhiều năm về trước đang hiện lên rõ mồn một trong tâm trí: Trên chiến trận ta không sợ kẻ bậc thầy, mà kẻ không còn gì để mất. Nghe cứ như một câu đùa. Cơ mà lại đúng chính xác cho tình huống này!

“Sao thế hả? Các ngươi đông hơn bọn ta với tỉ lệ một trăm chọi một! Cần quái gì phải lên kế hoạch với bày binh lằng nhằng làm gì! Nếu các ngươi thực sự là những chiến binh Kiryuu vĩ đại trong truyền thuyết, thì chẳng phải chỉ một người đã là đủ để mở đường rồi sao!” Ai đó đang khiêu khích lính phe Yoshihisa từ trên đỉnh đồi. Giọng nói nghe rõ ràng và dễ chịu, nhưng cũng chứa đựng sự điên tiết tột bực. Làm thế nào mà giọng nói này lại cắt qua được tiếng rống xung trận của những chiến binh?

Yoshihisa ngước nhìn kẻ lên tiếng. Trên đỉnh gò dốc là thủ lĩnh của phe thua thế, một chiến binh nhỏ thó. Con người này chính là nguyên do duy nhất khiến chúng bị trói chân như vậy, đồng thời vực dậy tinh thần chiến đấu của đám lính đồng minh bầm dập và biến họ thành lính thượng hạng, không ngại tự sát.

“…Nó đập tan nỗi sợ trong trái tim người lính; chính sự tồn tại của nó cho phép chúng chiến đấu với chênh lệch khổng lồ như vậy. Nó là anh hùng, cái… con nhóc này.”

Mặt Yoshihisa biến dạng; lão không thể chấp nhận điều này. Qua giọng nói, lão biết con bé còn rất nhỏ. Ban đầu, lão đã tưởng ấy là một thằng nhóc vừa mới làm lễ trưởng thành và lấy làm thương hại nó—nhưng ngay khi nhận ra đó là một con nhóc, đầu lão quay cuồng dữ dội, đến mức gần như ngã nhào ra đất. Sau một giờ đồng hồ, quan điểm của lão dần thay đổi; nay, sau ba tiếng đồng hồ, lão nhận ra sự thương hại lúc đầu là hoàn toàn vô nghĩa. Một con nhóc ư? Ha! Cái thứ này chả dễ thương mẹ gì cả.

“…Chuẩn bị xả tên đi,” Yoshihisa lẩm bẩm sau một hồi lặng dài. Phó chỉ huy của hắn liền giãy nảy.

“Cha chắc chứ, thưa Cha? Quân số của chúng quá là…”

“Làm đi. Nếu đến cả một đứa trẻ còn có thể khiêu khích chúng ta mà không nhận lại hậu quả gì, thì danh dự chiến binh của chúng ta đã bị vứt cho chó gặm từ lâu lắm rồi. Công việc của chúng ta có phải là viết thêm trang vào câu chuyện hy sinh anh dũng của chúng không? Trả lời ta đi, Yasutsuna!” Yoshihisa đáp, gọi đích danh người chiến binh trước mặt.

Yasutsuna nhăn nhó cúi mặt xuống. Sau một chút vật lộn, hắn ngước lên trở lại.

“Đội Tiên Phong, rút xuống! Cung Thủ, lên!”

 

 

“Mm.”

Lính tuyến trước rút lui, và thế chỗ, những cung thủ bước lên phía trước. Trông thấy nước đi của quân địch, cô gái có thể cảm nhận hồi kết của cuộc chiến dai dẳng đang đến gần.

“Có vẻ chúng không chịu khoan nhượng nữa rồi,” cô lẩm bầm cười cười. Phe họ không có bất kì loại khiên chắn nào và như vậy không có cách nào để phòng thủ trước tên bắn. Kẻ địch vốn đã biết điều này ngay từ đầu. Việc chỉ đến tận bây giờ chúng mới sử dụng tên có nghĩa trước đó chúng đã bị cấm. Chỉ có hai trăm lính mà phải tiêu diệt từ tầm xa thì đúng là một nỗi ô nhục.

Nhưng giờ thì sự ngoan cố đó đã vụn nát. Đoàn quân Kiryuu trứ danh dẫn dắt bởi chỉ huy nức tiếng Souma Yoshihisa, một vị tướng quả cảm mang bộ óc chiến lược, đang đánh đổi danh dự lấy kết quả trước một toán quân nổi loạn cắm chốt trên ngọn đồi. Đối với cô, điều này đáng để phải hét lên vì vui sướng.

“Đến chỗ ngựa!”

Nhưng chưa kết thúc đâu. Đáp lại tín hiệu của cô, ai đó đằng sau di chuyển. Ẩn giấu ngay phía mặt bên kia của ngọn dốc, nơi khuất tầm nhìn khỏi kẻ địch bên dưới, là một trăm ngựa. Nay được thả ra, chúng nhánh chóng xuất hiện trên con đường núi. Cô gái nhảy lên một con, rồi nhìn qua phía đồng minh cũng đang làm điều tương tự. Nở một cười không tì vết, cô nói với họ.

“Mọi người! Chúng ta đi thôi—tới chiến trường cuối cùng!”

“““““““Rahhhhh!”””””””

Tinh thần của những chiến binh không vương chút ai oán. Rồi, hướng về phía mảnh đất chết dưới chân đồi, cô gái lao thẳng một đường về phía trước.

“Sao—?!”

“Không thể nào! Chúng vẫn còn ngựa ư?!”

Máu rút khỏi mặt đám lính Kiryuu khi trông thấy điều này. Theo lẽ tự nhiên, chúng đã mong đợi kẻ địch sẽ mở một đợt tiến công tuyệt vọng cuối cùng trước khi bị nhấn chìm trong làn mưa tên. Nhưng chúng đã chỉ tính đến vận tốc người chạy. Ai mà biết được vào khắc cuối cùng, sau khi để mất hàng toán lính trong bao nhiêu cuộc đụng độ, cái bọn mắc dịch này vẫn còn có đủ ngựa để tạo thành một cuộc đột kích cơ chứ?

“Ta sẽ lấy đầu Đại Tướng Yoshihisa! Chiến binh Kiryuu, hãy trả lời ta bằng lưỡi kiếm!” cô gái tuyên bố dõng dạc từ tuyến trước. Đám cung thủ, vốn phải vật lộn lắm mới vào thế được trên con đường núi nhỏ hẹp, đã không thể trở ra sau quân cầm thương kịp lúc. Trước toán ngựa lao đến chúng hầu như không chống đỡ được gì. Tiếng hú hét kêu gào của binh sĩ, cùng tiếng nứt vỡ của xương xẩu, vang vọng khắp chiến trận.

“Haaah!”

Chính giữa trung tâm của cái lòng chảo điên loạn bốc lửa này, cô gái nhảy ra khỏi yên ngựa, làm một đường vòng cung mượt mà trên không trung. Cô duyên dáng đáp xuống ngay phía mặt bên kia đám cung thủ nháo nhào, ngay trước mặt toán lính cầm thương.

“Hả…?!”

“Nó nhảy vào một mình?”

“Đừng tưởng mày ngon lắm, con nhóc!”

Đáp lại lời chào của đám chiến binh sôi giận, cô gái rút kiếm ra từ vỏ bên hông. Đây là vũ khí duy nhất của cô, và nó còn chưa đến phân nửa độ dài một thanh tachi bình thường. Không những vậy, trên người cô chỉ có gọi là nhiều hơn chút đỉnh so với mức giáp tối thiểu.

“Haaah!”

Cô thở ra rồi lướt về phía trước.

Những ngọn thương đâm tới để ngăn cô chỉ xuyên vào không khí, nhưng đám chiến binh Kiryuu có chút gọi hơi chậm để lĩnh hội điều này. Mắt chúng còn chẳng thể theo kịp bóng cô khi mà đã cảm nhận được cô ngay trước mặt.

“Gwah!”

“Gaaah!”

Ngay khi chúng kịp chạm vào kiếm, thì cô đã chém rụng cả bọn. Máu bắn trong không trung phía sau lưng khi cô lao mình qua làn địch, không ngừng nghỉ dù chỉ một khắc. Cô di chuyển từ tên lính này qua tên lính khác, náu mình khỏi lưỡi thương ngay dưới mũi chúng theo nghĩa đen, Như một con sóc truyền cành giữa những điểm mù, cô hạ sát chúng, từng tên một.

“Cha, mau lùi lại!”

Bằng cách nào đó phó chỉ huy của lực lượng Kiryuu, Yasutsuna, đã hiểu rõ được mối hiểm nguy và rống lên về phía bố vợ mình. Sao mà có thể như vậy? Con nhóc này tuy nhỏ người nhưng lại nhanh quá sức tưởng tượng. Theo từng bước nhảy, nó chơi đùa đám lính như dắt mũi chúng. Đội hình khép kín để bảo vệ đại tướng giờ như kiểu gậy ông đập lưng ông—đứa con gái nhỏ bé cùng thanh wakizashi ngắn nhanh nhẹn hơn bất kì chiến binh mang giáp nặng áp sát vai vào nhau nào.

“…Đ** m* mày!”

Đám cận vệ coi như chẳng để làm gì nữa. Trong lúc đứa con gái tiếp cận với tốc độ mù mắt, Yasutsuna mất khôn và rút kiếm ra. Không như những chiến binh khác, hắn không định để mất cảnh giác. Với thanh kiếm trong tay, sự rèn luyện thấm nhuần vào cơ thể, và con tim sôi giận—hắn đối đầu với đứa con gái.

“Raaaaaah!”

Máu phun như đài phun nước từ một tên lính cầm thương kế bên, và gần như cùng lúc, một bóng hình nhỏ nhảy ra từ cái bóng. Yasutsuna, vốn đã đoán trước điều này, bèn vung kiếm bằng tất cả sức bình sinh, định chẻ con bé ra làm đôi. Đó là một cú chém thẳng mặt không khoan nhượng, một gáo nước tát thẳng mặt đứa nào thích láo lòn. Thân hình và tốc độ của đứa con gái, thứ giúp nó nhảy múa quanh đám chiến binh Kiryuu, đứng trước điều này sẽ không là gì cả.

“Haaah!”

Đó là lí do tại sao, khi cô gái chọn đối đầu trực diện với hắn và để hai lưỡi kiếm va đụng vào nhau, sự kinh ngạc của hắn không lời nào diễn tả nổi.

“Cái…?!”

Hắn tiến thẳng một mạch từ kinh ngạc sang run sợ. Hắn đang bị đẩy lùi. Xét về thân hình và sức mạnh, đáng lẽ ra hắn phải vượt trội hơn, nhưng áp lực kiếm từ con bé dữ dội đến mức hắn phải chùn bước.

“Aaaaaaaaaaaa!”

Theo từng giây trôi qua, áp lực ngày càng lớn. Thanh kiếm bố vợ hắn tặng nhân dịp nhập ngũ gào thét dưới sức nặng ngoài mong đợi. Nỗi sợ chiếm lấy Yasutsuna. Cái gì thế này? Cái thứ quái quỷ gì đang đội lốt đứa con gái này?

“Ô…ô…ôooooo!”

Từ bỏ cuộc vật lộn trước sức mạnh điên rồ này, hắn nhảy lùi lại. Đừng sợ hãi. Nếu không thể lấy thịt đè người, thì dùng kĩ thuật. Hắn chưa bao giờ bỏ lỡ một ngày luyện phản công. Nhưng lần này, hắn đã thất bại. Như thể không màng đến mọi ý định của hắn, cô gái đã xuất hiện ở ngay dưới mũi.

“Cái—?!”

Hắn đã thua ngay khoảnh khắc hắn bước lùi lại một bước. Không một chiến binh Kiryuu nào thậm chí có thể lọt vào bóng con bé, nó quá nhanh. Và cho đến tận lúc này, Yasutsuna đã không thể lường trước con bé nhanh đến mức nào khi truy đuổi.

Lưỡi gươm cô gái lướt qua phần thân trên không phòng thủ của hắn như một cơn gió. Nhỏ và nhanh, thô và hiệu quả. Mắt Yasutsuna đã trông thấy những tính chất này ở kẻ địch, song quan sát của hắn vẫn là không đủ—bởi hắn đã không thể chấp nhận điều quan trọng hơn hết thảy.

“Gah!”

Sức mạnh. Cô gái này mạnh không tưởng. Mạnh hơn nhiều so với mức hắn hy vọng có thể đấu lại được bằng chính thanh kiếm của mình. Kết luận rằng đây là lí do mình thất bại—hắn chết.

“Haaah…!”

Khi đối thủ đã bị hạ, cô gái cuối cùng cũng dừng lại. Nhưng không phải theo ý muốn bản thân. Lí do thì rõ ràng thôi—việc cô trụ được đến phút này đã là một phép màu. Sau hàng giờ chiến đấu trong thế phòng thủ, chưa kể đến những bước di chuyển phi thường vừa rồi, cô gái bị choán lấy bởi sự kiệt sức. Cơ thể cô rên rỉ, cứ như ai đó đã đeo chì lên lưng mình.

“Bao vây nó!” Yoshihisa lập tức hô lên, và cô bị vây quanh bởi một vòng người muốn cô bỏ mạng. Cô lướt nhìn quanh thấy mình bị kẹt trong một bờ tường lính cầm thương, không có bất kì kẽ hở nào.

“…Chà, chà. Các ngươi đúng là cái gì cũng làm vì ta. Ta lấy làm vinh dự đấy,” cô gái bình tĩnh nói về phía hàng quân binh sẵn sàng nghiền nát mình. Yoshihisa nhìn cô cay đắng, nhưng ánh mắt cô như biển lặng, không chút lo âu hay sợ sệt. Cô chưa từng hy vọng mình sẽ sống sót. Hệt như đám lính dưới trướng mình, cô cũng là một chiến binh cảm tử.

“Mới nhiêu đó tuổi mà làm được vậy là khá rồi. Muốn một cái kẹo làm phần thưởng không, bé gái?”

Lão muốn nổi giận và lăng mạ cô, nhưng thân là đại tướng, lão không thể tỏ ra hèn mọn như vậy. Nên thành ra, lão kìm nén cảm xúc và chọn hướng móc mỉa.

Cô gái cười khúc khích và lắc đầu. “Không may thay, thứ một chiến binh muốn ở thời khắc cuối cùng không phải kẹo, mà là một trận đấu sòng phẳng,” cô nói thẳng thừng.

Đã vậy rồi mà nó vẫn còn muốn chiến tiếp ư? Yoshihisa trừng mắt nhìn cô, nửa ngờ vực nửa e sợ.

“Ta nghe nói con rể của ngươi, Yasutsuna, là một chiến binh Kiryuu hàng đầu. Nếu ngươi muốn ban thưởng cho kỳ công của ta, hãy cho ta được đấu một trận với hắn,” cô gái nói, hoàn toàn nghiêm túc.

Ngay khi nghe thấy những lời ấy, Yoshihisa hoàn toàn mất tự chủ. “…Ngươi còn chẳng biết người mình vừa giết…?”

Giọng lão run run, bóng đêm tuyệt vọng len lỏi lên khắp gương mặt. Phản ứng của lão giúp cô đưa các mảnh ghép lại với nhau.

“Chẳng có nhẽ…”

Cô hướng ánh nhìn về một nơi không quá xa bên ngoài vòng mũi thương, nơi thi thể nạn nhân cuối cùng của cô nằm. Ngay cả khi chết, con dấu gia phả vẫn được khắc đầy tự hào trên bộ giáp của hắn.

Yoshihisa tuyệt vọng ép giọng mình bình ổn lại nhưng không thể hoàn toàn kìm nén tất cả cảm xúc. Khó mà nói được lão đang cười hay đang khóc.

“Đúng, thằng bé là một chiến binh xuất sắc… Nhưng còn hơn cả thế nữa.” Lão bắt đầu khoe khoang về con rể mình theo một cách chưa từng trước đây, kể cả khi say. “Thằng bé thích nhạc, thơ, và hoa. Đối với một kẻ chỉ có tài chiến trận như ta, thằng bé là ngôi sao sáng nhất. Ngươi không hề biết, đúng không, cô gái? Không, ta chắc chắn ngươi không biết.”

Lão nghiến chặt răng trong khi cô đứng đó, lặng lẽ và bất động. Yoshihisa thở ra thườn thượt và, khi đã lấy lại được một chút bình tĩnh, nói khẽ.

“Đừng lo, nhóc. Ta sẽ không tra tấn ngươi. Ta sẽ không dùng những phương pháp như vậy lên một chiến binh can đảm chiến đấu cho đến phút cuối cùng của một trận chiến thua cuộc, và đặc biệt lại còn là một đứa trẻ.”

“……”

“Nhưng ta sẽ không hỏi tên ngươi. Ngươi sẽ chết như một người lính không tên, và không ai sẽ nhớ ngươi cả. Đó là sự trả thù của ta,” Yoshihisa nói long trọng, rồi giơ tay phải lên cho tất cả người của mình thấy. “Làm đi!” lão quát lên và buông tay xuống. Đám lính rục rịch, do dự một khắc, rồi đâm.

“……”

Trong khắc giao đoạn ngắn ngủi đó, đằng sau mí mắt khẽ nhắm lại, cô gái nghĩ—

 

Cuối cùng, cái kết của ta đã kề, ấy vậy ta vẫn chưa thể tìm thấy hạnh phúc trong chiến trận.

 

Quả đúng là đáng thất vọng. Cô đã chiến đấu cật lực cho đến phút cuối cùng, ấy vậy cuộc đời cô lại sắp sửa kết thúc trong khi chưa đạt được tâm nguyện lớn nhất. Gánh nặng đó thật quá lớn để mang theo trên hành trình sang thế giới bên kia.

Ngay cả vậy, cô không có nhiều thời gian để nghĩ ngợi. Những ngón thương chết chóc lao về phía ngực và lưng không phòng thủ của cô—

 

“Trời, đúng là không thể quen nổi với cái văn hóa của nước này.”

 

Một giọng đàn ông hoàn toàn xa lạ cắt ngang suy nghĩ cuối cùng của cô. “Cảm phiền giải thích cho tôi được không? Lôgic kiểu gì mà không hỏi tên lại là một hình thức trả thù? Hay là việc này có liên quan đến cái Bushido tôi mới biết về hôm trước?”

“…?”

Người lạ nói tiếp, không chậm nhịp. Mệt mỏi với việc chờ đợi cái kết không chịu đến, cô gái chầm chậm mở mắt ra thấy những mũi thương đâm về phía mình đều đã khựng lại giữa không trung cách khoảng một inch so với người mình.

“C-cái gì…?”

“Thương! Tay tôi không cử động—”

Đám chiến binh toan la lên. Một sức mạnh bí ẩn nào đó đã làm chúng đông cứng giữa lúc đâm, và chúng không thể nhúc nhích về bất kì hướng nào cả. Bối rối trước điều đang xảy ra với người của mình, Yoshihisa ngước nhìn—ở đó, trên bầu trời, chính là nguồn gốc.

“Một thuật sĩ Tây phương…!” Giọng lão run lên nửa sợ hãi nửa tức giận. Cô gái ngước nhìn, kinh ngạc.

 

Giữa không trung là một người đàn ông trên cây chổi.

 

“Tất nhiên, có vài thứ thì tôi hiểu. Bản thân tôi cũng thích nhạc, thơ, và hoa. Đồ ăn của đất nước này rất ngon. Và thông thường, điều lệ của tôi là không xía mũi vào chuyện người khác.”

Trong lúc nói, người đàn ông gẩy thanh kiếm ngắn trong tay phải. Nó ngắn hơn cả một cỡ so với thanh wakizashi trong tay cô gái. Còn có cả một cây trượng gỗ mỏng khoảng cùng cỡ bên hông ông ấy. Nhưng thứ thực sự nổi bật lại là mái tóc vàng óng, hình xoắn ốc của ổng.

