Tập 1 – Hồi 1

Tập 1 – Hồi 1
5 (100%) 5 votes

THÔNG BÁO


Hiểu đúng về Trader Coin, Cách Trader Coin an toàn.

QÙA TẶNG DÀNH CHO NGƯỜI MẤT GỐC TIẾNG ANH HOẶC ĐANG CẦN HỌC TIẾNG ANH

Nơi đây tồn tại một nhóm người được biết đến với cái tên giả kim thuật sư.

Gần như với tất cả mọi người, bọn họ đều cùng một giuộc với lũ quỷ và bọn phù thủy.

Giờ đang là ban đêm – khoảng thời gian mà thời tiết không mấy thích thú gì của mùa đông trở nên dữ dội. Thực vật gần như đều ngủ đông, nhánh thì rũ xuống dưới sức nặng của tuyết, cả cành cây lớn cũng rụng hết cả lá.
Kusla bị lôi tay đi bởi những kỵ sĩ mặc giáp sắt từ đầu đến chân. Cậu nhìn lại bộ dạng của mình trong tình trạng ghê tởm bây giờ, và cảm thấy những điều mà người ta bàn về cậu rốt cục chẳng hề có chút kỳ quặc gì cả.

Cái cửa sổ mà bọn lính gác dùng để nhìn ra bên ngoài từ trong tháp canh đã mở ra. Lấp lánh trên khung cảnh ở ngoài đấy là những ngôi sao mỏng manh đến nỗi ngọn gió ngoài kia chỉ rung lên cũng đủ để quét chúng đi.

“Ngươi không nhìn thấy những ngôi sao từ trong cửa sổ xà lim à?”

Ngoái nhìn qua lưng và nói, lão kỵ sĩ già dẫn đầu đoàn nhận ra Kusla đang đi chậm lại. Trong tay phải cậu là một cái giá cắm nến, tay trái thì đặt trên cán, sẵn sàng trước bất cứ điều gì bất ngờ.

Nhận ra chiếc nhẫn đeo trên ngón tay nhỏ của lão kỵ sĩ, Kusla chỉ còn biết kiềm nén cái nụ cười nhăn nhở đang thôi thúc cậu.

“Ta có thể, nhưng chuyện lại khác khi nghĩ đến ngôi sao tượng trưng cho sự tự do của ta.”

Nhếch mi mắt lên mà bất ngờ không thốt thành tiếng, lão kỵ sĩ quay đầu tiếp tục tiến tới trước. Kusla lại một lần nữa bị lảo đảo kéo đi bởi hai tên vệ binh đứng ở hai bên, song cậu vẫn lặng lẽ cười thầm với một cái nhìn khác với chiếc nhẫn trên tay lão kỵ sĩ già kia.

Có một viên sapphire lục đậm đính trên nhẫn. Đó là viên đá quý tượng trưng cho sự cuồng tín, về khả năng ban trí tuệ và sự bình yên cho kẻ đeo nó, thêm vào cả khả năng nhận thức được cạm bẫy. Nếu bạc nguyên chất là một thứ kim loại dùng để chống lại tà thần trong hình dạng của một thanh kiếm, sapphire đóng vai trò như một lá chắn thánh hay một quyền trượng.

Lão ta đeo nó hẳn là để không bị lời Kusla lừa, hoặc để bảo vệ chính lão khỏi điều có thể còn khó hơn để mường tượng ra.

Kusla đoán những gì lão già ấy nghĩ, ngâm nga một cách vô ý vô tứ trong lúc cậu nhìn qua cửa sổ ngắm màn đêm lấp lánh ánh sao.

Ngay cả một hiệp sĩ bạc kiên gan cũng tin vào sự mê tín dưới bộ mặt không chút định kiến.

Bao trùm với cả một sự khó hiểu, những giả kim thuật sư chỉ khiến tất cả phải sợ hãi.

Họ thường được đồn là những kẻ bỏ cả ngày chôn chân trong căn nhà tối om, cố gắng biến chì thành vàng, nghĩ ra những công thức chế thuốc có khả năng đẩy lùi tác dụng của lão hóa, gắn xác người với nhau để tạo ra một sinh vật hoàn toàn mới, và cố gắng đeo đuổi theo những mục tiêu phù phiếm.