“Ấy vậy mà, ngay trước mắt tôi, lại có một đứa trẻ với tiềm năng to lớn đang cố gắng chết một cái chết vô nghĩa. Thân là nhà giáo, đây là một điều tôi không thể phớt lờ,” người đàn ông lên lớp, mặt trở nên cực kì nghiêm túc. Chân vẫn ở trên thân cây chổi, ông lộn ngược xuống và để đầu ngang tầm mắt cô. Ánh mắt xanh trong của ông sáng lên cùng niềm tò mò không thể kìm nén.

“Cô bé vô danh, có muốn đến đất nước của ta và học để trở thành một pháp sư không?” ông hỏi, đưa ra một lời mời cô không hiểu dù chỉ một chút.

“……”

Cô gái chắc rằng mình đang trông thấy ảo giác khi cận kề cái chết. Cơ mà, so với lúc mơ màng hồi nãy, thì cái này bắt đầu hơi lạ lùng.

“…Tốt lắm. Ta chấp nhận.”

Cô gật đầu, vẫn không hiểu tí gì mấy cái ông ta vừa nói. Nhưng cô tò mò. Nếu giấc mơ này cuối cùng cũng sẽ bốc hơi như bọt biển—thì hiện tại, với cô lí do như vậy là đủ.

 

 

Kết thúc câu chuyện dài hơi của mình, Nanao thở dài thườn thượt. Bạn cô ai nấy đều nuốt nước miếng. Không ai có thể tưởng tượng ra một câu chuyện đẫm máu như vậy; họ không biết phải nói gì cả.

“Một trận chiến khủng khiếp. Chưa đến một phần mười lực lượng của chúng tôi có hy vọng sống sót. Cả tôi, lẽ ra cũng đã phải nằm lại đó. Rồi thì… Ngài McFarlane đã xuất hiện. Ngài ấy đã cứu mạng tôi theo một cách không tưởng nhất.”

Nắm tay vào mở tay ra, Nanao nhìn xuống tay mình như thể không thể tin đây là thực tại.

“Kể từ lúc đó, tôi có cảm giác như mình đang mơ một giấc mơ dài. Tôi nghĩ mình đã bỏ mạng trên chiến trường đó, và tất cả những điều này chỉ là ảo giác trước khi qua đến thế giới bên kia. Nếu đây là thật, thì nó thật là một thực tại ngớ ngẩn. Kiểu gì mà lại có một pháp sư xuất hiện ngay lúc tôi sắp chết, cứu tôi, và đưa phắt tôi sang tận một học viện bên kia đại dương như vậy?”

Một nụ cười mỏng nở nơi môi cô, nhưng nhanh chóng tan biến, và khắp ngôn ngữ cơ thể của cô toát lên áp lực và căng thẳng.

“Bởi vậy tôi tuyệt vọng. Tuyệt vọng muốn thực hiện mong ước sâu thẳm nhất trước khi tôi tỉnh giấc.”

“…Mong ước sâu thẳm nhất?” Oliver nhắc lại.

Nanao gật đầu. “‘Hãy tận hưởng thanh kiếm tình yêu xuất phát từ hai phía, không phải thanh kiếm báo thù,’” cô nói.

“Cái gì vậy?”

“Đó là tư tưởng được truyền lại từ học viện kiếm thuật của tôi. Về bản chất, một kiếm sư chân chính không được đáp lại thù hận bằng thù hận và chiến đấu để trả thù. Đấu với một đối thủ mà bản thân ta chấp nhận và tôn trọng, không có thù hận giữa hai bên—trên con đường của kiếm, điều này được gọi là shiawase.”

Katie nghiêng đầu khi nghe từ ngữ xa lạ từ một ngôn ngữ khác.

“…Shiawase?”

“Hạnh phúc… Vận may… Do ít học, nên tôi không biết dịch sao cho đúng nữa,” Nanao đáp, không tìm được từ thích hợp.

Oliver ngay lập tức hiểu ra được ngụ ý, và cảm nhận một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng.

“Cậu bảo một trận quyết tử với người cậu thương và tôn trọng… là hạnh phúc ư?” cậu hỏi, giọng cứng ngắc.

Nanao cười buồn với cậu. “Mm… Trớ trêu, nhỉ? Tôi hiểu mà. Nếu kiếm không chạm nhau thì cảm xúc không thể được truyền đạt. Trò chuyện, đụng chạm, và quan tâm đến nhau chính là hạnh phúc thực sự—từ góc nhìn bình thường, đây là điều tự nhiên.”

Cô nói như đang nhìn một ngôi sao xa xăm, rồi hướng ánh mắt gục xuống lòng.

“Thế nhưng, đó là tranh đấu. Là khi lưỡi kiếm kết nối con người, chứ không phải lời lẽ. Bởi vậy, dẫu có trớ trêu, thì đó vẫn là hạnh phúc để được tìm kiếm.”

Không ai biết phải nói gì cả. Đã bày tỏ xong sự tà ác trong thế giới quan của mình, Nanao lặng lẽ giơ tay. Rơm rớm nước mắt, cô nhìn thẳng vào Oliver.

“Vậy nên, Oliver, khi tôi và cậu giao kiếm—tôi cảm nhận được điều đó hơn bao giờ hết.”

“……!”

Cậu chàng đứng hình, như thể con tim vừa bị xẻ nát. Vẫn giữ mắt về hướng cậu, Nanao nói tiếp.

“Chính khoảng khắc ấy, tôi bị lấn át bởi niềm vui sướng. Tại đây, cuối cùng tôi cũng tìm thấy shiawase của mình. Đó là lí do tại sao tôi muốn chúng ta tiếp tục, một trận đấu thực sự. Và khi được nằm xuống dưới lưỡi kiếm của cậu, tôi sẽ tới cõi thiên đàng của kiếm sĩ.”

Cô ngừng lời, nhắm nghiền mắt. Như bị cơn sốt làm mê sảng, cô ngước nhìn bầu trời. Im lặng một hồi lâu, vai cô chợt sụp xuống.

“Nhưng tất nhiên, cậu đã từ chối tôi. Đúng ra tôi đã nên mong đợi điều đó. Nhờ cậy một người hầu như không quen biết giúp mình thực hiện điều tăm tối là việc không đúng đắn. Ấy vậy, tôi lại ngu si bất lực đến mức không thể nghĩ tới những điều đó. Tôi đã quá tổn thương, thất vọng, và khốn khổ khi bị khước từ… đến nỗi trong cơn tuyệt vọng, tôi bắt đầu tìm kiếm cái chết của chính mình.”

Giọng cô khàn, và lệ nhỏ xuống nắm tay cuộn lại. Katie vội nhích lại đặt tay lên vai cô, nhưng Oliver thì chỉ có thể thẫn thờ đứng đó. Bằng cách nào đó hành động của cậu đã khiến cô gái trước mặt đi tìm cái chết—điều đó, cậu biết.

“Trận so tài với Oliver thực sự để lại cho cậu ấn tượng lớn đến vậy sao?” Chela hỏi, đặt tay mình lên nắm tay Nanao.

Dụi mắt bằng mu bàn tay, cô gật đầu. “Chela, cô nên tự mình trải nghiệm nó thì hơn đấy. Ngài ấy không chỉ khỏe và khéo léo thôi đâu. Thanh kiếm của ngài Oliver mang một sức nặng vượt tầm thông hiểu. Sự học tập và rèn luyện tích lũy theo thời gian, cũng như tất cả kinh nghiệm, cảm xúc, và những dằn vặt tạo nên nền móng cho phong cách của ngài ấy—được trực tiếp trải nghiệm những điều đó qua trận đấu đã làm con tim tôi xao xuyến.

Phần mô tả cực kì chi tiết của cô khiến tim cậu chàng lỡ mất một nhịp.

Katie khoanh tay nghĩ ngợi. “Ờm, vậy nói chung là, Nanao…”

Khoảng mười giây trôi qua kể từ khi nhỏ chìm trong suy nghĩ. Chĩa ngón trỏ ra, cuối cùng nhỏ đưa ra kết luận.

“…cậu bị trầm kảm vì bị Oliver từ chối—phải vậy không?”

“Xin lỗi, Katie, cậu im mồm đi được không?”

“Gì cơ?!”

Chỉ một câu, Oliver xuyên qua hàng phòng ngự đánh trúng tử huyệt đối phương.

Một nụ cười lóe trên môi Nanao. “Không, cô ấy nói gần đúng đấy. Tôi đã bị làm si mê bởi người, hay kiếm? Miễn là kiếm còn được cầm bởi con người, thì có lẽ không hẳn có sự khác biệt.”

“Nghe gì chưa, Oliver?”

“Không có sự khác biệt.”

Guy và Pete nói đồng thanh.

Oliver ôm đầu, cảm nhận một cơn nhức sắp tới.

Khúc khích, Chela xen vào. “Đúng là, cách nghĩ của một kiếm sĩ… Nhưng không thể nói là tớ không hiểu được. Cảm xúc khi đấu kiếm với một đối thủ hoàn hảo—dẫu đối tượng có là ai, thì cũng không thể thay thế khoảnh khắc vui sướng đó.”

Sau khi Chela tỏ ra rằng mình hiểu, nét mặt nhỏ nghiêm túc trở lại nhìn về phía Nanao.

“Tuy nhiên, nếu là một trận đấu sinh tử thì tớ không thể bỏ qua được. Đấu tập thôi không đủ sao?” nhỏ hỏi, nửa vốn đã biết câu trả lời. “Vì cả hai đều là học sinh ở đây, điều tất yếu hai người sẽ có nhiều cơ hội để đọ kiếm.”

Sau một hồi im lặng, Nanao lắc đầu. “Nếu mục đích của tôi là cải thiện bản thân thông qua sự ganh đua, thì như vậy thì được. Nhưng, kiếm thuật tôi được học, về cốt lõi, là công cụ để giết chóc. Linh hồn tôi đơn giản là không thể bước vào một trận đấu không mang rủi ro mất mạng.”

“Tức là không thể nghiêm túc trừ khi có thể mất mạng á hả? Khó gì mà khó…” Pete nhăn nhó và hmm.

Xem xét lại tất cả những điều vừa được nói, Chela gật đầu. “Ra vậy… Ừ, giờ tớ hiểu rồi. Nó là một vấn đề có gốc rễ khá sâu xa. Song, trước hết, tớ mừng là cậu đã quyết định mở lòng với mọi người,” nhỏ nói và đặt một tay lên vai Nanao, nhìn thẳng vào mắt cô ấy. “Và hãy để tớ nói điều này, với tư cách một người bạn: Đến lúc cậu phải thay đổi lối sống rồi đấy, Nanao.”

“…Chela.”

Nanao ngước nhìn nhỏ.

Giọng Chela trở nên chắc nịch hơn, như để chắc rằng thông điệp của mình chạm đến đáy lòng Nanao. “Bọn tớ và học viện này đây chắc chắn không phải một giấc mơ hay ảo giác. Cậu không việc gì phải hoảng; chúng tớ sẽ không tự nhiên biến mất đâu. Không có nghi ngờ gì hết, cậu đang sống. Và cậu đang sống một cuộc sống mới ở đây.”

Nhỏ nắm vai cô gái chặt hơn, như để chứng minh rằng cả hai đều thực sự tồn tại.

“Bỏ ngay cái hành động dại dột đi tìm chỗ để chết đi. Kimberly sẽ cho cậu không ít những cơ hội như vậy, dù cậu có tìm hay không đi nữa. Chừng nào còn gắng học ma thuật ở đây, thì lưỡi hái tử thần sẽ luôn kề cận. Chính bởi vậy chúng ta cần ý chí mạnh mẽ, để xua đuổi nó.”

Uy lực từ lời lẽ của nhỏ khiến Guy, Pete, và Katie theo phản xạ ngồi thẳng dậy. Điều nhỏ tóc lọn đang chia sẻ chính là chìa khóa để sống sót trong môi trường phép thuật này.

“Nanao, nãy cậu hỏi rằng mình bị làm si mê bởi người hay kiếm. Và cậu đoán chắc không có nhiều sự khác biệt giữa hai cái.”

“…Mm, tôi có nói vậy.”

“Vậy hãy nhìn vào con người đi. Cậu và Oliver đâu cần kiếm để trông thấy nhau. Nếu muốn, và cậu ấy đồng ý, hai người có thể trao đổi kiếm thậm chí chạm.” Nhỏ ngắt nhịp. Bằng vẻ mặt cực kì hiền từ, Chela nhìn giữa hai con người trước mặt. “Nếu làm vậy, tớ chắc chắn hai người sẽ trải nghiệm sự hân hoan. Nói gì thì nói, chỉ một trận đấu ngắn vậy thôi mà ảnh hưởng cả hai tới mức này mà. Thời gian hai người làm bạn với nhau chắc chắn cũng sẽ đặc biệt nữa. Và Oliver không phải người duy nhất. Cậu còn có Katie, Guy, Pete, và dĩ nhiên tớ—tất cả mọi người ở đây đều muốn ở bên cậu trong tương lai. Không ai muốn cậu từ bỏ mạng sống dễ dàng như vậy cả.”

Ánh mắt Chela lướt qua cả nhóm, và Nanao hướng mắt theo. Lần đầu tiên, cô nhận thấy sự lo âu, nghi ngại, và bức bối trong ánh mắt những người bạn của mình.

“…Cậu ấy nói đúng đấy. Mới đầu cả bọn gặp nhau náo loạn vậy mà chưa gì cậu đã xanh cỏ thì chán òm à. Vui vẻ thêm chút nữa đi nào, Nanao. Chúng ta có thể cùng nhau làm nhiều chuyện ngớ ngẩn nữa,” Guy nói, bị cuốn vào khoảnh khắc. Ngừng một nhịp, cậu chàng mỉm cười hơi chút xấu hổ. “Chưa kể, tớ mong đợi ở cậu nhiều đấy. Nhìn cái cách cậu hạ con troll, chắc chắn rồi sẽ lại làm chuyện gì điên rồ nữa cho mà xem.” Cậu bộc bạch tâm tư của mình.

Tiếp đến, nhỏ tóc xoăn—Katie—nắm tay Nanao.

“Lần tới cậu gặp nguy hiểm, thì sẽ đến lượt tớ giải cứu cậu. Tớ sẽ không để cậu chết đâu. Giờ chúng ta là bạn rồi mà… Tớ không thể chịu nổi việc được cậu cứu nhưng không bao giờ cứu lại cậu,” nhỏ tuyên bố và nhắm mắt, thầm thề trong lòng.

Pete nối tiếp bằng một câu bình luận. “Không có lí gì phải vội chết vậy đâu. Tôi cũng có nhiều điều cần phải học về nơi này nữa. Thử nghĩ đến chặng đường dài phía trước, có quen biết thêm người này người kia thì cũng chả xấu gì đâu,” cậu nói, vẫn mặt lạnh như mọi khi. Nhưng đối với một cậu trai thông thường rất lầm lì, động viên người khác được đến vậy là tốt lắm rồi.

Khi ba người họ đã nói xong phần của mình, ánh mắt Chela hướng về phía thành viên cuối cùng. “Oliver, cậu có gì muốn nói không?”

Ánh mắt mọi người đổ dồn vào cậu. Sự im lặng lần này là kéo dài nhất. Sau khi ngẫm nghĩ cẩn thận về cô gái Azian và chính bản thân mình, Oliver trang trọng cất lời.

“…Nếu muốn sống sót ở Kimberly thì không thể chấp nhận chuyện qua lại với những người muốn chết. Những người đó chỉ giỏi lôi kéo người khác vào mớ lộn xộn của chính họ thôi. Giống như điều suýt xảy ra hồi nãy.”

Tính đến nay đó là ý kiến nghiêm khắc nhất, Katie dướn về phía trước, sẵn sàng bênh Nanao. Nhưng bằng một tay, Oliver ngăn nhỏ lại và nói tiếp.

“Vậy nên tớ chỉ hỏi cậu một câu thôi. Nanao, cậu có thể hứa với tớ dù chuyện gì xảy ra trong tương lai, cậu cũng sẽ không vội đi tìm cái chết không? Rằng cậu sẽ luôn vung kiếm vì mục đích sống sót?”

Đây là điều duy nhất cậu muốn biết. Chừng nào cả nhóm còn coi nơi này là nhà, cậu không thể chùn bước trước vấn đề này được. Bốn người còn lại nuốt nước miếng cái ực. Nanao nhìn sâu vào mắt Oliver, bất động, trong lúc cả đám quan sát hai người họ. Sau một lúc lâu, đột nhiên cô vung cả hai tay lên trời.

“Hyah!”

Di chuyển nhanh đến nỗi làm gió thổi phần phật, cô tát cả hai tay vào má mình.

“…Thứ lỗi cho tôi. Tôi là một đứa hèn nhát và ngu muội.”

Khi cô bỏ tay ra, có những vết tay hằn đỏ còn sót trên mặt. Nhưng đổi lại cho cơn đau đó, ánh sáng đã trở lại trong đôi mắt cô. Sự trống rỗng đã được thay thế bằng quyết tâm hướng về phía trước.

“Đánh đồng ý nghĩ không sợ chết với việc bị ám ảnh bởi nó là sai. Và tôi đã lầm lạc đến mức thậm chí không nhớ nổi lô-gic đó,” cô vừa lẩm bẩm vừa đứng dậy gọi băng ghế. Nghiêm trang đứng thẳng lưng, Nanao cúi gập đầu trước các bạn của mình.

“Oliver, Chela, Katie, Guy, Pete—tôi thực sự xin lỗi, năm người. Giờ đây tôi xin thề, sẽ không bao giờ cố vứt bỏ mạng sống của mình nữa. Kể từ ngày hôm nay, tôi sẽ coi trọng tính mạng của mình chừng nào còn ở bên các vị.”

Sau khi thề chắc nịch, cô ngẩng đầu dậy. Tất cả những người bạn trong tầm mắt, cô mỉm cười ngây thơ.

“Vậy nên nếu không phiền, xin hãy dạy tôi cách sống ở đây. Tuy nhiên xin cảnh báo trước với các vị rằng, tôi là một đứa dốt nát trong mọi lĩnh vực của cuộc sống trừ kiếm. Thật lòng mà nói, tôi hoàn toàn không chắc hôm nay mình có theo kịp bất cứ tiết học nào hay không nữa,” cô nói, xấu hổ gãi gãi đầu.

Các bạn cô tràn ngập nhẽ nhõm khi nghe sự kiên quyết của cô.

“Tất nhiên bọn tớ sẽ giúp rồi. Anh bạn Pete đây cũng chỉ mới bắt đầu học phép thuật thôi. Cậu không có bị tụt lại quá sâu gì cả đâu,” Oliver nói.

“Đúng vậy. Còn cả tớ nữa, và theo tớ thì cậu không phải sợ gì hết. Hiện tại chính ra cậu còn có triển vọng hơn cả Guy đấy.”

“Khoan đã, tớ đã làm gì?! Chela, tớ thực sự bất tài vậy sao?”

“Đơn giản tức là cậu phải nỗ lực học hành hơn thôi. Cơ mà đừng lo lắng—tớ đã có vài ý tưởng về bài tập cho ngày mai rồi.”

“Tự nhiên có linh cảm xấu thực sự. Lại còn cả nụ cười đó! Pete, mai mình lại cố hết sức thôi ha?”

“Đừng có lôi tôi vào!”

Guy chủ động làm nhẹ bớt bầu không khí giữa sáu người họ. Cứ để vậy chắc họ sẽ tán dóc cả đêm, nhưng cuối cùng, Chela đứng dậy khỏi băng ghế dài và chấm dứt nó.

“Chúng ta nên đi thôi, không thì trễ giờ giới nghiêm mất. Tuy không muốn nói cơ mà, hôm nay bọn mình ai về nhà nấy được rồi.”

“Hở? Woa, coi mấy giờ rồi nè! Nanao, mau về phòng bọn mình thôi! Còn phải chuẩn bị cho ngày mai nữa!”

Katie vội vã đứng dậy và kéo tay Nanao đi. Họ mất hút vào kí túc xã nữ, và không lâu sau, Guy và Pete cũng đi về phía kí túc xá nam. Khi cả bốn người đã đi hết, chỉ còn Oliver và Chela đứng đợi trước đài phun nước buổi tối.

“…Xin lỗi, Chela. Cậu thực sự đã giúp tớ rồi.”

“Không có gì to tát cả đâu. Mà lại còn liên quan đến tính mạng một người bạn nữa,” nhỏ đáp, khẽ mỉm cười. Ngắt thêm một hồi, nhỏ lặng lẽ nói thêm, “Tớ cũng hiểu việc để mất bình tĩnh trong tình huống đó. Cậu cảm thấy mình có trách nhiệm không?”

Nét mặt Oliver cứng đờ khi nhỏ chỉ ra điều này.

Nhỏ tóc lọn nói tiếp, như thể có khả năng nhìn thấu tâm can cậu. “Cảm xúc của Nanao trong trận đấu—tớ đoán cậu ấy không một mình. Chính khoảnh khắc đó, cậu cũng đã có điều tương tự.”

“…!”

Cảm giác như thể cậu vừa bị đâm trúng tim đen; Oliver không nghĩ ra nổi lời đáp nào. Sao cậu có thể bác bỏ được? Thực chất cậu cũng tương tự. Cậu đã quên mất bản thân trong trận đấu đó, đã tuyệt vọng mong ước được thấy điều sẽ xảy ra khi họ giao kiếm. Chí ít thì, trong khoảnh khắc đó, cảm xúc của cậu không khác so với Nanao.

“Nhưng rồi cậu lại chối bỏ nó. Chính vì lí do ấy, tớ tin nỗi đau của Nanao thậm chí còn lớn hơn. Tất nhiên, không phải tớ đang trách cậu. Thực chất tớ còn thấy nhẹ nhõm khi thấy cậu bình tĩnh lại được. Điều cuối cùng tớ muốn thấy là chứng kiến hai người bạn của mình đánh nhau tới chết.”

Theo sau là một khoảng lặng nặng nề. Một lát sau, Chela nói tiếp, mặt trông có vẻ băn khoăn.

“Nhưng khoảnh khắc hai cậu giao kiếm, các cậu đã nhận ra số phận của hai người bị cuốn vào nhau. Tớ nghe nói đây là một hiện tượng hiếm hoi trong giới kiếm và ma thuật. Có lẽ cậu và Nanao có một kiểu kết nối như vậy. Nếu đúng là thế, thì tớ nửa lo sợ nửa ghen tị.”

Chela đột nhiên ngừng lời và đặt tay lên ngực, như đang tuyệt vọng chế ngự ngọn lửa sôi sục cháy trong tâm.

“Xin lỗi nhé. Chắc tớ bị làm cho lóa mắt mất rồi. Trận đấu của hai cậu chói quá, phải cố lắm tớ mới xem được ấy,” nhỏ nói vẻ ghen tị, rồi lặng lẽ cất bước quay đi. Thân hình kiêu hãnh của nhỏ biến mất vào trong bóng tối.

Ngay cả sau khi nhỏ đã đi mất về phía kí túc xã nữ, Oliver vẫn còn ở lại sau một hồi lâu nữa cho đến khi trái tim rộn ràng của cậu đập bình thường trở lại.

 

 

Buổi sáng sau đêm gặp rắc rối—gọi sương sương vậy—cả sáu người lại gặp nhau ở cái sân cùng ngồi nói chuyện hôm trước.

“Chào buổi sáng, Oliver!” Nanao hô hào phấn khởi ngay khi vừa trông thấy cậu. Oliver bị ngợp trước sự thay đổi rõ rệt trong tâm trạng của cô.

“Ờ-Ừa, chào buổi sáng.”

“Nay trông cậu hăng hái nhỉ. Đã thấy tốt hơn chưa?” Guy hỏi, nhe răng cười.

“Chào buổi sáng, Guy và Pete!” Nanao đáp, cũng nhe răng cười từ tai này sang tai kia. “Xin lỗi vì đã làm các vị lo lắng tối qua!”

Cô cúi đầu. Pete làm bộ dỗi và quay mặt đi.

“Có ai lo gì đâu… Nhưng chắc giờ cô trở lại là chính mình hơn một chút rồi,” kính cận lặng lẽ nói thêm.

Oliver và Guy nhìn nhau, cười trừ.

“Tất cả có mặt đông đủ rồi. Giờ thì—tới học viện thôi!” Tràn đầy năng lượng, Nanao vọt lên dẫn trước—rồi chậm dần lại, bước đi bên cạnh Oliver. Cô ngây thơ cười toe toét với cậu.

“…Nanao, sao đi cạnh tớ vậy?” cậu hỏi, bối rối.

“Để quan sát ngài gần hơn chứ gì nữa. Cô Chela bảo tôi không mang kiếm đi gặp ngài.”

“Chắc cậu ấy không có ý bảo là phải chăm chú gần vậy đâu…”

“Tôi có đang làm phiền ngài không?” cô hỏi, tự nhiên lo sợ. Sau vụ tối qua giờ cậu không thể cứ thế gạt cô ra được, Oliver đành thở dài cam chịu.

“Không, ý tớ không phải thế. Cậu có thể làm bất cứ gì mình thích.”

Được cậu cho phép, Nanao khoa tay múa chân tràn đầy vui sướng. Trong lúc đi cô bám lấy cậu như keo dính chuột.

Phía bên, Guy và Pete săm soi nét mặt Oliver.

“…Hình như có ai đó đang cười.”

“Có vẻ là như vậy.”

“Guy! Pete!” Oliver hét vào mặt họ trong lúc họ thủ thỉ đùa giỡn với nhau, cảm giác như thể cậu là người lớn duy nhất trong đám này.

Katie, đó giờ quan sát từ đằng sau, bèn kéo cổ tay áo Nanao về hướng ngược lại so với cậu. “E hèm… N-Nanao? Nếu cứ bám chặt vào cậu ấy quá, có thể cậu sẽ vi phạm vào, ờm, nội quy học viện đấy. Dù sao Oliver cũng là con trai mà, hiểu không?” nhỏ nói, kéo cô bạn mạnh hơn nữa.

Guy và Pete lại chúi đầu vào nhau.

“…Hình như có ai đó đang khó chịu.”

“Có vẻ là như vậy.”

“Hai tên kia!” nhỏ tóc xoăn nổi đóa, và hai ông con trai chạy tứ tán như chuột xổ lồng. Khúc khích cười, Chela nhìn Katie đuổi theo họ.

“Một buổi sáng thật là tốt lành, sống động. Không tệ chút nào, phải không, Nanao?”

“Mm, đúng vậy!”

Nanao gật đầu ngay tắp lự. Trông cô tràn trề sức sống và năng lượng, Oliver thở phào nhẹ nhõm. Giờ cậu cảm thấy được kiếm không phải là thứ duy nhất trong cuộc sống của cô ấy nữa.

 

 

Tiết học đầu tiên trong ngày trôi qua không có vấn đề gì cả. Sau khi trải qua tiết lịch sử phép thuật và ra khỏi phòng học, cả Guy lẫn Nanao đều ôm đầu đau đớn trước lượng kiến thức khổng lồ vừa bị thồn vào não.

“Đùa, quả này không xong rồi… Lịch sử phép thuật có nhiều thứ phải nhớ không chịu được.”

“Ôi, đầu tôi đang quay cuồng trong chữ.”

Cả hai đều rên rỉ.

Pete đảo mắt và thở dài. “Hai người thật đáng buồn. Với thái độ kiểu đó thì học viện bình thường chắc cũng không trụ nổi đâu.”

“Đừng có ép mình phải nhớ hết tất cả cùng một lúc. Bắt đầu từ cơ bản trước, rồi liên hệ với những kiến thức mới về sau. Nếu không làm vậy chỉ mấy chốc các cậu sẽ quên sạch, thế thì còn làm ăn gì nữa?” Oliver nói, cố dạy họ bí mật của việc học hành. Thì rồi, cậu phát hiện một cô gái thân quen đang chạy từ cuối sảnh về phía mình. Đó là Chela, vốn đang học cùng tiết với Katie ở một phòng khác.

“Oliver, cậu cần đi với tớ!”

“Chela? Có chuyện gì vậy?”

“Katie vừa chạy đi rồi! Cậu ấy nghe nói họ sẽ hành quyết con troll tấn công mình lúc trước! Cậu ấy định ngăn nó lại!”

Mắt Oliver mở to. Cậu đuổi theo còn Chela thì dẫn đường, cả hai không ai lãng phí dù chỉ một khắc.

 

 

Chỗ ở cho ma thú thuộc khuôn viên Kimberly, nhưng để đảm bảo an toàn và bảo tồn môi trường sống, nó nằm cách xa khỏi bản thân tòa học viện. Mảnh đất khu vực được hàng rào vây xung quanh không nhỏ, nhưng trên thực tế, đây mới chỉ là đỉnh của tảng băng, đa phần cơ sở còn ăn xuống mê cung dưới lòng đất. Nó mở rộng và thu hẹp tùy theo số lượng sinh vật cần chỗ trú, nên không thể nào hình dung được chính xác kích cỡ đầy đủ của nó. Tuy nhiên, theo các cựu học viên, những sinh vật nguy hiểm nhất được giữ ở các tầng thấp nhất.

Nói về troll, chỗ ở của chúng nằm trên bề mặt. Ai cũng có thể thoải mái quan sát chúng từ phía sau hàng rào, và không có rào cản nào thực sự ngăn việc trực tiếp chạm vào chúng. Đối với pháp sư những sinh vật giết cả hàng ngàn người vô năng mỗi năm thậm chí còn không được coi là nguy hiểm.

“Có một vài điều thực sự làm ta bực hết cả mình.”

Trong một góc của cơ sở, một người đàn ông mặc áo choàng đen đứng trang nghiêm trước một cái cũi khổng lồ dùng để cách ly các sinh vật đau ốm. Trong cái cũi là con troll—cái con đã nổi khùng trong cuộc diễu hành—đang rúm ró trước sự hiện diện áp đảo của người đàn ông và sợ hãi run rẩy trước cái chết sắp xảy đến của nó.

“Một trong số đó là nhắc lại lời bản thân cho cùng một người. Không có gì làm ta tức tối hơn việc phí thời gian vàng ngọc vào lũ ngu dốt. Thay vì nói ta thà dùng thời gian đó để theo đuổi những giá trị tinh thần khác còn hơn.”

Và đứng giữa người đàn ông và con troll, quay lưng về phía nhà tù thép, là một nhỏ gái. Nhỏ đối mặt với người đàn ông, nhìn thẳng vào mắt gã. Ngoài Katie Aalto ra thì còn ai vào đây?

“Lặp lại một lần đã đủ khiến người ta bực bội. Nhưng phải làm đến lần thứ hai, ta buộc lòng phải cho rằng mình thực chất đang nói chuyện với một con khỉ đội lốt người. Năm nhất, trò có muốn làm khỉ không?” gã lạnh lùng hỏi.

Dồn hết tất cả ý chí, Katie đáp. “Xin đừng đổi chủ đề. Em xin thầy—đừng giết con troll này!” nhỏ cầu xin bằng cả tấm lòng.

 

 

 

 

 

 

Gã đàn ông bẻ cổ cái rắc. “Không giết nó à? Vậy để ta hỏi nhé—trò ở vị trí nào mà ra lệnh cho ta như vậy?”

“Em là người bị nó tấn công và làm thương! Em tin rằng mình có quyền lên tiếng!” Đó là lá bài duy nhất nhỏ có trong tay.

Nhưng vô ích; gã đàn ông không mảy may suy suyển.

“Có vẻ là trò hiểu lầm rồi. Bất cứ con thú nào làm hại con người đều phải bị trừng trị. Tất cả là vì sự an nguy của học sinh, bao gồm cả trò đấy.”

Thay vì một cuộc trò chuyện, đây giống như kiểu một giáo viên đang lên lớp thì đúng hơn. Gã đàn ông lạnh lẽo nhìn con á nhân rúm ró sau lưng Katie.

“Cứ cho là ta để con troll này sống đi. Trò định chịu trách nhiệm cho những rủi ro việc đó để lại thế nào? Định huấn luyện lại nó ư? Đến cả kobold có khi còn có cơ may sống sót qua vụ đó hơn đấy.”

Hơi thở Katie nghẹt lại trong họng. Gã đàn ông thở dài trước phản ứng hoàn toàn dễ đoán này.

“‘Có lương tâm đi! Đừng giết nó’ Dù ở độ tuổi nào cũng có những đứa đần độn vô trách nhiệm luôn mồm mấy câu vớ vẩn như vậy. Các người chẳng định tự mình làm bất cứ việc gì cả; các người chỉ muốn cái sự thỏa mãn nhất thời của việc cứu một sinh mạng thôi. Trong lúc giả vờ chẳng hay biết về biết bao nhiêu người khác sẽ bị giết bởi đối tượng của sự nhân từ ấy. Năm nhất, tên trò là gì?”

“…Katie Aalto, thưa ngài,” nhỏ sợ sệt đáp.

Đột nhiên, gã đàn ông như chợt hiểu ra. “Aalto—à, cái bọn Aalto. Giờ thì hiểu rồi. Ngay cả trong đám ngu dốt của phong trào ủng hộ dân quyền, cũng không có ai theo đuổi cái tư tưởng chết yểu đó một cách bền bỉ như bọn chúng. Thật tội nghiệp. Không may cho trò khi được sinh ra trong đám người đó.”

Oliver đến vừa kịp lúc để nghe những lời này. Gã đàn ông liếc nhìn cậu một giây, nhưng chỉ vậy.

Trong lúc bạn Katie nghĩ cách để can thiệp, Katie lại nghiến răng tức giận trước lời sỉ nhục gia đình mình.

“Chỉ lần này thôi coi như em chưa nghe thấy mấy lời sỉ nhục đó. Xin đừng giết con troll này. Em không nói suông. Em sẽ thuyết phục nó không tấn công con người nữa,” Katie nài nỉ, tuyệt vọng kìm nén cảm xúc của mình.

Nhưng thay vì làm theo ý nhỏ, gã đàn ông bật cười dữ dội. “…Thuyết phục! Thuyết phục á hả! Gì cơ, trò định nói chuyện với nó á? Ta muốn thấy quá đi mất! Chắc trò định làm thế trong lúc ngồi ở bàn ngoài hiên nhấp trà chiều phải không?”

“Đừng có cười!” Nhỏ hét to đến mức giọng vỡ ra, khiến gã đàn ông thôi cười. Sự tự chủ của nhỏ đã chạm đến giới hạn.

Katie lườm gã đàn ông, quên cả việc gã là một giáo viên. “Chúng ta có thể giao tiếp bằng cảm xúc, dù có không nói được ngôn ngữ của nhau. Dù có là những loài khác nhau đi nữa…!” nhỏ nhấn mạnh, giọng như sắp vỡ ra.

Đứng trước cảm xúc mạnh mẽ như vậy, nụ cười tắt ngấm khỏi gương mặt gã đàn ông. “…Hiểu rồi. Chắc ta không thể cười cợt một kẻ đã lầm lạc đến mức này,” gã lẩm bẩm, giọng thấp. Đồng thời, khá tự nhiên gã rút đũa bên hông ra.

“Dolor.”

Gã chĩa đầu đũa về phía Katie, niệm một phép không chút do dự. Khoảnh khắc gã gẩy đũa, cơn đau đớn chưa từng trải qua trước đây chạy dọc cơ thể nhỏ gái.

“Gư…! Ee… A-aaaaaa…!”

“Katie!”

Nhỏ ngã ra đất, quằn quại trong đau đớn. Không thể giữ im lặng thêm nữa, Oliver cùng mấy người khác nhảy vào. Họ đứng chắn người bạn chịu đau, che chở cho nhỏ. Chela chĩa ánh mắt dao cạo về phía gã đàn ông.

“Ông dám niệm phép nguyền đau đớn lên học sinh năm nhất ư…?! Có là giáo viên thì như thế cũng là quá đáng rồi đấy!”

“Quá đáng ư? Không hề. Nỗi đau là người thầy xuất sắc.” Chiếc đũa rít lên trong không khí như chiếc roi da trong lúc gã đàn ông nói tiếp, giọng hoàn toàn bình ổn. “Cho dù bài giảng có được chăm chút đến mức nào, đến tai bọn ngu dốt như cũng chẳng khác gì đàn gảy tai trâu. Nhưng ai cũng cảm nhận được đau đớn. Chỉ riêng mình nỗi đau là dạy được cả kẻ ngu lẫn kẻ khôn. Bởi vậy mới nói, không có nó giáo dục không thể hiệu quả được.”

Qua cái giọng nói bô bô như vậy, rõ ràng gã tin vào điều này từ tận đáy lòng. Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Oliver.

“Ta đang nỗ lực để đưa con khỉ kia lên lãnh địa của loài người,” gã đàn ông lạnh lùng nói với năm đứa trẻ đang bảo vệ bạn chúng. “Nếu định can thiệp vào, thì chắc các trò cũng cần phải được giáo huấn đấy.”

Bị gã đe dọa, cả năm người theo phản xạ với lấy athame của họ. Nhưng đồng thời, dường như tất cả đều hiểu rằng kháng cự là vô ích.

“……!”

Lựa chọn duy nhất của họ là cúi đầu xin tha thứ, Oliver ra quyết định và bỏ tay ở chuôi kiếm ra. Cậu có thể dễ dàng hình dung sự “giáo huấn” của giáo viên này chỉ là tên gọi khác của tra tấn. Nên thay vì để các bạn mình hứng chịu điều đó, cậu sẵn sàng đón nhận mọi sự lăng mạ—

“Khoan chút đã. Em lấy làm ngưỡng mộ đức tin của thầy, nhưng chỉ mỗi roi da thì không phải một công cụ giáo dục hữu hiệu lắm đâu.”

Ngay trước khi Oliver kịp mở miệng, một giọng nói thân quen xen vào giữa chiến trường. Cậu chàng nhìn xem đó là ai và trông thấy một nữ học sinh đang đứng đó, tóc mái che một bên mắt. Cậu còn nhớ—ấy là chị khóa trên đã dắt họ về kí túc sau khi bị mắc vào sự xâm lấn của học viện tối qua. Có lẽ giọng chị thực sự có sức ảnh hưởng đến vậy, nhưng lần này, gã đàn ông không thể phớt lờ sự gián đoạn bèn hướng chú ý về phía chị.

“Năm bốn Miligan, hở? Bây muốn gì?”

“Thực ra em đến đây để báo cho thầy biết một lời khiếu nại về việc hành quyết con troll đã được đưa lên. Bên nguyên sẽ có mặt ở đây trong giây lát.”

Chưa đến một giây sau, một chiếc áo choàng trắng phấp phới sau lưng Miligan.

Pete khẽ sung sướng thốt lên. Đứng ở đó là Thầy Garland, như một tia sáng rọi qua màn đêm.

“Đủ rồi, Darius. Việc sử dụng lời nguyền đau đớn trong giáo dục đã bị cấm từ năm năm trước rồi.”

“…Garland. Ta không có ý định đi chệch hướng khỏi những nguyên tắc dạy dỗ của mình đâu. Mà quan trọng hơn, vụ phản đối hành quyết con troll là sao hả?” giáo viên tên Darius phẫn nộ vặc lại.