Mặc dù Kusla chẳng thể phủ nhận loại người như vậy có tồn tại, song ý kiến của cậu lại gần như tuyệt đối cho rằng “giả kim thuật sư” không hề làm việc một cách vô ích. Tuy nhiên, chỉ với vài câu ngắn ngủi thì không thể nào giải thích cho chính xác điều đó.

Khái niệm “giả kim thuật sư” đơn giản là một cái tên dành cho những người tập tành sử dụng thuật giả kim, thông tục được sử dụng cho những người chẳng biết họ đang làm gì.

Hơn cả sự khó hiểu trong công việc của họ, vị trí của giả kim thuật sư trong xã hội cũng chẳng thể hiểu nổi. Họ không giống những kẻ trị vì quản lí cả thành phố, những tên tu sĩ truyền đạo cho tín đồ, hay một chủ hội điều quản hội viên; giả kim thuật không hề phù hợp với bất cứ phương diện cuộc sống mà người ta biết được từ trước giờ, để rồi được gán cho quan điểm tầm thường – vô dụng.

Khi vua đặt quyền thống trị lên thành phố, tầng lớp tài chính dân sự theo truyền thống được chia thành một nhóm: Quý tộc, những người cai quản các điền trang rộng lớn và phương tiện; tu sĩ, những người có quyền hạn tương đương với quý tộc; buôn gia, những người hỗ trợ thương chợ, và; thợ thủ công, những người đóng góp cho kiến trúc và dòng chảy giàu sang của thành phố. Với sự phân chia tầng lớp thành bốn nhóm được quy như trên, việc quản lí dân chúng được đơn giản hóa một cách dứt điểm.

Để thúc đẩy quyền lực, nhà vua sẽ giao phó công việc cho người đứng đầu từng tổ chức với lời hứa công nhận địa vị của họ. Hội thợ thủ công đã thành lập được vận hành bởi các chủ hội và thành viên. Thợ làm bánh, thợ mổ, thợ rèn, và gần như mỗi hoạt động kinh tế nào cần thiết cho xã hội đề có một hội riêng.

Mấy tên kỵ sĩ đang lôi Kusla qua vùng tuyết rơi cũng không phải là ngoại lệ của hệ thống này.

Trang phục, áo giáp, giá đỡ nến, lương bổng, ngay cả quyền mang Kusla ra khỏi tù – cũng được điều hành bởi hoàng gia.

Tuy nhiên, mạng lưới quản lí này không được phát triển với những tên quý tộc bạo chúa lông bông. Cần phải có một sự kiểm soát liên tục của trung ương trong một thành phố rộng lớn, và mạng lưới quản lí này chính là kết quả của nó.

Luật pháp được ban hành bởi một hội đồng bao gồm những nhân vật nổi tiếng và quý tộc sống trong thành phố. Hội đồng này ban một bộ luật dành cho dân chúng chúng phân biệt rõ những điều được phép và không được phép làm dưới pháp luật.

Nếu không có nó, một thành phố lớn chắc không thể có khả năng tồn tại được một tháng đâu.

Đáng chú ý nhất trong những lí do sinh ra chống đối là những thợ thủ công có tiếng tăm lừng lẫy, những kẻ chắc chắn có khả năng khơi mào một cuộc chiến đẫm máu.

Thế là, mọi hội quán đều phải chỉnh đốn hành vi của thành viên, đến mức độ mà họ sẽ làm mọi thứ, để cố gắng hòa giải xung đột càng nhiều càng tốt.

Ví dụ, những thợ rèn quản lí việc rèn kiếm thì chỉ làm đúng việc rèn kiếm, trong khi thợ làm dao chỉ sản xuất dao; và có một sự phân biệt rõ ràng giữa kiếm và dao. Nếu như có điều gì mơ hồ trong sự khác biệt đó, những người bỏ cả đời để rèn kiếm sẽ nổi hứng chuyển sang rèn dao, và có thể sẽ cướp đi những mối khách hàng tiềm năng của thợ làm dao. Một số xung đột có thể xảy ra như thợ làm bánh hoạt động như một thợ làm lò mổ, hay thợ mổ bán thịt ngoài cửa hàng khác giữa đêm gây ảnh hưởng đến việc kinh doanh của nhà cho khách lai vãng và nhà trọ. Cứ liên tục như vậy, xã hội sẽ chỉ toàn là một mớ bạo loạn và suy đồi.

Chúa có vẻ như chỉ bất đắc dĩ sử dụng Thánh Quyền để cai trị thế giới này, nên biết cách hoàn toàn tránh xa xung đột thay vì tự thân giải quyết nó đã trở thành điều không thể thiếu trong cuộc sống.