Garland nhìn Katie, ngã khuỵu dưới nền đất, sang con troll bị nhốt trong lồng. Nét mặt nghiêm nghị, thầy đáp, “Cuộc điều tra về gốc rễ của tai nạn trong lúc diễu hành không khả quan. Tôi đã đề xuất giữ con troll còn sống để làm bằng chứng, và hiệu trưởng đã đồng ý.”

Lời lẽ của thầy là một sự đối nghịch không lay chuyển trước hành động của Darius, đặc biệt lại còn đưa cả hiệu trưởng vào.

Darius tặc lưỡi. “Một lũ mềm yếu… Đừng bảo ngài cũng là một trong số cái bọn ngu dân đi ủng hộ quyền dân sự?”

“Không, tôi đã luôn kiên quyết phản đối các phong trào liên quan đến á nhân. Tuy nhiên, những pháp sư mà ngài bảo là ‘bọn ngu dân’ hiện đang khá có sức ảnh hưởng đấy. Một cuộc hành quyết được thực hiện không qua điều tra đàng hoàng thì chỉ giống như tiếp đạn bạc cho chúng thôi.”

Garland vẫn vô cùng bình tĩnh, chỉ ra những khiếm khuyết trong kế hoạch của Darius mà không cần dùng đến lời lẽ gay gắt. Một bầu lặng lẽ nặng nề bao phủ hai người.

Cuối cùng, Darius quay gót. “Muốn làm gì thì làm. Nhưng nếu để cái thứ kia sống, thì rồi có ngày nó sẽ dẫm nát cái con khỉ kia cho mà xem,” gã phun ra, rồi bước đi khỏi.”

“Tôi không phải là… khỉ,” một giọng nói ngoài mong đợi vang lên sau lưng gã. “Tôi sẽ không bị… nghiền nát… dễ dàng vậy đâu…!”

Những người bạn kinh ngạc nhìn trong lúc Katie ngồi dậy trong cơn đau dữ dội, vật lộn để thốt ra mấy lời.

Đến cả Darius còn ngạc nhiên quay ra nhìn nhỏ. “…Ngạc nhiên ghê. Ta đã niệm chú ở mức vừa phải, mà đã có thể mở mồm ra rồi sao? Có vẻ là khỉ thời nay bị vấn đề cả về thần kinh và trí não. Tiến hóa như cái hạch,” gã nói đầy ác ý rồi lần này thì bỏ đi luôn.

Không chịu buông tha, nhỏ tóc xoăn cố với theo gã. “A… guh…!”

“Katie, đừng cố đứng dậy!”

“Để tớ giảm đau cho cậu…!”

Oliver và Chela vội vã chữa trị cho người bạn đang gào thét và quằn quại trong đau đớn. Nhưng trước khi hai người kịp làm gì, sinh viên khóa trên đến cùng Garland đã vẩy đũa phép.

“Em không sao chứ? Người gì mà điên quá trời,” Miligan khẽ nói, vẩy đũa phép và niệm một phép giảm đau lên Katie.

Cơn đau tan biến, Katie nhìn người đứng trước mặt mình. “Cũng khá lâu rồi chị mới thấy một học sinh không khuất phục trước ‘sự giáo huấn’ của ông thầy kia đấy. Em cũng gan phết đấy, cô gái.” Phù thủy mỉm cười khen ngợi trận chiến khốc liệt của nhỏ.

Cơn đau dịu dần, não Katie bắt đầu hoạt động bình thường trở lại. Khi nhận ra người đang nói với mình, nhỏ gọi tên chị ấy. “Ồ… Chị Miligan…?”

“Mừng là em còn nhớ. Chị cũng chưa quên tên em đâu, Katie Aalto.”

Miligan chìa tay ra, và nhỏ tóc xoăn cẩn trọng nắm lấy nó. Giúp nhỏ đứng dậy, phù thủy với tóc mái dài nhìn về phía con troll đang run rẩy trong lồng.

“Chị cũng để ý đến vụ hành quyết con troll này. Với tư cách là đồng minh yêu thương á nhân, chị nghĩ chúng ta có thể giúp đỡ nhau theo nhiều cách. Nếu nghĩ ra điều gì thì cứ đến bảo chị nhé.”

“Dạ—v-vâng!”

Mặt Katie sáng lên niềm hạnh phúc. Lần đầu tiên kể từ khi đến học viện này, một sinh viên khóa trên đã đồng cảm với nhỏ. Đối với nhỏ, những lời đó là niềm động viên lớn lao nhất con tim nhỏ có thể đón nhận.

 

 

Chưa đầy một tiếng sau, sau khi gạt phăng lời khuyên đến phòng y tế của Oliver và Chela, Katie tham gia cùng các bạn vào lớp kiếm thuật.

“Haah! Hyah! Yah!”

Bằng sự hăng hái lạ thường, nhỏ tung ra những cú đâm tập luyện.

Guy, người đang tập kế bên, huýt sáo. “Chà, năng nổ vậy ta. Cậu đã thấy khỏe hơn rồi hả?”

“Ừ! Tớ không thể để một thứ vậy hạ gục mình nữa!” nhỏ nhanh nói. Như thể đánh tan cả kí ức về lời nguyền đau đớn, Katie quên mình trong phần luyện tập cơ bản.

Garland quan sát tiến trình của nhỏ và những học sinh khác với vẻ mặt hài lòng. “Được rồi,” thầy nói. “Tay mơ, tiếp tục luyện tập cơ bản. Kì cựu, ghép cặp và tập giao kiếm với nhau. Nhớ lần lượt tấn công và phòng thủ. Ồ, với cả, Trò Hibiya, lại đây.”

Nghe tên mình, Nanao ngừng luyện tập và quay người lại, rồi tra kiếm vào vỏ và chạy đến chỗ thầy giáo.

Oliver canh chừng cô bằng khóe mắt trong lúc tiếp tục tập luyện.

“Nói một cách hết sức thật lòng, ta không biết phải dạy trò thế não nữa. Kiếm pháp của trò và ta khác nhau khá nhiều. Vậy nên trước khi bắt đầu, ta cần biết trò từng được dạy những gì.” Thầy giáo không cho Nanao cơ hội trả lời. “Nói là vậy, trò không phải lo gì cả đâu. Ta không tính lừa trò gì cả. Ngày xưa, ta từng sống để giao kiếm với những bậc thầy từ các trường phái khác. Ta mở rộng vòng tay chào đón sự kích thích từ cuộc gặp gỡ với một trường phái xa lạ.”

Garland mỉm cười phấn khích, như một đứa trẻ tinh nghịch.

Cảm nhận được sự chân thành, Nanao thẳng thắn nhìn thầy với vẻ cảm kích. Hai người đối mặt nhau, biểu cảm của thầy giáo nhanh chóng trở nên nghiêm túc.

“Biết thế, câu hỏi đầu tiên của ta: Trò cầm kiếm của mình bằng hai tay. Liệu ta có thể cho rằng điều đó sẽ không thay đổi không?”

Nanao hướng ánh mắt xuống lưỡi kiếm bên hông và ngay lập tức lắc đầu.

“Thầy nói không sai. Nếu phải cầm kiếm bằng một tay, thì ấy là khi tay còn lại của em đã đứt lìa.”

Oliver, nghe lỏm trong lúc tập luyện gần đó, rùng mình lần thứ một trăm kể từ khi gặp Nanao. Cô ấy đề cập chuyện mất một tay một cách quá thản nhiên, tuy bản thân vốn xuất thân từ một thế giới không tồn tại ma pháp hồi phục. Sự dữ dội đúng là ác nghiệt.

“Tốt lắm. Ta rất vui được nghe. Nếu trò muốn thay đổi cách cầm và học một trong ba trường phái cơ bản từ điểm xuất phát, thân là nhà giáo ta không thể nói với trò là không. Tuy nhiên, Thầy McFarlane đã kiên quyết bảo ta giữ sự độc nhất của trò trong quá trình giảng dạy. Nhưng quan trọng hơn, đây cũng là ý muốn của ta.”

Ánh mắt Garland chan chứa hy vọng cho tương lai. Song, chẳng mấy chốc một chút tội lỗi len vào nét mặt của thầy.

“Bất kể tương lai có nắm giữ điều gì, ta cũng không thể bắt đầu trừ khi biết thêm về trường phái kiếm của trò… Song, danh hiệu giáo viên kiếm thuật Kimberly là một thứ cực kì nặng nề. Ta tuyệt đối không thể đấu với một năm nhất mới nguyên, bất kể trò đó có triển vọng tới mức nào. Đó là một sự sỉ nhục với vị trí ta nắm giữ.”

“Mm, đúng là đáng tiếc,” Nanao lẩm bẩm, hy vọng tắt dần. Tuy nhiên, liền đó, nụ cười tinh nghịch trở lại với gương mặt Garland.

“Nhưng miễn không ai biết thì chẳng sao hết. Trò làm được không?” thầy hỏi, đặt Nanao vào khoảng cách một bước, một phép. Thầy từ chối chạm vào kiếm mình, nhưng trông thấy ý đồ trong mắt thầy, cô gái gật đầu đáp lại.

“Hiểu rồi. Một trận đấu tinh thần, phải không? Được thôi, em sẽ là đối thủ của thầy.”

Khi cả hai đều đã đồng thuận, thầy giáo và học sinh đối mặt. Oliver biết đôi chút về điều sắp sửa diễn ra. Trong trường phái Lanoff, kĩ thuật này được gọi là đấu bóng—nói cách khác, hai người họ sẽ thực hiện đấu tập trong tưởng tượng.

“Haaah…”

Garland giữ thế phòng thủ, nên Nanao bèn ra “đòn” đầu tiên. Từ bên ngoài trông có vẻ họ không di chuyển chút nào, nhưng trong tâm trí, cả hai có thể thấy rõ ràng hình ảnh Nanao đang tấn công. Đáp lại, người thầy cũng đưa ý chí của mình vào chiến trận. Sự trao và nhận này giống hệt như đấu bóng—và những đấu thủ càng lão luyện, cuộc đụng độ của họ càng được tái hiện lại một cách chân thực.

“…! …! …!”

“……”

Chẳng mấy chốc sau khi bắt đầu những giọt mồ hôi thành hình trên mặt Nanao. Đối diện cô, Garland vẫn bình thản và không nao núng.

Oliver nuốt nước miếng. Cho dù không thể thấy trận chiến đang ra sao trong tâm trí họ, thì vẫn không khó để tưởng tượng ra.

Trận đấu kéo dài không đến hai phút. Cuối cùng, chẳng ngạc nhiên, Nanao khuỵu một bên gối xuống.

“…Ấn tượng đấy. Thầy đã trảm đầu em tổng cộng một trăm linh hai lần.”

“A, nhưng mà trò đã vượt qua mong đợi của ta. Lại còn ở độ tuổi trẻ như vậy nữa. Kiếm pháp Yamatsu đúng là tuyệt vời.”

Niềm ngưỡng mộ chân thành trên gương mặt, Garland khen gợi kiếm kĩ của cô gái. Trong lúc Nanao vật lộn lấy lại nhịp trở, thầy nói tiếp.

“Ta sẽ phân tích trận đấu và dùng nó cho việc giảng dạy. Xin lỗi vì bắt trò phải đợi, nhưng cho hết buổi hôm nay, hãy quan sát các học sinh khác đi.”

“Hiểu rồi ạ… Cơ mà chắc phải mấy phút nữa em mới cử động được.”

Cô gái gật đầu, tuyệt vọng cố kiểm soát lại nhịp thở. Cuối cùng, cô đứng dậy, cúi chào Garland, và lảo đảo đi về phía các học sinh khác. Ánh mắt cô nhanh chóng bắt gặp Oliver, và cô mỉm cười.

“Nó kết thúc trước cả khi tôi tìm ra một sơ hở nữa. Thế giới đúng là rộng lớn, nhỉ, ngài Oliver?”

“…Ừ, đúng mà.”

Biểu cảm của cô 30 phần trăm là bức bối vì không đủ mạnh, 70 phần trăm phấn khích vì gặp được đối thủ đáng gờm mới. Cậu cảm thấy đôi chút ghen tị với vẻ tươi mới của cô, và không khỏi nói ra thành lời.

“Nếu cậu đang tìm những đối thủ đáng gờm trong giới kiếm thuật, thì Thầy Garland là một trong những người mạnh nhất và nổi tiếng nhất trong số đó. Chắc hẳn sau trận đấu cậu đã nhận ra đến cả tớ cũng không thể sánh bằng…”

“Mm?”

“…Thân là kiếm sĩ, cậu không bị thu hút bởi thầy ấy ư?” cậu ngần ngại hỏi.

Nanao khịt mũi. “Giả sử có một cô gái hoàn hảo trong mắt cậu, không một ai có thể sánh bằng.”

“?”

“Rồi một hôm, người xinh đẹp nhất trên đời này xuất hiện trước mặt cậu. Liệu cảm xúc của cậu có thay đổi không?” cô hỏi, lộn cái bàn.

Trước câu trả lời ngoài mong đợi, một viễn cảnh xuất hiện trong đầu Oliver. “…Không đâu. Tớ vẫn sẽ cảm thấy giống hệt như lúc trước khi cô gái thứ hai xuất hiện,” cậu đáp không chút do dự. Cho dù cái cô gái trong giả thuyết này có xinh đẹp đến mức nào, thì cũng không còn chỗ trong nào trong tâm trí anh chàng để nghĩ đến cô ấy nữa. Đối với anh, vẻ đẹp bên ngoài không phải là thứ có thể nắm giữ trái tim anh mãi mãi.

“Tôi cũng vậy.”

Nanao mỉm cười ngoác tận mang tai và hết sức vui vẻ nhìn cậu chàng. Sự xấu hổ phun trào trong Oliver như núi lửa, và cậu nhanh chóng trở nên cực kì nhận thức rằng có thể người khác đang lắng nghe. Đây chỉ là một cuộc trò chuyện ngẫu nhiên, nhưng là kiểu mà ta không muốn người khác nghe thấy, phải không nào?

“Được rồi, ba phút giải lao. Ai có câu hỏi gì không?”

Không hay biết cuộc đấu tranh nội tâm của Oliver, Garland vỗ tay và hô về phía các học sinh. Một đứa bèn lập tức giơ tay lên.

“Em, thưa Thầy Garland!”

“Tốt lắm. Có chuyện gì?”

“Em rất chi là tò mò, nhưng thầy có thể sử dụng ‘ma kiếm’ không?”

Câu hỏi giống như một hòn đá liệng thẳng xuống mặt hồ tĩnh lặng, làm dấy lên những tiếng xôn xao lan tỏa khắp lớp học. Garland nở một nụ cười cực kì gượng gạo.

“…Biết ngay mà. Tầm này năm nào cũng có đứa hỏi.”

Ánh mắt những học sinh lóe lên vẻ tò mò.

Thầy kiếm thuật nhìn về phía họ, hồi tưởng lại những năm tháng đã qua. “Câu trả lời của ta là ‘Ta không thể trả lời.’ Năm nào ta cũng nói vậy. Nhưng thế thì nói làm gì, phải không?”

Phần lớn học sinh rên rỉ ra vẻ không vui. Nhưng trông thấy vài người có vẻ không hiểu, Garland bèn nói tiếp.

“Ta thấy có vài người đang không hiểu. Được thôi, vậy ta sẽ giải thích. Trong giới kiếm thuật, có những kĩ thuật thần bí được biết đến với tên gọi ‘ma kiếm.’ Định nghĩa của chúng hết sức đơn giản—một kĩ thuật được thi triển trong khoảng một phép, một bước mà sẽ, nhất định, giết chết đối phương. Không có cách nào kháng cự lại,” thầy nói. Kiến thức này khó mà chấp nhận được với những người không chuẩn bị trước tinh thần.

Mắt Nanao mở to vì ngạc nhiên và tò mò.

“Tất nhiên, chúng là bí mật đối với đại đa số các pháp sư. Không nơi nào có ghi cách để có được kiến thức như vậy, và những người sử dụng chúng hiếm khi để lộ thân phận. Một số người còn thắc mắc liệu họ có thực sự tồn tại không. Ngay cả vậy, dòng chảy những con người muốn biết nhiều hơn như các trò không bao giờ có điểm dừng. Ngày xưa, ta cũng từng như vậy.”

Garland nói giọng nửa đùa nửa thật, nhưng Oliver có thể cảm nhận được một chút xấu hổ trong suy nghĩ của thầy giáo về thời trai trẻ của mình. Nhưng nó đến và đi nhanh như một cơn gió. Garland xòe ra năm ngón tay phải và giơ lên cho học sinh thấy, cộng với một ngón trỏ tay trái.

“Tổng cộng, có sáu ‘ma kiếm’ đang tồn tại. Số lượng của chúng thường xuyên thay đổi vào thuở sơ khai của kiếm thuật, nhưng trong vòng hai trăm năm qua, chúng không tăng lên cũng không giảm xuống. Nhiều người cố gắng tạo ra những ma kiếm mới, hoặc phân tích và nghiên cứu những thanh chúng ta vốn đã biết. Ấy vậy, sau từng ấy năm, chỉ có sáu thanh là còn ngoan cố trụ lại.”

Đám học sinh nuốt nước miếng. Lịch sử thầy giáo của họ vừa nêu đã xác nhận những thứ này có tồn tại.

“Không cần phải nói chắc ai cũng biết đây là những mục tiêu phi thực tế đối với học sinh kiếm thuật. Tuy nhiên, ta không tin việc thảo luận về nó là vô nghĩa. Đơn giản nó thổi bùng lên một thứ gì đó trong lòng chúng ta, phải không nào?”

Garland cười tươi. Ngay lập tức, cánh tay của những học sinh phấn khích vọt lên.

“Thưa thầy! Ít nhất hãy cho tụi em gợi ý!”

“Những giáo viên khác có thể sử dụng chúng không? Còn hiệu trưởng thì sao?”

“Chuyện gì sẽ xảy ra nếu hai thanh ma kiếm đụng nhau?!”

Những câu hỏi trút xuống như làn mưa tên bắn. Trông thấy các trò phản ứng y hệt như mình mong đợi, Garland nhún vai hệt như những năm trước.

“…Như các trò có thể thấy, đây là một chủ đề có thể ngay lập tức làm tan nát một lớp học. Thú thực là, lúc nào nó cũng vậy.”

Oliver cười trừ. Cậu thích ông thầy này.

“Ta sẽ không nhận thêm câu hỏi đâu. Nào, trở về luyện tập đi. Ba phút đã trôi qua lâu lắm rồi đấy!”

Tiếng vỗ tay của thầy báo hiệu kết thúc cuộc thảo luận. Oliver nhanh chóng hướng sự tập trung trở lại việc tập luyện. Nanao thì khoanh tay và hừm.

“Quả là một câu chuyện lạ lùng. Oliver, cậu có biết về những thứ này không?”

“Thì, cũng chỉ bằng những gì thầy ấy vừa giải thích thôi. Nó là chủ đề nóng nhất đối với các học sinh mới mà.”

Đối với cậu, nó chẳng có gì mới mẻ, nhưng đối với một người không biết như cô, thì chắc nó đầy kích thích. Cậu tưởng tượng cô nàng sắp sửa quấy rối mình bằng câu hỏi, nhưng trước khi kịp thì…

“Tán dóc thay vì luyện tập hả? Mấy người chắc là tự tin lắm ha, Cậu Horn, Cô Hibiya,” một giọng nói hiềm khích thứ ba xen vào. Hai người quay ra thấy một tên con trai tóc dài đang cầm athame—Cậu Andrews.

“Bọn này chỉ đang thảo luận về ma kiếm, giọng như mọi người khác thôi. Không có ý xúc phạm đâu.”

“Giống như mọi người khác? …Vậy tức là có cả tôi?”

Sự giận dữ trong mắt hắn lớn dần trong lúc lườm Oliver. Cậu đã cố chọn từ cho cẩn thận để không khiêu khích hắn, song có vẻ đã thất bại. Oliver cố xoa dịu mọi chuyện.

“Tôi không định gây hấn với cậu đâu. Cậu đang làm quá lên rồi đấy, Cậu Andrews.”

“Ra vậy. Thì ra tôi mới là người đang thiếu tự tin hả? Ý cậu là thế phải không?”

Phản ứng của hắn càng tệ hơn. Oliver hiểu ra rằng có nói gì cũng vô ích. Chela, người vốn đang tập luyện gần đó, đánh hơi thấy vụ này và nhảy vào.

“Đủ rồi, Cậu Andrews. Còn bắt bẻ mọi thứ cậu ấy nói nữa là tôi sẽ bắt đầu hoài nghi đầu óc của cậu đấy.”

“Biến đi, Cô McFarlane. Người tôi đang nói chuyện là hắn.

Cố giữ vẻ trung lập lần này sẽ không có tác dụng. Tên Andrews đang quá xoáy vào Oliver đến mức cậu không thể nhẹ nhàng nói cho qua chuyện được.

“Thế chính xác thì điều gì mới thỏa mãn cậu?”

“Lại chẳng rõ ràng ư? Hay thanh kiếm trong tay cậu kia là đồ trang trí?” Hắn lườm tay phải Oliver và chĩa mũi athame về phía cậu. “Một trận đấu, có sử dụng phép chú. Rồi sẽ không có chuyện tôi thua một đám ngu đần như cậu đâu!”

Hắn đang muốn đánh lộn, và Oliver bèn thở dài trước tính hiếu chiến của cậu chàng.

“Được, thích thì chiều. Đấu tập chắc là ổn, phải không?”

“Muốn gọi kiểu gì thì gọi, Cậu Horn. Đứng ra trước mặt tôi. Tôi sẽ đáp trả sự sỉ nhục cậu dành cho tôi gấp mười lần!” Andrews gầm gừ tức giận quay người đi. Hắn định đi xin Thầy Garland chấp thuận chăng? Oliver không chắc thầy ấy sẽ cho phép một trận đấu tổng lực tại thời điểm này, nhưng cậu vẫn đi theo, cảm giác như thể nó chẳng khiến mình bận tâm.

“Không được, Oliver.”

Nanao nắm lấy áo choàng Oliver và kéo cậu lại.

“…Nanao?”

“Cậu không có tinh thần chiến đấu. Cậu định cố tình để thua, phải không?”

Lời cô xuyên thấu tim gan cậu.

Ánh mắt rưng rưng, cô nói tiếp. “Tôi không muốn vậy. Tôi tuyệt đối không muốn điều đó. Tôi không muốn thấy người cộng sự trong định mệnh của mình ngã xuống một cách trống rỗng như vậy. Như thế thì quá—quá buồn. Tôi không nghĩ mình chịu nổi đâu.”

Lệ thành hình trong khóe mắt trong lúc cô năn nỉ cậu.

“Không chỉ là chuyện thắng thua đâu. Nếu định chiến đấu, xin cậu hãy dùng hết sức mình. Làm ơn đấy.”

“Ơ, thì…”

Điều cậu bận tâm không phải là trận đấu, mà là những mối quan hệ của cậu sau này. Nhưng trong lúc định giải thích cái lô-gic có phần kiêu căng của mình cho Nanao, cậu chợt nhận ra sai lầm của mình. Hoảng loạn, cậu hướng ánh mắt trở về phía trước. Mắt Andrews, mở to vì sốc, đã nói lên tất cả.

“Cậu—cậu dám coi thường tôi? Cậu thậm chí thấy tôi còn chẳng đáng để đánh nghiêm túc ư?”

“Khoan đã, Cậu Andrews! Không phải thế—”

Đã quá muộn để lấy cớ, nhưng trong đầu cậu vẫn muốn vậy. Lẽ ra cậu đã phải phủ nhận ngay lập tức. Nếu cậu định để thua để làm đẹp mặt đối thủ, thì cậu phải giữ cách hành xử như thể mình đang nghiêm túc thật.

“C-cậu… Cậuuu!”

Tiếng hú từ lòng tự trọng bị tổn thương của cậu chàng vang khắp phòng học. Khi đáp lại lời Nanao, tuy chẳng phải một cách đàng hoàng, Oliver đã báo hiệu cho đối thủ biết cậu chẳng hề có hứng đấu với hắn ta. Điều này còn tệ hơn bất kì sự sỉ nhục bằng lời nào và kết quả là làm tổn thương lòng tự trọng của Andrews.

“Đằng kia nói chuyện đủ rồi đấy! Tập trung đi! Phạt người ghép cặp thêm một trăm lần vung kiếm!”

Tiếng hô của thầy giáo chặn đứng tay Andrews ngay khi hắn định rút kiếm ra.

Chela nhân cơ hội bèn nhảy vào. “Nghe thầy nói rồi đấy. Hai cậu để khi khác đấu sau đi. Hiểu chưa?!”

Nhỏ lần lượt nhìn hai người họ, giáo huấn bằng giọng nghiêm khắc hơn bao giờ hết.

Andrews nghiến răng, liếc Oliver một cái nhìn bẩn thỉu cuối cùng, và cộc cằn quay gót.

 

“Trời ơi…”

Sau tiết học, Oliver và Chela bảo mấy người khác cứ đi trước. Trong góc sảnh đường vắng người, họ đứng dựa lưng vào tường.

“Tớ biết cậu không có ý xấu, nhưng vụ đó phải nói là tệ nhất có thể rồi đấy. Lúc này, tớ nghĩ sửa chữa mối quan hệ giữa hai người sẽ không dễ dàng đâu.”

Chela thở dài. Ấn một tay lên đầu, Oliver rên rỉ.

“Tớ biết mình không nên trả lời như thế, và sẽ không mắc lại sai lầm đó nữa. Nhưng mà tại sao Cậu Andrews lại cố chấp như vậy? Sao cậu ta phải bị ám ảnh với việc chứng minh sức mạnh thế? Như này là quá cả tính cách cậu ta rồi.”

Đây mới là phần bí ẩn nhất. Hối hận cay đắng nhuốm lên vẻ mặt Chela.

“Không phải lúc nào cậu ta cũng thế. Về chuyện đó chắc tớ có một phần trách nhiệm.”

“Cậu á? Làm thế nào…?”

“Bọn tớ lớn lên cùng nhau. Gia đình của bọn tớ đã gắn bó với nhau qua nhiều thế hệ.”

Mắt Oliver mở to vì kinh ngạc. Qua cuộc trò chuyện ngắn ngủi giữa hai người, cậu đã cảm giác được họ là người quen, nhưng chưa bao giờ nghĩ hai người ấy lại có quan hệ khăng khít như vậy.

“Vì bọn tớ cùng tuổi, không tránh khỏi cậu ta bị so sánh với tớ trong lúc khôn lớn. Tớ sẽ không nói chi tiết để giữ thể diện cho cậu ta, nhưng tớ tin cậu ta luôn cảm giác vị trí của mình đang bị đe dọa.”

Lời lẽ của nhỏ mâu thuẫn và cay đắng. Oliver cố hình dung ra môi trường nơi họ được nuôi nấng, như hai đứa trẻ xuất thân từ dòng dõi mang tính lịch sử. Không ngừng bị so sánh bởi những người xung quanh và bị ép phải cạnh tranh trong mọi thứ—áp lực chắc hẳn là khổng lồ.

“Bởi vậy, nên giờ đa phần bọn tớ cách xa nhau. Nếu hỏi tớ đứng về phe ai, thì là cậu, bởi hiện tại cậu là bạn tớ. Nhưng, tớ không muốn hai cậu đấu đá như hôm nay. Nếu hiểu rõ về cậu ấy hơn, thì cậu ta cũng có nhiều điểm đáng ưa đấy.”

Oliver nghiến răng. Ngay cả lòng trắc ẩn Chela đang thể hiện ra lúc này chắc hẳn cũng sẽ là một sự sỉ nhục đối với Andrews. Nhỏ hẳn đã thử hàng triệu cách để giúp người bạn thời thơ ấu của mình trong lúc cậu ta bị đè nén bởi sự tiêu cực. Thuyết giảng nghiêm khắc, mắng mỏ hiền từ —nhưng tất cả đều phản tác dụng, và lựa chọn duy nhất của nhỏ là cho cậu ta không gian.

Cậu thở dài não nuột. Giờ thì chuyện này trở nên còn khó khăn hơn. Sau khi tưởng tượng ra câu chuyện của cậu chàng, cậu không còn có thể mô tả cậu ta đơn giản là “một người xấu xa” nữa.

“Giờ biết vậy, tớ không thể cứ thế phớt lờ nó—”

Trong lúc nói, có công tắc gì đó được bật bên trong cậu. Đây là nguyện ý chân thành của bạn cậu—cậu lại vốn đã nợ nhỏ vì đã giúp mình trong tiết học đầu tiên với nhau rồi.

“Lần sau, tớ sẽ cố hết sức để từ từ xây dựng mối quan hệ. Nếu cần tớ thậm chí sẽ xin lỗi. Tớ muốn nghĩ là mình đủ nhạy cảm cho chuyện này.” Oliver nhún vai trong lúc trấn an Chela bằng ý định của mình. Một nụ cười đau khổ nở trên môi nhỏ.

“Tớ mừng là cậu nói vậy, thực sự ấy… Nhưng tớ không thể bảo cậu xin lỗi trong khi cậu chẳng làm gì sai được. Mà tớ chẳng biết Cậu Andrews có còn đủ tỉnh táo để chấp nhận lời xin lỗi từ cậu hay không nữa.” Nhỏ ngừng lại một khắc, trên mặt hiện một vẻ cực kì cô quạnh. “Tớ cũng không muốn làm Nanao vỡ mộng.”

“Muốn làm được cả hai thì lại quá khó,” Oliver rên rỉ, nhớ lại vẻ mặt cô bạn sắp sửa bật khóc. Cậu chẳng biết phải làm gì nữa. Cả hai người họ giữ im lặng một hồi; rồi, như để gạt đi sự ứ đọng, Chela lên tiếng.

“Cứ đứng đây lo lắng thì chẳng ích gì đâu. Mình đổi chủ đề… sang Katie đi.”

Cậu nhảy dựng. Ngay khi Oliver nghe thấy tên người bạn, suy nghĩ của cậu chuyển ngay sang nhỏ.

“Đấy là vấn đề lớn còn lại nhỉ?” cậu nói. “Mắt tớ suýt thì rớt ra khỏi tròng lúc trông thấy nhỏ ấy đứng giữa đũa phép của giáo viên và con troll đấy.”

“Ừ, cậu ấy có một tính cách mạnh mẽ hơn tớ tưởng. Không phải ai cũng nói được như cậu ấy sau khi hứng chịu lời nguyền đau đớn đâu. Tớ chắc cậu ấy sẽ còn tiếp tục phát triển.”

“Đồng ý… miễn là nhỏ ấy không chẳng may bị giết trước.”

“Đúng chính xác. Cậu biết đây là gì không?”

Chela lấy ra một quả bóng giấy vụn từ túi áo choàng. Trên bề mặt nó vẽ một vòng tròn ma thuật bằng mực đỏ, và lông của sinh vật nào đó dường như được dệt vào khoảng bên trong. Oliver xem xét nó một hồi trước khi đưa ra lời đoán mò.

“…Chất xúc tác ma thuật? Trông như một công cụ do thám, kiểu một dạng bẫy dập?”

“Biết ngay cậu sẽ nhận ra mà. Tớ nhặt được cái này ở trước phòng Katie sáng nay đấy,” Chela nghiêm nghị đáp.

Nét mặt Oliver lập tức trở nên nghiêm trọng hơn. “…Có người tính làm hại Katie ư?”

“Cũng không biết phải nói thế nào khác nữa. Nó không phải một cái bẫy chết người, nhưng cũng không thể được coi nhẹ như một trò nghịch ngợm. Nhớ vụ đoàn diễu hành không? Thủ phạm vẫn chưa bị bắt. Mà chắc là học viện đang điều tra nó,” nhỏ nói, cầm trong tay bằng chứng cho ý đồ đen tối của kẻ nào đó. Giọng nặng nề, nhỏ nói tiếp. “Thứ nữa, cha mẹ Katie—Tớ không bao giờ có thể nói ra điều này trước mặt cậu ấy, nhưng họ có chút tai tiếng ngay cả trong phong trào dân quyền. Xét việc cậu ấy là con gái họ, tớ không thể phủ nhận khả năng có thể cậu ấy bị lọt vào tầm ngắm.”

“…Tất cả đều dẫn đến thảm họa.”

Nhận ra sức nặng của tình hình, Oliver đưa một tay lên cằm nghĩ ngợi. Đa phần những việc này còn nằm trong bức màn bí ẩn, nhưng có một điều thì rõ: Ai đó đang nhắm đến Katie. Bất kể mục tiêu của chúng là gì, giữ im lặng sẽ không cải thiện được tình hình.

“Được rồi, vậy hãy tự mình điều tra thôi. Trước tiên, cậu nhắm có thể thu hẹp phạm vi những người đặt cái bẫy đó không? Khả năng cao là một người trong kí túc xá nữ.”

“Tất nhiên rồi. lí tưởng thì tớ có thể ngồi yên chờ đợi nước đi tiếp theo của họ, nhưng điều đó phụ thuộc hơi nhiều vào việc kẻ này mắc sai lầm,” Chela bình tĩnh đáp, đút vật xúc tác lại vào túi áo choàng.

Oliver gật đầu. “Chúng ta cần phải chủ động hơn. Liệu có thể tìm ra luôn thủ phạm đứng sau vụ diễu hành đó không?”

“Cái đó thì khó đấy. Chúng ta có thể biết thêm điều gì đó nếu tập hợp lời khai từ nhân chứng, nhưng một khi thủ phạm nhận ra ý đồ của chúng ta, thì mọi thứ sẽ sụp đổ.”

“Đúng là tiến thoái lưỡng nan mà. Giá mà có ai đó ngoài học sinh hoặc người trong đội ngũ giáo viên có mặt lúc đó…”

Đột nhiên, cậu dừng lại. Suy nghĩ của cậu đi đến một khả năng, Oliver ngẩng đầu dậy.

“Khoan, có mà! Không phải một người, mà một thứ!”

 

“Chúc một ngày tốt lành!”

“Rất vui được gặp lại mấy nhóc!”

“Mấy đứa có tận hưởng buổi tiệc chào mừng không?”

“Hy vọng là, không có đứa nào tè dầm.”

“Kya-ha-ha-ha-ha-ha!”

Ba hôm sau, vào cuối tuần, cả nhóm hành động theo ý tưởng của Oliver. Sáu người họ đứng trước thềm hoa thược dược ồn ào, đang nghĩ lại.

“Nè, Oliver. Tớ hiểu lô-gic của việc tới đây, cơ mà…”

“Đừng, Guy. Tớ không chọn cách này bởi vì tớ muốn thế,” Oliver cắt lời cậu bạn. Nhìn đám cây phấn khích ngoe nguẩy thân, cậu nói tiếp. “Nhưng đây là thứ chúng ta phải làm việc cùng. Những cây tự hào này đã chứng kiến cả đoàn diễu hành. Với nhiều ‘mắt’ như vậy, đám thược dược chắc hẳn sẽ nhìn ra kẻ nào đó hành xử kì lạ.”

Đó là lí do tại sao tất cả lại có mặt ở đây vào ngày nghỉ quý giá. Hoa Lộ nằm ngoài cổng học viện, nhưng vẫn nằm trong khuôn viên Kimberly. Việc xin phép ghé thăm từ phía giáo viên không khó. Họ chỉ cần nhớ phải quay về trường đúng giờ, không sẽ phải đối mặt với hình phạt đáng sợ.

“Ra vậy. Quả là thông minh. Nhưng mà, đây có thực sự phải chỗ tốt nhất không?” Nanao hỏi. “Vụ việc xảy ra ngay sau cổng học viện mà. Khu này xa quá rồi.”

“Không sao cả. Những cây tự hào cắm rễ cùng một đất đều có chung kí ức. Chúng ta nên khó để bị thấy từ khuôn viên trường thì tốt hơn.”

Cũng có những thềm hoa cây tự hào bên trong cổng học viện, mà những cây bên ngoài có thể lấy kí ức từ. Tuy nhiên, cùng với lí do cậu vừa đưa ra, còn một lí do nghiêm trọng khác nữa khiến họ phải ra tận ngoài này.

“Cái đó thì hiểu. Nhưng vấn đề lớn nhất là, chình xác thì cậu định làm mấy thứ này trả lời thẳng như thế nào?” Guy cau mày, rõ ràng không mong đợi gì nhiều.

Nghe cuộc trò chuyện của họ, đám thược dược chìa hết cuống ra.

“Cái gì đây? Mấy nhóc có một câu hỏi?”

“Đừng ngại ngần. Hãy hỏi ngay!”

“Với một điều kiện, chỉ có vậy!”

Đám cây háo hức như một điệp khúc.

Oliver thở dài. “Rồi đấy. Chỉ có một cách thôi, Guy,” cậu nói, thấp giọng. Mặt Guy ngày càng tối sầm theo từng giây.

“Không đời nào—đừng bảo, cậu đang nghĩ đến việc làm Giờ Tấu Hài Tuyệt Nhất của Địa Ngục, đấy nhé?”

“Chúng ta còn lựa chọn nào đây? Tớ đã quyết định rồi.”

Guy nuốt nước miếng. Bốn người còn lại dường như không hiểu. Oliver quay về phía họ và giải thích, hy vọng làm họ nguôi được theo ý mình.

“Cứ mỗi năm vào lễ nhập học cây tự hào lại nở một kiểu khác. Điều quyết định độ trưởng thành không phải là bàn tay xanh của ai đó, mà là một sự kiện được tổ chức ngay trước đó. Cả đám sinh viên năm sáu tụ tập lại đây và cố hết sức để mua vui cho đám cây. Về cơ bản… họ cố làm chúng cười bằng một buổi trình diễn,” cậu giải thích. Hơn bất kỳ loại phân bón nào, những bông hoa phép thuật ưa thích lề thói hài hước của con người.

“Việc thực hiện giao kèo này là cách duy nhất để lấy thông tin chính xác từ chúng. Mỗi người các cậu đều đã nghĩ về một trò đùa giống như tớ bảo chưa?” Oliver lần lượt nhìn từng người họ, cực kì nghiêm túc.

Katie khúc khích. “Sao phải làm quá lên thế! Cái này chẳng nghiêm trọng lắm đâu. Chúng ta chỉ cần làm gì đó buồn cười và khiến chúng cười là được, phải không?” Nhỏ bước lên, tràn ngập vẻ tự tin. “Để tớ mở màn. Tớ sẽ làm chúng khúc khích chỉ trong nháy mắt để tìm ra bất cứ kẻ nào đang nhắm vào tớ!”

Đám thược dược tung hô đầy mong đợi trước sự tin chắc của nhỏ.

“Nhóc trước ư?”

“Không biết nó định làm gì ta.”

“Phấn khích quá đi mất.”

“Heh-heh-heh! Cẩn thận không lại cười rớt cả cánh hoa bây giờ. Mọi người sẵn sàng chưa?” nhỏ vừa nói không sợ hãi vừa lấy một tấm vải trắng gấp từ trong túi ra. Trải hết ra, nó đủ lớn để trùm hờ một người nhỏ bé. Katie dùng nó che lên đầu rồi phụ họa theo.

“Và thế là! …Củ cải!”

Ngay khi cất lời, nhỏ trùm vải quanh người mình và ngồi sụp xuống đất, cong lưng và ôm tay ôm chân vào ngực. Xét đến sự mất cân đối của toàn bộ cơ thể bao phủ trong lớp vải, trông nhỏ có phần giống cây củ cải thật.

“……”

“……”

“……”

“………?”

Cơ mà có vẻ chẳng quan trọng. Khi khán giả không bật cười, nhỏ bắt đầu hoảng loạn.

“H-hở? …Củ hành!”

Lần này nhỏ lật người lại và, người vẫn cuộn tròn như trước, chắp hai cánh tay vào nhau và duỗi thẳng lên. Khối cầu tròn, trắng với cái ngọn hơi nhô lên trông như một củ hành tây đã bóc vỏ.

Nhưng đúng như dự đoán, cũng chẳng quan trọng. Bầu im lặng trở nên nặng nề hơn. Đặt hy vọng cuối cùng của mình vào trò kế tiếp, Katie tức thì đứng dậy và giang rộng cả hai tay hai chân.

“C-củ khoai ma!”

Khoai ma là một giống cây ma thuật có rễ giống như hình người. Việc để lộ cơ thể con người sau khi giả vờ làm thực vật có thể được coi như một màn chốt hạ—kiểu như punchline trong một màn diễn ba phần thông thường. Nghĩ một chút thì cũng không khó để hiểu ra cho lắm.

“……”

“……”

“……”

“……”

Nhưng lần nữa, nói chung cũng chẳng quan trọng.

“Ừ, thôi đủ rồi.”

“Nhóc lại gần đây hơn chút được không?”

“Ừ, lại đây. Mau lên!”

Đám thược dược dừng màn đánh giá để gọi Katie qua. Lúng túng, nhỏ lại gần chỗ thềm hoa. Ngay khi nhỏ lại đủ gần, thân chúng dướn dài ra và bao vây nhỏ bằng một tràng chỉ trích.

“Cái gì thế hả, buổi trình diễn tài năng cho con nít hay gì?”

“Chất hài ở đâu? Bọn ta phải cười vì cái gì mới được?”

“Đã thế lại còn bảo sẵn sàng chưa! Sẵn sàng cho cái gì cơ, sự thất vọng hả?”

“Diễn kiểu thế thì chỉ có dế nó mới xem thôi! Rồi chúng sẽ đến gặm sạch cánh hoa của bọn ta mất!”

“Nói xem, nhóc nghĩ hài kịch nó là một trò chơi hả?”

“Nhóc nghĩ sự sống chỉ là một trò chơi thôi đúng không?”

Những lời xấu xa xối xả xuống đứa con gái bất động. Sau ba phút không ngừng bị khiển trách, Katie quay người lại, run rẩy và như muốn khóc, và nhảy vào vòng tay của những người bạn.

Hức… Waaaah! Nanaooo!”

“Nào, nào, Katie. Xuôi, xuôi, không sao cả.”

Nanao an ủi Katie mếu máo, khẽ xoa đầu nhỏ.

Được an ủi bởi một bạn nữ trạc tuổi mình, nhỏ tóc xoăn khóc lóc. “Đó là trò hay nhất của tớ đấy! Mama và Papa lúc nào cũng bật cười khi tớ làm trò đó!”

“A, chẳng trách… Cha mẹ của cậu đúng là tốt bụng,” Chela nói, gạt một giọt lệ trong lúc nghĩ về gia đình ấm cúng nơi Katie được nuôi nấng. Lần thử thứ nhất của họ đã đi vào lòng đất một cách ngoạn mục.

Oliver lên tiếng, trên mặt mang vẻ không dễ chịu. “Giờ thì các cậu thấy đám cây tự hào là một đám nhà phê bình cực kì gay gắt rồi đấy. Đây mới là địa ngục thực sự của sự kiện này. Nếu không làm được chúng cười, chúng sẽ vây quanh các cậu và xâu xé trò đùa của các cậu ra thành từng mảnh. Cú sốc thậm chí khiến người ta phải liệt giường suốt nhiều ngày trời.”

“Tớ có nghe kể rồi, nhưng thế này còn tệ hơn nhiều so với tớ hình dung nữa.”

“T—Tôi không muốn làm đâu! Chả ai ngu mà lại bước ra để bị hành quyết cả!” Pete lắc đầu dữ dội và rúm ró người lại.

Trông thấy sự sợ sệt của đám bạn, Oliver cảm thấy có lỗi và tự mình bước lên phía trước.

“Đây là đề xuất của tớ, nên để tớ lên thứ hai.”

Cậu chàng đối đầu trực tiếp với dàn khán giả đáng sợ, và đám cây nhanh chóng hướng sự tập trung vào cậu.

“Nhóc tiếp hả?”

“Cái con bé đầu tiên kia hẳn là một sai lầm rồi.”

“Cu này trông có chuẩn bị đấy. Ta trông đợi nhiều.”

Những luống hoa tạo áp lực rồi sau đó giữ im lặng. Trong bầu im lặng căng thẳng, cậu chàng chuẩn bị cho màn diễn của mình bằng cách chôn một hạt giống. Cậu chĩa đũa thần vào nó và niệm một phép đâm chồi. Hạt giống nảy mầm và lớn lên trước mắt họ, hóa thành một cây non. Nó uốn éo theo nhiều đường phức tạp, cuối cùng tạo thành một cái bàn nhỏ. Mánh lới của trò này đó là cậu đã xử lí hạt giống đặc biệt này từ trước.

Trên chiếc bàn hoàn chỉnh, cậu đặt một cuốn sách lấy từ trong túi ra và một tách trà. Pete nheo mắt; xét theo bìa sách, đó là một cuốn sổ tay ma thuật cho người tập sự. Mọi thứ chuẩn bị sẵn sàng, Oliver hít sâu một hơi và mở lớn miệng.

“Xin giới thiệu với mọi người, vở Thất Bại của Pháp Sư Tập Sự!”

Ngay khi Chela nghe, mắt nhỏ vừa nhìn vừa mở to vì kinh ngạc.

“Vở này…?! Cậu nghiêm túc đấy hả, Oliver?”

“Hở? C-cậu biết nó à?”

“Tất nhiên rồi! Đây là một màn kinh điển, được biết đến như là đỉnh cao của giới hài kịch ma thuật. Những kĩ thuật đòi hỏi nằm ở mức độ cao và phức tạp đến nỗi ngày nay hầu như chẳng còn ai diễn nó nữa.”

Áp lực chồng chất từ cả hai phía, Oliver bắt đầu. Đầu tiên, cậu mở cuốn sách trên bàn và đọc trang thứ nhất. Hắng giọng ậm ừ vài tiếng, cậu gật đầu và gấp sách lại. Rồi, với vẻ tự tin, cậu vung đũa phép, chỉ lên trời, và niệm:

“Ffffflammaaa!”

Một ngọn lửa lóe lên không phải từ đầu đũa—mà từ phía đằng sau ngay trên đít cậu.

“Ơ! Úi!”

Oliver nhảy dựng trước sức nóng. Khi nhiệt hạ dần, cậu bối rối nhìn qua nhìn lại đũa thần và quyển sách. Trong lúc Katie và những người còn lại trố mắt nhìn, Chela phấn khởi giải thích.

“Đầu tiên, bài thử mào đầu: Cậu ấy tính niệm cầu lửa, nhưng ngọn lửa lại xuất hiện từ sau lưng và đốt mông cậu ấy. Cậu ấy đã đánh vần sai từ flamma¸ kéo dầu phần đầu và cuối để làm nó trở nên hài.”

Chela thầm gật đầu.

Trong lúc đám bạn nhìn, Oliver gấp sách lại, để nó trên bàn, và lại giơ đũa phép.

“Ffffflammaaa!”

Búp! ra ngọn lửa. Nhưng lại nữa, thay vì ra từ đũa thần, nó bốc lên ở một chỗ khác, lần này là từ tách trà sau lưng cậu.

“…? Ffffflammaaa! Ffffflammaaa!”

Không nhận ra ngọn lửa đang xuất hiện ở sai chỗ, Oliver không ngừng niệm phép mà chẳng có tác dụng. Ra vẻ phát cuồng, cậu quay người lại và với quyển sách nằm trên bàn.

“??? ????? …Ui da!”

Trong lúc xem lại hướng dẫn, cậu đã liếm môi và thản nhiên với lấy tách trà—để rồi la lên và làm rớt nó.

Trong lúc cậu thổi ngón tay cho nguội bớt, Chela mỉm cười và giải thích thêm. “Giờ là phần thứ hai. Ngọn lửa không chịu ra từ đũa phép, mà lại đi đun tách trà gần đó. Bực bội, cậu ấy bèn uống trà giải lao và, trong lúc với cái cốc, lỡ làm bỏng tay và hét ầm lên. Mạch diễn cũng rất tự nhiên nữa. Cậu ấy thực sự đã tập luyện nhiều.”

“Ờm… cậu ấy cố tình làm như vậy, phải không?” Katie hỏi.

“Tất nhiên. Bằng cách sử dụng phép thuật không gian khó kiểm soát, cậu ấy có thể giả vờ làm những thất bại cực kì hài hước. Đó là bí quyết của màn trình diễn này. Phần tiếp theo đòi hỏi một chút tính sáng tạo thực sự,” Chela nói đầy mong đợi.

Trong lúc đó, Oliver, đã bỏ cuộc sau hai lần thất bại, đang đọc một trang khác của cuốn sách. Cậu lấy ra hai hạt giống từ trong túi và chôn chúng dưới chân. Cậu đang định thử dùng phép cường hóa tăng trưởng mình đã dùng hồi nãy để thiết lập vở diễn.

“Brrrogoroccio!”

Cậu lại niệm một phép phát âm không đúng, rồi nhìn chỗ đất dưới chân và chờ một lát. Nhưng không có gì xảy ra.

“Brrrogoroccio! Brrrogoroccio!”

Tin chắc rằng thần chú không đủ mạnh, cậu bèn niệm đi niệm lại. Rồi có điều kì lạ xảy ra. Những hạt giống, vốn được trồng ở trước mặt, lại nảy mầm từ đằng sau và vươn thẳng lên.

“Ủa…?! Oliver, đằng sau! Đằng sau cậu kìa!” Katie điên cuồng la lên trong lúc cái cây mọc. Nhưng “pháp sư tập sự” mà Oliver đang diễn không nghe thấy nhỏ. Chẳng cho cậu biết, cái cây tiếp tục lớn dần.

“??? …Wow!”

Ngay khi quay người lại để xem cuốn sách, cậu thấy một cây hoa hướng dương nở rộ. Ngạc nhiên, cậu trượt chân và té dập mông. Cậu lơ đãng ngước nhìn những cánh hoa vàng vài giây. Rồi cậu bình tâm lại, đứng dậy, và thử niệm phép thẳng vào bông hoa hướng dương.

“…Brrrogoroccio! Brrrogoroccio!”

Cậu đọc đi đọc lại thần chú thành tiếng, nhưng bông hoa hướng dương không nhúc nhích. Thay vào đó, mặt đất sau lưng cậu bắt đầu rục rịch. Phá ra khỏi mặt đất, một thân cây vọt lên.

“????? Ôoooooo!”

Cảm nhận được gì đó, cậu chàng quay người lại thấy một bông hoa hướng dương khổng lồ thứ hai nở rộ. Kẹt giữa hai cái cây khổng lồ, cậu chàng hét lên và ngã ra. Tiếng cổ vũ của Chela vang theo.

“Bravo! Không những niệm một thần chú đâm chồi từ xa, đồng thời cậu ấy còn dẫn hướng cây mọc! Quả là một kĩ thuật cao cấp! Thậm chí chẳng cần phải nhìn ra đằng sau, cậu ấy đã làm cho cây mọc đúng ngang tầm mắt! Thế ai mà chả bị ấn tượng? Ồ, với cả nhìn những đường cong của cây đối xứng nhau đẹp mắt chưa kìa!”

Nhỏ khen ngợi hết lời. Hơi bị bối rối trước sự phấn khích của nhỏ, Pete và Guy nói nhỏ vào tai nhau.

“…Yâu, có vẻ cậu ta đang làm mấy phép thuật điên rồ kìa. Ông có hiểu không?”

“Chịu… Nhưng tui biết cứ lúc nào nói về mấy thứ mình thích là Chela lại như kiểu bị khùng ấy.”

Không có điều tuyệt vời nào Oliver đang làm ảnh hưởng đến hai người họ, những người có mắt nhìn ma thuật kém tinh tường hơn nhiều. Trong lúc họ chăm chú nhìn và cố hiểu cho ra, Oliver thoát ra khỏi cái bánh kẹp hoa hướng dương và xem một trang khác của cuốn sách. Cuối cùng, cũng đến màn chốt hạ.

“Ducere!”

Cậu niệm phép và vẫy đũa thần, niệm một thần chú triệu hồi đá sỏi từ xa. Lần này cậu phát âm chuẩn, nhưng sau vài giây chờ đợi, hòn đá vẫn ở yên tại chỗ. Oliver nghiêng đầu.

“Ducere! Ducere! Ducere! Ducere!”

Cậu thử đi thử lại thần chú, hy vọng ít nhất một lần thành công trong lúc thử bất kì hòn sỏi nào mình trông thấy. Sau năm lần niệm phép, không có gì xảy ra. Bực bội rõ ràng, cậu chàng giậm chân xuống đất.

“Mm…? Không có gì xảy ra kìa.”

“Xuỵttt! Giờ nó mới bắt đầu!” Chela gay gắt xuỵt Nanao.

Pháp sư tập sự, phát bệnh với những thất bại liên tiếp của mình, cầm cuốn sách và tách trà lên và chuẩn bị bỏ không luyện nữa. Ngay khi cậu quay người lại và bước một bước, năm hòn sỏi chậm chạp đột nhiên bắn vào lưng cậu.

“Ớooo?!”

Những viên đá đạn đều trúng trực diện, và Oliver ngã sấp mặt xuống đất. Với màn trình diễn cuối cùng đó, Chela nổ một tràng vỗ tay.

“Quá… Quá sức tuyệt vời! Cậu ấy đã căn giờ thần chú trì hoãn chính xác đến mức cả năm hòn đá đều bay đến cùng một lúc! Có quá nhiều yếu tố khác nhau như kích thước và khoảng cách, nhưng tất cả đều trúng cùng một lúc! Nghệ nhân! Tớ hết cả lời để khen cậu rồi, Oliver ạ!”

Nhỏ tiếp tục vỗ tay rầm rộ. Cuối cùng, Oliver đứng dậy, phủi đất cát khỏi áo choàng, và trịnh trọng cúi đầu trước khán giả. Đám cây lặng lẽ ở yên đó đánh giá trong lúc cậu chờ điểm số kết quả.

“Hừmmm… Ba mươi điểm.”

“Ủa cái…?!”

Phán quyết đưa ra như sấm đánh, và cậu trợn mắt vì sốc.

Đám thược dược nói tiếp.

“Thì, phải nói là nó ấn tượng.”

“Đúng, đúng.”

“Làm tốt lắm. Ta biết nhóc đã luyện tập rất nhiều.”

Chúng không hào hứng khen cậu trước khi không thương xót đi thẳng vào vấn đề.

“Cơ, mà… nó không hẳn là buồn cười.”

“……!”

“Có ai xem mà thấy buồn cười không?”

“Chắc chắn là không. Tuy là nó ấn tượng thật.”

“Ta thấy có người hết lời ca ngợi, nhưng đấy là đối với những kĩ thuật được sử dụng thôi.”

Chela há hốc mồm nhìn về phía bốn người bạn. Nét mặt họ vẻ hối lỗi một cách kì quặc, ủng hộ lời của đám cây một cách tàn độc.

“Trong vở diễn của nhóc có nhiều căng thẳng quá.”

“Nó khó tiếp cận, như nghệ thuật truyền thống vậy. Cảm giác như bọn ta đang bị ép phải xem nhóc thể hiện.”

“Bọn ta chỉ muốn những tiếng cười tự nhiên hơn nhiều thôi.”

Lời của chúng là những con dao găm, khoét vào tim gan Oliver. Cảm tưởng như thể chúng đang phủ nhận chính cốt lõi của con đường hài kịch mà cậu đã dành cả đời để theo đuổi. Chấn động từ một tác động như vậy làm cậu choáng váng, và cậu ngồi bệt xuống. Katie vội chạy đến bên cậu.

“O-Oliver…!”

“…Tôi biết mà. Ôi, tôi biết…! Nghệ thuật của tôi chỉ là những mánh lới rẻ tiền! Tôi có thể làm chủ những chi tiết của kĩ thuật, nhưng nó không có cái hồn. Và tôi biết điều đó, tôi thực sự biết! Nhưng—làm thế nào để tìm được cái hồn đó đây? Tôi đã học lí thuyết từ những người đi trước, tập luyện suốt hàng năm trời cho đến khi kĩ thuật trở nên hoàn hảo, nhưng vẫn chẳng là gì cả! Tôi còn có thể cải thiện bằng cách nào…?!”

Cậu cào cấu mặt đất trong thống khổ. Bạn bè vội vã tìm lời an ủi cậu.

“N-nói sao nhỉ? Guy, cậu thì sao?!”

“Chịu! Pete, nói gì đi!”

“Đừng có đùn đẩy cho người khác chỉ vì mấy người không nghĩ ra được gì! Ờm, ờ… m-muốn ăn kẹo không?!”

Họ đang bắt đầu trở nên hoảng loạn khi mà chẳng nghĩ ra được gì. Chela khoanh tay, trên mặt vẻ nghiêm nghị.

“Trời đất. Thông thường, đối với hài kịch ma thuật thì tớ hay đứng ở bên khán giả, nên không thể nào tớ làm được tốt hơn đâu. Nếu Oliver còn không được, thì chúng ta hết cơ hội rồi.”

Cảm giác như thể họ vừa chợt chạm phải đường cụt. Thì rồi, Nanao kiêu hãnh bước lên phía trước.

“Có vẻ chúng ta lâm vào thế khó rồi. Heh-heh-heh! Vậy hãy để ngôi sao bước lên sân khấu.”

“Nanao? Cậu là một người diễn hài ư?”

“Nó lại chuẩn. Lúc nào tôi cũng diễn màn chính trong các lễ hội ở làng đấy,” cô tự tin nói. Cô cởi bỏ áo choàng và đưa nó cho Chela, rồi không run sợ đứng ra trước mặt đám thược dược. “Nào, đám hoa ác quỷ, hãy xem đây! Điệu múa bụng đặc biệt của ta!”

Và thế là, đột nhiên cô bám vào gấu áo ngoài. Bụng cô mới lộ ra, khi mà bất chợt, Chela và Katie hùng hục lao tới giữ lấy cả hai tay cô.

“…Hwở? Sao hai cậu lại giữ tôi?” Nanao nhìn bối rối vào hai người bạn.

Chela trang nghiêm lắc đầu. “Xin lỗi, Nanao. Theo thuần phong mỹ tục của đất nước này, thiếu nữ để lộ da thịt giữa thanh thiên bạch nhật không phải là một dạng nghệ thuật. Katie! Xin hãy giữ chặt tay cậu ấy!”

“Ừa! S-suýt chút nữa thì…”

Katie gật đầu, và hai người họ kéo Nanao đi. Không hiểu sao mình lại bị ngăn cản, Nanao không ngừng quay qua quay lại giữa hai người.

Khi mà người biểu diễn thứ ba sủi mất, Guy thở dài và gãi gãi sau gáy.

“…Thôi thì. Chắc thử tí cũng chẳng chết ai,” cậu nói và bước ra trước đám hoa. Chela trợn mắt.

“Guy, cậu nghiêm túc đấy hả? Chúng sẽ hành cậu ra bã nếu cậu không buồn cười dù chỉ một chút đấy.”

“Thì biết. Nhưng chúng chỉ là cây thôi mà. Tớ không íu đúi vậy đâu,” cậu nhún vai đáp. Cậu bắt đầu ngân nga một giai điệu vui tươi.

“Doo doo duh da-doo! ♪ Doo doo duh da-doo! ♪”

Tay chân cậu di chuyển theo nhịp điệu. Bắt theo nhịp, đột nhiên cậu thọc tay vào trong áo choàng.”

“Ớt chuông! ♪ Ớt chuông! ♪”

Lôi ra một thứ rau xanh trông tươi rói. Cầm nó một bên tay, cậu cắn một miếng cả vỏ. Tiếng cậu nhai phát ra rồm rộp. Rồi cậu nuốt, mỉm cười, và giơ ngón cái.

“Ngờ-on-ngon!” cậu nói vẻ tấu hài, và bắt đầu ngân nga giai điệu “Doo doo duh da-doo! ♪” và nhảy. Nó kỳ dị đến mức Katie phải bật cười khúc khích.

“Cà rốt! ♪ Cà rốt! ♪”

Tiếp theo, cậu rút ra một củ cà rốt màu cam tươi từ trong áo choàng. Cậu cầm nó bằng cả hai tay trước mặt, đặt ngọn lên môi—và vén chúng lên, để lộ ra răng cửa. Như một con sóc, cậu gặm gặm củ cà rốt với tốc độ đáng kinh ngạc. Sau quả mặt tự dưng thấy buồn cười đó, Chela lỡ phun ra và phải vừa che miệng vừa cười.

“Ngờ-on-ngon!” Guy nói bằng giọng tấu hài thương hiệu, giơ ngón tay cái ra sau khi ăn xong củ cà rốt chỉ để lại ngọn. Một lần nữa, cậu lại bắt đầu ngân nga và nhảy nhót, lần này lôi từ áo choàng ra một củ hành tây.

“Củ hành! ♪ Củ hành! ♪”

Cậu vừa hát vừa bóc vỏ củ hành. Bạn bè cậu quan sát, thấp thỏm—cậu ấy thực sự định cắn nó ư? Và một khi bóc vỏ xong, cậu ta thực sự cắn vào củ hành trong lúc tất cả nhìn. Ngấu nghiến nó như ăn một quả táo giòn, cậu nuốt nó xuống. Ngay khi làm xong, cậu lè lưỡi ra vì cay và một tay ôm đầu.

“……Ngờ-on-ngon!”

Lệ thành hình trong khóe mắt, cậu ép mình giơ ngón tay cái lên. Pete suýt thì ngã ngửa vì bị kích động. Sau khi hồi phục lại từ việc ăn nguyên cả củ hành, Guy lại tiếp tục hát, có vẻ vẫn chưa rút ra bài học.

“Bí xanh! ♪ Bí xanh! ♪”

Món rau củ thứ tư mà cậu đưa ra khiến Katie và những người còn lại lác mắt. Nó thực sự là một quả bí xanh. Ngoại trừ việc quả này to dữ dội phải cỡ hơn 25 centi và dày khự như cánh tay cậu chàng. Không đời nào cậu ta có thể ăn hết nguyên cả quả.

Bạn bè lo lắng quan sát trong khi Guy quay người lại, quay lưng về phía họ. Trong lúc khán giả thắc mắc cậu đang định làm gì, thì nghe tiếng goàm như có thứ gì đó vừa bị thồn vào một khoảng không vừa. Đột nhiên, họ nhận thấy một chỗ lồi kì lạ ở bóng Guy chỗ phần đầu. Ai nấy đều nín thở khi cậu từ từ quay người lại.

“Nqờonnqon!”

Nguyên quả bí xanh được nhét vào mồm cậu, má phồng ra cả hai bên như một con ếch. Mà như vậy vẫn không ngăn nổi cậu nói ra câu cửa miệng. Im lặng bao trùm lên cả nhóm, như sự bình lặng trước khi giông tố ập đến.

“““““““GYA-HA-HA-HA-HA-HA-HA-HA- HA-HA-HA!”””””””

Đám cây tự hào phá lên cười, bỏ quên mất cả phẩm giá. Katie, Chela, Nanao, và Pete vừa bịt mồm vừa ôm bụng, thở khò khè.

“…! …! …!”

“Wah-ha-ha-ha-ha-ha! Trời đất ơi! Trời đất ơi!”

“K-khoan…! B—Bụng tớ, không nổi mất…!”

Những tiếng cười không ngừng vang lên. Trông thấy trò hề của mình đã thành công, Guy lấy quả bí xanh ra khỏi miệng và vừa cắn vừa bước tới.

“Buồn cười đúng không? Chắc là thử cũng đáng mà.”

Hộc, hộc… Guy, ôi trời đất ơi…?” Chela vừa hỏi vừa thở không ra hơi, tay gạt nước mắt.

Pete trả lời thay bạn. “M-màn này dựa trên trò diễn của người diễn hài không ma thuật. Tôi từng xem họ diễn rồi. Ông này lôi hết loại rau củ này đến rau củ khác từ trong túi ra, rồi ăn ngấu nghiến chúng và tạo dáng… Chỉ vậy thôi…,” cậu chàng hồi tưởng, cố giữ cơn cười lại khỏi trực chào.

Guy tự hào vỗ vai cậu ta và mỉm cười. “Quả bí xanh là trò của tớ. Ta đã niệm trước một phép nới lỏng lên miệng để làm nó co dãn hơn. Vốn dĩ tớ đã luôn thích hài kịch không ma thuật. Thỉnh thoảng thậm chí tớ còn lẻn đi xem các buổi diễn. Đây là trò yêu thích của tớ. Nó thậm chí có thể làm cho trẻ con ăn rau đấy.”

Cậu chàng hí hửng dụi dụi mũi. Đằng sau cậu, một bóng hình trồi lên như một con ma đội mồ sống dậy.

“Guy…”

“Woa! O-Oliver?!”

Tiếng rên khẽ làm cậu nhảy dựng. Trước khi cậu kịp di chuyển, Oliver đã nắm chặt cứng lấy cả hai vai cậu.

“Cậu…,” cậu tuyệt vọng khò khè. “Sao…?! Sao cậu lại làm được? Tớ đã bỏ ra bao công sức, nhưng đối với cậu nó lại dễ dàng như hít thở…!”

“Oliver, b-bình tĩnh! Mặt cậu đang làm tớ sợ đấy!”

“Oliver, tớ hiểu cảm giác của cậu mà. Cứ khóc đi khóc đi đừng ngại ngùng. Nước mắt không làm ai cảm thấy cậu thấp kém hơn đâu,” Chela thảm thương nói, khẽ đặt tay lên lưng cậu. Khi mấy đứa trò chuyện xong, thì tràng cười om sòm của đám thược dược cuối cùng cũng hạ nhiệt bớt.

“A-ha-ha-ha! Mm, đúng là ngạc nhiên thật!”

“Đã lâu rồi ta mới lại được thấy một kiệt tác như vậy.”

“Hai đứa trước đưa hy vọng của ta xuống quá sâu đến mức làm ta phải cười càng dữ dội.”

“Đám năm nhất đúng là không đùa được đâu. Mà, về tính nhất quán thì vẫn chưa tốt lắm.”

Đám thược dược lần lượt đưa ra bình luận.

Nhìn phản ứng của chúng, Katie chợt nhớ ra điều gì đó. “Ồ! Vậy các ngươi sẽ trả lời câu hỏi của bọn ta chứ?”

“Mm, tôi quên xừ mất vụ đó,” Nanao nói, vỗ hai tay vào nhau.

“Chắc không chỉ mỗi cậu đâu,” Pete thêm, thở dài mệt mỏi.

Đám thược dược hoạt bát nảy hoa lên xuống.

“Tất nhiên là có rồi.”

“Tất nhiên rồi, sau những tiếng cười ấy. Ân huệ phải được đền đáp.”

“Hỏi gì cũng được. Mấy đứa muốn biết điều gì?”

“Thì, số là…”

Lúng túng, Katie giải thích tình hình. Khi xong xuôi, đám hoa nghĩ ngợi trong chốc lát.

“Ồ, vụ đoàn diễu hành hả? Ừm, có một người hành xử đáng nghi,” chúng dễ dàng trả lời, đến mức gần như biến mọi nỗ lực từ nãy đến giờ của họ trở nên vô nghĩa. “Người đó ở ngay sau lưng mấy nhóc kìa.”

 

 

Họ thực hiện kế hoạch vào trưa ngày hôm sau để nhắm vào lúc đối tượng mất cảnh giác.

“Tuy hơi bất chợt, nhưng cậu có thể đi cùng bọn tớ không, Cậu Mackley?” Oliver hỏi, chặn ở sảnh đường. “Bọn tớ có vài câu hỏi cho cậu.”

Không còn đường nào đi, cô gái gắt gỏng nhìn cậu. “C-cậu bị gì vậy hả? Tránh ra.”

“Sau khi cậu trả lời câu hỏi của bọn tớ đã, Cậu Mackley.”

Chela xuất hiện từ một góc sau lưng cô nàng. Ngay khi mặt Mackley bắt đầu hiện lên vẻ hoảng loạn, Katie nhanh chóng bước ra trước mặt cô.

“…!”

“Để nói thẳng vấn đề luôn nhé. Có phải cậu là người đã niệm phép vào tôi hôm nhập học không?” Katie hỏi, nhìn thẳng vào mắt cô gái.

Không chịu nổi áp lực, Mackley ngoảnh mặt đi. “Tôi không biết cậu đang—”

“Chính là cậu ta.”

“Chuẩn rồi.”

Ngay khi cô định phủ nhận, Oliver và Chela liền cắt ngang. Cô gái đứng hình, và họ bắt đầu đưa ra lời phân tích.

“Ánh mắt, khuôn mặt, dòng chảy ma thuật ngắt quãng, sự cương cứng trong cổ họng—mỉa mai thay đó là dấu hiệu của lời nói dối.”

“Đúng rồi. Cậu còn chẳng gần đến mức đủ xảo quyệt để lừa tôi đâu, Cậu Mackley.”

“…!”

Nỗi sợ hiện rõ trên mặt trong lúc cô gái nhũn ra như bún trước cuộc thẩm vấn. Đã vạch trần bí mật, Katie bước vào thẩm vấn cô nàng, không hề giấu vẻ tức giận.

“Thì ra chính cậu… Tại sao? Tại sao cậu lại làm thế?!”

“T—Tôi đã bảo, tôi không biết cậu đang—”

“Cậu Mackley, bọn tớ có nhân chứng. Giả ngu cũng vô ích thôi. Nếu bọn tớ báo chuyện này cho thầy cô giáo, khả năng cao cậu sẽ bị niệm phép thú tội đấy.”

Oliver dùng sự thật để dồn cô vào chân tường khi cô cố đánh trống lảng để thoát khỏi câu tra hỏi. Ngay khi Mackley nghe thấy từ phép thú tội, nét mặt cô trở nên méo mó vì sợ hãi. Cô hiểu nỗi đau đớn đi kèm với nó.

“Nếu cậu thừa nhận hành vi của mình và cho bọn tớ biết động cơ cũng như những kẻ có liên quan, thì bọn tớ không có lí do gì để làm to chuyện này cả. Thế cậu có tính khai không?”

Cậu đưa ra các điều kiện, khiến cho việc đi đến quyết định trở nên dễ dàng hơn. Ngay cả vậy, cô gái vẫn do dự thêm đôi chút, cân đo giữa sự an nguy và bí mật của mình. Cuối cùng, cán cân lệch.

“T—Tôi chưa bao giờ định để chuyện đó xảy ra cả. Tôi chỉ muốn làm cậu sợ chút thôi…!” cô tuyệt vọng giải thích, quay ngoắt một trăm tám mươi độ so với chỉ vài khắc trước.

Chela chăm chú cô nàng. “Vậy là cậu thừa nhận. Giờ thì, hãy bình tĩnh kể lại cho bọn tớ từng chút một. Đầu tiên, động cơ để cậu nhắm vào Katie là gì?”

“…G-gia đình tôi là những pháp sư chính thống. Tôi được dạy rằng đám người ủng hộ dân quyền và lũ yêu thích á nhân là con sâu làm rầu nồi canh trong cộng đồng ma thuật.”

“Vậy đơn giản là cậu không thích triết lý của nhỏ ấy?” Oliver tóm tắt lại lời thú tội, giọng đanh thép. Cô gái gật đầu.

Điều này không ổn lắm với Katie. “Thế thì nói thẳng vào mặt tôi đây này! Hà cớ gì phải tự nhiên đâm sau lưng người ta thế hả?”

“……!”

“Katie nói phải. Tất cả những gì cậu đạt được chỉ là làm xấu mặt phe của cậu thôi. Thiển cận lắm, Cậu Mackley ạ,” Chela thở dài nói. Cô gái nhìn xuống sàn nhà và nghiến răng trong lúc Chela nói tiếp. “Tớ còn muốn lên lớp cậu nhiều hơn cơ, nhưng bọn này còn có ưu tiên, nên tiếp nào. Cậu đang làm việc với ai? Không thể có chuyện cậu vừa bỏ bùa Katie vừa kích động con troll cùng một lúc được.”

Ngay khi Chela hỏi, đầu Mackley giật bắn, và cô lắc đầu quầy quậy.

“Đã bảo không phải thế mà! Lẽ ra không phải là như thế! Tôi chỉ mỗi làm Cậu Aalto chạy về phía đoàn diễu hành thôi. Thế rồi tự nhiên, con troll lao về phía cậu ấy, và…”

Cô gái van xin họ tin mình. Oliver và Chela chăm chú quan sát sự thay đổi trong biểu cảm cô nàng trước khi đi đến kết luận khó khăn.

“…Cậu ấy không có vẻ đang nói dối.”

“…Ừ không đâu.”

“Hở? Thế nghĩa là sao?” Katie nghiêng đầu khó hiểu.

Oliver chỉnh sửa phỏng đoán của mình và nói ra cho nhỏ.

“Bạn nữ này chính là người đã tấn công cậu, nhưng cậu ấy không biết con troll bị cái gì cả. Có thể cậu ấy đã bị điều khiển trong vô thức, hoặc có một kẻ thủ phạm khác vô tình hành động cùng một lúc…”

“Nếu vậy thì, chúng ta không thể dùng cậu ấy để xác định danh tính của kẻ kia được,” Chela khoanh tay nói nhỏ. Ba người họ nhìn nhau còn Mackley thì rúm ró lại, im lặng như con chuột nhắt.

 

 

Kimberly có nhiều cửa hàng do trường quản lí nơi học sinh có thể mua bim bim, nước ngọt, đủ loại dụng cụ ma thuật, và nhu yếu phẩm hàng ngày. Góc đồ uống nói riêng luôn bày bán hơn hai mươi loại nước uống cùng một lúc, được luân chuyển liên tục ngoại trừ những nhãn hàng nổi tiếng nhất. Các sản phẩm có tham vọng mới thường xuất hiện: Ví dụ, nước cam đẫm máu từ vài tháng trước khá theo nghĩa đen là một loại cocktail pha giữa nước cam và máu gà. Theo các học sinh khóa trên, nó “vẫn uống được; ngon hơn chán so với liên tưởng từ tên gọi.”

“Đây, Oliver. Của cậu màu tím.”

“………Cảm ơn.” Oliver đưa Guy một đồng xu vì đã làm phiền và nhận lấy chai chất lỏng màu độc hại. Thông thường, khi mua các sản phẩm mới một cách ngẫu nhiên, người ta thường mua được hàng lởm, nhưng rủi ro lại là thứ thu hút các học sinh. Thay vì những món đồ uống an toàn, thơm ngon, họ lại thích bu vào những món không rõ nguồn gốc—có lẽ đây là một phần của việc làm pháp sư.

“…Vụ này mãi mà chẳng xong,” Oliver vừa nói vừa thận trọng mở nắp chai.

Ngồi kế bên, Chela cầm trong tay một chai nước màu đỏ như lửa.

“Ừ, giống như kiểu cố bắt một con thằn lằn và chỉ tóm được mỗi đuôi của nó vậy. Chúng ta vẫn chẳng biết gì về thứ làm con troll nổi khùng.” Trong lúc nói, nhỏ hớp một ngụm đồ uống. Nhỏ ngậm nó trong mồm một lát trước khi nuốt xuống và hơi nhăn mày. “…Nước ép Củ Cải Giận Dữ,” nhỏ lẩm bẩm. Nó là một loại rau ma thuật cay được sử dụng để tạo mùi muối. Oliver ấn tượng khi thấy nhỏ chỉ cần cau mày để xử lí sự cay xè.

“Tuy nhiên,” nhỏ nói tiếp, “chúng ta biết cái bẫy ma thuật này được đặt bởi một năm nhất quen thân với Cậu Mackley. Đúng như dự đoán, có một phe học sinh mới bảo thủ ngoài kia đang cố gây rối cho Katie.”

“Thay vì cố tìm ra kẻ còn lại, chúng ta nên ngăn hành động của họ trước khi mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát. Nếu cứ để kệ, thì họ chỉ càng được nước lấn tới thôi. Nanao và Pete cũng có thể dính tên bay đạn lạc nữa.”

Nói lên quan điểm, Oliver nhấp một ngụm từ chai của mình. Đột nhiên, một vị tanh nồng nặc xộc xuống họng và mũi cậu. Đây chắc chắn không phải mùi của một thứ uống được, nhưng vị lại khá quen. Đây là chất nhầy từ con sên biển, thường được sử dụng như thành phần trong các loại thuốc ma thuật. Oliver vật lộn để giữ mọi thứ ở yên trong dạ dày mình.

“Tớ cũng thấy lo về chuyện đó… Có lẽ chúng ta cần cân nhắc đến một cách xử lí mang tính chính trị hơn,” Chela ngẫm nghĩ.

Oliver chờ đợt công kích trong mồm mình lắng xuống trước khi trả lời.

“Có thể nói chúng ta vẫn chưa nhìn nhận nghiêm túc lắm đối với vụ này. Cơ mà—”

Vừa nói, cậu vừa quan sát cảnh tượng trước mặt. Họ đang ở khu phức hợp ma thú đã từng ghé thăm lúc trước, cùng với Nanao, Guy, và Pete. Katie nốc đồ uống và, sắn tay áo lên, tiến lại gần chuồng con troll.

“Ta trở lại rồi đây! Hôm nay là ngày chúng ta trở thành bạn bè!”

“Ha-ha, đúng là em không chỉ nói cho vui. Mà không cần phải vội đâu. Hôm nay có vẻ nó không được vui vẻ lắm,” Miligan cảnh báo khi Katie lao về phía trước.

Con troll đang cuộn tròn ở trong góc chuồng. Nó phát ra tiếng gầm trầm, như lời dấu hiệu cảnh báo trước con người.

“Hầu hết troll ở Kimberly đều quen với con người, nhưng chỉ riêng sinh vật tội nghiệp này là bị như thế kể từ vụ ở đoàn diễu hành,” Miligan nói. “Còn chẳng ăn uống gì cả. Nó cứ gầm gừ ngày càng yếu ớt thôi.”

“Nó sợ ấy mà, tội nghiệp quá,” Katie nói vẻ thương hại. Một tay cầm bát thức ăn troll, nhỏ rón rén lại gần chuồng và gọi. “Ê, nè. Không sao đâu. Ta không phải kẻ thù của ngươi. Chắc ngươi đói rồi hả? Ăn chút đi nè.”

“……”

Con troll vẫn cuộn tròn, chỉ lặng im nhìn nhỏ. Katie tự hỏi phải làm thế nào để khiến nó bớt cảnh giác hơn—và rồi chợt nảy ra một ý tưởng. “Chị Miligan, trong này có gì vậy?”

“? Chỉ là cháo hạt bình thường thôi. Sao thế?”

“Thế chắc em ăn chút được chứ hả?”

Miligan trợn tròn mắt. Không đợi câu trả lời, Katie thọc tay vào trong bát, múc lên ít cháo, và bỏ vào miệng. Nhỏ nhai những hạt luộc vô vị, không gia vị và nuốt.

“Thấy không? Không sao mà. Không có gì xấu trộn vào đâu,” nhỏ mỉm cười nói với con troll. Rồi nhỏ ngồi xuống và hơi đẩy cái bát qua những song sắt. “Ăn một mình thì không vui nhỉ? Mình cùng ăn nào.”

Không ai nói được gì để ngăn nhỏ cả. Tất cả đều biết đây là cách nhỏ ấy cố để khiến sinh vật kia mở lòng.

Oliver mỉm cười trong lúc nhìn từ xa; cả cậu lẫn Chela đều cùng thở dài.

“…Tớ không nghĩ mình đủ dũng khí để bảo Katie để ý hơn đến cách nhìn nhận của người khác.”

 

 

 

 

 

 

“Thật vậy… Dù tốt hay xấu, Kimberly đầy rẫy những con người với ý chí mạnh mẽ. Katie vẫn còn đang phát triển; Tớ không muốn ép một mầm non như vậy phải uốn mình,” Chela nói với vẻ mặt chân thành.

Oliver gật đầu tán thành. “Chúng ta chỉ cần phải có thêm đồng minh trong lớp và lớp anh chị thôi,” cậu thêm. “Ấy sẽ là trở lại lớn nhất đối với những kẻ định làm hại cậu ấy.”

“Phải. Theo nghĩa đó, tình bạn với Chị Miligan này là một dấu hiệu của sự may mắn. Một sinh viên năm tư có tài, đáng tôn trọng, và ủng hộ á nhân—Tớ không nghĩ Katie có thể tìm được một đồng minh đáng tin cậy hơn,” Chela vừa nói vừa nhìn phù thủy đứng sau lưng Katie. Rồi nhỏ quay sang Oliver. “Về việc kiếm thêm đồng minh ở trường, tớ sẽ cố hết sức để lôi kéo một số người. Cậu có biết ai có tiềm năng không?”

“Như từng nói, anh em họ tớ là học sinh ở đây… Nếu tớ giải thích tình hình, có thể họ sẽ giúp một tay.”

Chela nghiêng đầu trước giọng có phần kém chắc chắn của cậu. “Trông cậu có vẻ không hào hứng lắm về viễn cảnh đó.”

“Nó giống như kiểu bảo họ tớ không thể tự giải quyết vấn đề của mình tuy mới vào học kì chưa đầy một tháng vậy… Tớ hy vọng mình sẽ không cần phải nhờ họ giúp đỡ cho đến mãi tận sau này.”

Oliver nhắm mắt và thở dài.

Một nụ cười nở trên môi Chela. “Tớ thích điều đó ở cậu lắm đấy, Oliver.”

“…? Nghe cứ như đang thương hại người ta vậy.”

“Không. Bản thân cậu có lòng tự trọng, nhưng cậu lại sẵn sàng ưu tiên sự an toàn của bạn mình. Và tớ rất là thích phẩm chất đó.” Nhỏ chân thành khen ngợi bạn mình—nhưng liền đó, mặt nhỏ tối sầm lại. “Có lẽ Cậu Andrews đã có thể trở nên tương tự… nếu như không phải đối phó với tớ.”

Nhỏ cay đắng bặm môi. Oliver đã lạc mất số lần đếm nhỏ tự trách bản thân vì điều đó. Nhưng ngay cả khi biết điều ấy, với tư cách là người bạn kề bên, Oliver vẫn không để cô làm vậy.

 

 

Trong lúc Katie cố gắng giao tiếp với con troll, Oliver và Chela mở một buổi họp bàn chiến lược về cách cải thiện tình hình. Trước khi họ kịp nhận ra, hàng tuần đã trôi qua—và mọi thứ chỉ càng trở nên tệ hơn.

“Ê, mày thấy con nhỏ vừa rồi không? Nó lại đến chỗ con troll nữa đấy.”

Ngay trước khi tiết học buổi chiều chuẩn bị bắt đầu, một người trong số học sinh tụ tập ở phòng thần chú học bắt đầu to nhỏ với đám bạn. Những người nghe thì khịt mũi chế nhạo.

“Không thể tin nổi nó lại qua lại với những sinh vật đần độn, man rợ ấy. Đúng là ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.”

Cả đám khúc khích trước lời sỉ nhục không hề che đậy. Vì Katie không có trong phòng, họ còn chẳng thèm giữ giọng xuống.

“……”

Oliver, ngồi trong một góc phòng học, vểnh tai lên nghe. Dường như mỗi ngày trôi qua lời bàn tán về bạn cậu càng trở nên tồi tệ. Cố hết sức để giữ bình tĩnh, cậu không khỏi cảm nhận được một nỗi tủi hổ sâu sắc.

“Mà, nó thích làm gì thì làm thôi, nhưng sau đấy ít nhất cũng tắm đi thì tốt. Cái mùi troll nó mang tới đây ám hết cả vào phòng học rồi!”

“Ah-ha-ha! Nè, thế hơi quá đáng rồi đấy!”

Đám học sinh bịt mũi làm vẻ chế nhạo.

Oliver nghiến răng kèn kẹt. Đó là một lời nói dối trắng trợn. Katie luôn đảm bảo có sẵn thuốc mỡ khử mùi để không làm ghê mấy học sinh khác. Quả đúng là troll có một mùi cơ thể đặc trưng, nhưng nhỏ chưa bao giờ mang thứ đó vào trong lớp học. Xét cho cùng, nhỏ là một người chu đáo, và chưa bao giờ quên thể hiện ra sự cần mẫn vốn có của mình.

“Bọn này bị cái quái gì vậy?”

Guy giận dữ đứng dậy khỏi chỗ ngồi, nhưng Oliver giữ tay cậu lại.

“Guy, Pete, cứ kệ đi. Cãi nhau ở đây cũng chẳng được gì đâu.”

“Tôi chắc chắn không định dây dưa vào đâu… Mà dạo này đám người đó đúng là thản nhiên hết chỗ nói,” Pete vừa nói vừa lật giở sách giáo khoa. Lời bàn tán vẫn tiếp tục.

“Mà nói ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, cả bạn bè nó cũng toàn một lũ lập dị đấy, biết không?”

“Ồ, lại chẳng. Như cái con nhỏ samurai đó!”

“Đúng là hài hước. Ngay cả sau bảy tiết thần chú học, nó vẫn không thể niệm nổi một phép lửa nào. Con bé đó đúng là chẳng biết làm gì khác ngoài khua kiếm lung tung.”

Đám đông nhỏ bật cười khành khạch.

Môi Guy xoắn xít lại vì giận. “…Giờ còn nói xấu cả Nanao nữa. Lũ bỉ ổi.”

“Đám ngu ngốc nhỏ nhen. Bộ tưởng đi nói xấu người khác thì khiến mình tốt hơn chắc?”

“……”

Oliver nhìn xuống trong im lặng. Rồi chủ đề lời bàn tán của đám học sinh quay trở lại về Katie.

“Ê, biết gì không—Tao từng thấy con nhỏ Aalto đó nói chuyện với troll đấy.”

“Hả? Nó thực sự nói chuyện với thứ đó ư? Làm thế nào?”

“Đấy, đúng không? …Pfft! Buồn cười lắm nhé… Nó, kiểu, cứ xì xà xì xồ ấy!”

“Hở? Xì xà xì xồ? …Kiểu, tiếng xì xồ của troll á?”

“Đúng, đúng! Hệt như con troll ấy! Nghe lạ chết đi được!” Thằng cu vỗ đùi cười ha hả. Nhưng như thể vẫn chưa đủ, hắn bắt đầu nhại lại tiếng. “Ừa, kiểu thế này này: HOO! FOH! FOOH!”

“Pfft—ah-ha-ha-ha-ha-ha! Ôi trời đất, cái quái gì vậy trời?”

“Ugh, tởm quá đi mất! Đúng là hài hước mà!”

Đám học sinh tiếp tục chế nhạo mà chẳng ngó ngàng ai. Đây không hề còn là một lời thì thầm to nhỏ nữa. Guy cuộn chặt nắm đấm.

“…Ê. Tớ vẫn còn phải ngồi đây mà nghe hả?”

“……”

Oliver không nói gì mà chỉ nắm chắc cánh tay người bạn. Đừng làm gì để rồi hối hận, cậu cố truyền đạt. Nếu họ để cảm xúc che mất lí trí và gây ra cuộc ẩu đả, thì sự xung đột sẽ càng trở nên công khai và thu hút nhiều kẻ thù hơn. Không những một giải pháp khả thi sẽ trở nên kém khả thi hơn, mà sau cùng nó chỉ khiến Katie bị tổn thương thêm.

Hộc! Hộc! …Kịp rồi!”

“Tí nữa thì lại muộn!”

Thì rồi, hoàn toàn không biết chuyện gì xảy ra, Katie và Nanao chạy vào. Đám học sinh ngay lập tức im thít. Chắc hẳn họ không đủ mặt dày để cứ tiếp tục như thế trước mặt nhỏ.

“Đây rồi! Nhắc Tào Tháo Tào Tháo đến liền!”

“Hở?”

Nhưng hy vọng của Oliver vụt tắt. Thanh niên mở màn trò chế nhạo định lôi kéo luôn cả nạn nhân vào, khi mà giờ đây cô bé chẳng hay biết gì vô tình đạp vào giữa vũng lầy. Đám học sinh xung quanh ngạc nhiên một lát, nhưng nhanh chóng bắt theo nhịp.

“Ê, làm tiếng gọi troll đi xem nào. Mày là chuyên gia mà, đúng không?”

“Nó như thế này phải không? HOH! FOO!”

“Hờ? Ơ-ờm…”

Cô bé tội nghiệp cực kì bối rối trước sự công kích. Nhưng đối với đám học sinh nhẫn tâm, điều đó lại càng khiến nó buồn cười hơn.

“Ơ quả mơ có hột? Quên luôn cả tiếng người rồi hay gì?”

“Thấy gì chưa? Cứ kêu tiếng troll cả ngày thì nó bị như thế đấy.”

“Xui quá, Aalto ạ! Lớp học này là dành cho con người!”

“Nếu mày yêu con troll đó đến mức đi thăm nó mỗi ngày, thì sao không chui vào lồng cùng nó đi cho rồi?”

Im mẹ mồm chúng mày đi, Oliver nghĩ. Tất cả những sự bẩn thỉu chúng đang quẳng vào nhỏ làm cậu hoa mày chóng mặt. Nếu phải nói, thì ngược lại mới là đúng: Nếu lớp học này là dành cho con người, thì lũ bắt nạt kia mới là bọn không được ở đây. Sao tất cả chúng nó lại không bị nhốt vào lồng đi nhỉ? Nếu chúng không thể nhận ra sự thô bỉ trong hành động của mình, dám cười cợt một người con gái đang chân thành cố gắng cứu lấy một sinh mạng, thì chúng nó có hơn gì hạng súc vật?

Nanao không thể đứng nhìn bạn mình bị chửi bới, và sự kiên nhẫn của Guy cũng đã hết từ lâu.

“Cặn bã…”

“Ê, cái bọn—”

Cả hai đều định đứng lên bênh vực nhỏ khi mà—

“Fragor.”

—một vụ nổ ma thuật dữ dội trên đầu ngay lập tức làm đông cứng tất cả sự bắt nạt.

“Gyah!”

“Uwah!”

“Yeek…!”

Đám học sinh vốn đang cười cợt Katie ré lên trước tiếng nổ bất chợt và làn mưa sấm chớp. Cả lớp chìm vào im lặng trong giây lát—rồi những người nhận ra nơi khởi nguồn thần chú lần lượt hướng mắt về phía người niệm.

“T-thằng kia!”

“Mày làm cái éo gì thế hả?!”

Chúng chĩa ánh mắt dao cạo về phía Oliver. Cậu đang đứng giơ tay phải lên trời, đũa thần vẫn còn phảng khói.

“E-ê, Oliver…?” Guy lúng túng nói. Nét mặt Oliver vẫn bất động.

“Guy, cậu đánh được không?” cậu hỏi gọn. Ý chí trong mắt cậu kiên định. Guy há hốc mồm một giây trước sự thay đổi ứng xử như chảo chớp của Oliver—nhưng liền đó, cậu nở một nụ cười cực kì mãn nguyện.

“…Ha-ha-ha. Giờ tớ còn thích cậu hơn rồi đấy,” cậu đáp và hít một hơi ngắn. Cậu đấm nắm tay phải vào lòng bàn tay trái. “Đánh đấm thì cứ để thằng này. Con trai của nông dân không phải dạng vừa đâu.”

“Và đừng quên con gái của một chiến binh,” giọng nói vang lên từ phía cửa phòng học. Nanao đứng trang nghiêm cạnh Katie đang bị sốc.

Nghe mấy lời khiêu khích, đám học sinh chưa hoàn hồn nổi cơn thịnh nộ.

“T-tụi bây bị cái éo gì thế hả?”

“Tính chơi nhau hay gì?!”

Tất cả rút đũa phép ra. Không một ai đụng vào athame, thậm chí cả Oliver—một chút kìm nén bản thân cuối cùng. Ngay cả vậy, giờ không ai có thể ngăn trận chiến nữa. Một học sinh niệm phép đánh trả lại. Guy hạ thấp người để né nó, rồi tung đế giày vào mặt đối phương để tiễn đưa bạn về cõi an nghỉ cuối cùng.

Cả phòng học chìm vào hỗn loạn.

 

 

“…Chả biết nói sao nữa…,” Chela lẩm bẩm, thở dài thườn thượt trong lúc nhìn mấy người bạn mình trong căn phòng mờ tối. Trận ẩu đả kéo dài còn chưa được năm phút thì một giáo viên đã chạy tới. Tất cả những ai đánh nhau đều bị bớ, và hiển nhiên, Oliver và những người còn lại đều bị quẳng vào phòng giới nghiêm.

“Một mình tôi đã hạ năm tên. Tôi không hối hận gì cả.”

“Chuẩn men, tớ sút vêu mõm được mười đứa lận!”

Một vết bầm xanh tím thấy gớm nổi cộm bên mắt phải Guy, còn Nanao có vẻ hoàn toàn không xây xát gì cả. Cả hai đều tự hào nêu lên chiến tích của mình. Họ đã bị giải vào những căn phòng nhỏ ngăn cách bởi tấm ngăn mỏng, còn được biết đến là buồng kỉ luật. Katie và Pete, những người không tham gia vào đánh lộn, thì không bị phạt. Họ có mặt ở đây tại phòng giới nghiêm cùng Chela, người lúc đó đang bận học ở một phòng khác.

“Guy và Nanao, tuy không muốn nói cơ mà… thì, có lẽ cũng chẳng khác được. Nhưng còn, Oliver… Không tin nổi cả cậu cũng ở đây nữa.”

Quả là một cú sốc nhức óc khi biết rằng Oliver đã tung đòn mở đầu. Cậu dán mắt xuống sàn và nghiến răng trong căn buồng chật hẹp, tăm tối.

“…Tớ không biện hộ gì cả. Cứ tự nhiên đi—bao nhiêu gạch đá tớ xin nhận,” cậu vô hồn nói ra được.

Không thể nhìn nổi cậu trong tình trạng này, Katie quăng mình về phía song sắt cánh cửa sổ bé tí của phòng giam cậu. “Tớ không bao giờ có thể làm thế…!” nhỏ than van, lắc đầu dữ dội. Niềm tiếc nuối lớn nhất của nhỏ đó là đã quá bị choáng nên không thể tham gia vào đánh nhau. Việc bản thân không phải chịu phạt cùng những người bạn làm đau nhỏ hơn bất cứ điều gì. “Tớ xin lỗi… Tớ xin lỗi, Oliver…! Cậu đã tức giận vì tớ, phải không? Cậu, Nanao, Guy… Giá mà tớ tự bảo vệ được bản thân, thì điều này đã không xảy ra…!”

“Không… Không, cậu sai rồi, Katie. Đây không phải lỗi của cậu. Chỉ là tớ đã không thể giữ mình lúc cần thiết thôi. Chỉ có vậy,” Oliver nói, nghĩ lại về điều mình đã làm, và lấy tay ôm đầu.

Trong buồng giam bên phải, Guy khịt mũi. “Mà ai quan tâm? Nói xấu sau lưng là một chuyện, nhưng lũ khỉ gió kia thì chửi thẳng vào mặt người ta kìa. Theo ý tớ, nếu muốn vùng lên, thì thế là đúng lúc rồi đấy,” cậu chàng nói, trên mặt không vương chút tiếc nuối.

Katie gạt nước mắt và quay sang cậu bạn. Thật lòng mà nói, nhỏ là người ngạc nhiên nhất khi thấy Guy trong phòng giới nghiêm.

“…Guy, cậu cũng giận khi thấy đám người đó trêu chọc tớ ư?”

“Ế? Ừ, ừa. Dám chửi bạn tớ cơ mà. Nóng máu lên là đúng rồi,” Guy trống rỗng đáp. Sự khác biệt trong quan điểm của hai người về á nhân đã không nguôi kể từ ngày họ gặp nhau chẳng liên quan gì ở đây cả.

Katie mỉm cười, lệ trong khóe mắt. Cạnh bên, Chela thở dài.

“…Tớ không định lên lớp mấy cậu vì điều đã xảy ra rồi đâu. Cá nhân tớ đồng ý với Guy. Nhưng giờ, vì vụ này, mà xung đột với những học sinh đó sẽ không thể nào hòa giải được nữa.” Nhỏ vừa đồng cảm vừa nói ra sự thật phũ phàng. Oliver gật đầu cay đắng. Nay khi mà cậu bị nhốt trong buồng, tất cả mọi trách nhiệm đều đổ lên đầu Chela. “Đám học sinh bắt nạt Katie giờ chắc đang kiếm thêm đồng minh. Vì phe chúng ta có một McFarlane, đám người đó sẽ muốn một đồng minh ở tầng lớp quý tộc tương tự. Về người sẽ gia nhập vào phe chúng… Oliver, tớ nghĩ cậu biết rồi đấy.”

Oliver lại nghiến răng lần nữa. Cậu đã có linh cảm xấu rằng cuộc ẩu đả có khả năng sẽ dung hợp tất cả những vấn đề họ đang phải đối mặt thành một mối đe dọa khổng lồ. Cuộc trò chuyện chấm dứt, được thay thế bởi bầu im lặng nặng nề. Đột nhiên, tiếng phần phật khe khẽ phá vỡ bầu im lặng.

“Ồ…”

“Một thân cận?”

Một con dơi nhỏ đã bay qua lối vào phòng và đang lượn vòng trên đầu Chela. Nhỏ giơ ngón trỏ ra làm chỗ đậu tạm thời, và con vật nhanh chóng đáp xuống. Buộc ở cổ nó là một lá thư có niêm phong, nhỏ lấy và mở ra. Sau khi đọc, nhỏ thông báo nội dung của nó cho cả phòng.

“Nhân nói về quỷ dữ. Oliver, Nanao—Cậu Andrews thách đấu hai người các cậu.”

Giờ thì, Oliver biết, nỗi sợ hãi kinh khủng nhất của cậu đã trở thành hiện thực.

 


Xin chào, nếu bạn muốn mua gì trên Shopee xin hãy truy cập vào Shopee từ LINK NÀY để ủng hộ nhóm nhé.
Xin chào! Đây là website chính thức của nhóm dịch truyện ValvrareTeam. Mấy đứa cùng sở thích cùng làm với nhau thôi. Light Novel trên đây được chúng tôi dịch hoàn toàn miễn phí ra phiên bản tiếng việt, tuy nhiên chúng tôi không khuyến khích các bạn sao chép lên website khác. Cảm ơn vì đã quan tâm."
© 2017 ValvrareTeam. Mã nguồn sử dụng Wordpress. Máy chủ sử dụng Vultr
Made with in Novel