Ví dụ của hội thợ rèn đã minh chứng, rằng sự phân chia công việc giữa bốn thế lực bị đẩy đến một mức phức tạp đáng kinh tởm.

Có vô số việc làm với nghề luyện kim, như rèn kiếm, mài dao, và đóng móng ngựa; làm khóa, hàn ống thoát nước, sản xuất hương trầm, thợ rèn kim loại đặc biệt, và những chuyên môn khác cũng được liệt vào nghề luyện kim.

Mỗi nghề thủ công có thể thấy rõ được đặc trưng riêng của nó qua từng phân khu. Trừ việc cùng thuộc về một nhánh, những phân khu này hoàn toàn độc lập lẫn nhau. Nếu có một thương gia muốn mở rộng cơ hội buôn bán, họ cần phải có đủ đặc quyền để giao thương với từng thợ mà mình mong muốn.

Đây là luật bất thành văn mà những tầng lớp thượng lưu trong xã hội duy trì.

Không phải là ngoại lệ của hệ thống này, Kusla là một người bị nghi rằng đang cố biến chì thành vàng.

Trong số những phân khu thuộc bốn tầng lớp này, việc cậu làm được phân vào chỗ nào?

Có phải cậu là người gia công ống chì? Hay một thợ rèn vàng? Hay có lẽ cậu có giao lưu với những nhà luyện kim, những người kiếm vàng bằng việc nung quặng lấy về từ các mỏ?

Tuy đó là một số danh nghĩa dành cho ‘kẻ biến chì thành vàng’ có thể chấp nhận được, song công cuộc nghiên cứu của cậu có thể được coi là như vậy? Nếu như tồn tại những kẻ nghiên cứu việc đấy, thì họ sẽ được phân loại như thế nào? Thêm nữa, nếu biến chì thành vàng là điều đi ngược lại chuẩn mực đạo đức của con người mà giáo lý của Chúa thiết lập ra, vậy thì việc phân loại phải nằm dưới sự quyết định của Giáo Hội thay vì hoàng gia mới phải chứ?

Chỉ riêng mỗi vụ biến chì thành vàng thôi đã xoắn đến vậy rồi. Vậy mà vẫn có những tiềm năng khác: Như biến chì thành bạc chẳng hạn? Biến bạc thành vàng? Ghép xác lại để tạo ra loài mới? Chế thuốc trường thọ? Hay là những điều không thể ngay lập tức làm được mà phải đợi đến tương lai mới có thể?

Cân nhắc lại chuyện đấy, nó có thể không phải là điều khiến cho sự tồn tại của một thành phố chấm dứt một cách toàn diện, song mớ hỗn độn của luân lí trật tự như thế với bất cứ xã hội phục tùng kỷ cương nào cũng đều rất tàn khốc.

Về thực tế, mưu đồ ấy đã ngấm vào xã hội, khi mà ví dụ rắc rối điển hình, chàng trai Kusla đang mệt lả đây không phải là chuyện được dựng nên; vì một vài lí do chẳng liên quan đến chế ra vàng, có kha khá là ít người giàu có trong thành phố tự nguyện chi tiền tài trợ cho giả kim thuật sư.

Có những kẻ muốn nghiên cứu thứ này để sống bất tử, có thể tiếp tục được Giáo Hội bảo hộ, hầu hết là những kẻ giàu. Một số ít những kẻ tìm kiếm những tài liệu ghi chép cách biến kim loại bằng thuật giả kim hành động làm vậy cũng chỉ để mở mang tri thức. Nghiên cứu về những vấn đề này có thể dẫn đến sự phát triển của việc nâng cao hiệu quả tinh chiết quặng, hay cải thiện độ tinh khiết của kim loại sau khi nung chảy quặng. Với những kỹ thuật vượt trội này, sự sung túc của dân chúng hay cả một vương quốc sẽ được nâng lên rõ rệt.

Khi nói đến việc nâng cao hiệu quả tinh chiết quặng, chẳng hạn, cũng yêu cầu rất nhiều yếu tố khác nhau cùng phối hợp – như độ căng của dây dùng để vận chuyển đá, khả năng chịu lực của dụng cụ khai quật, cách thiết kế những dụng cụ đó, chế chất ăn mòn dùng để phân hủy đá, và một vài bước nữa trong quá trình sản xuất. Ngành công nghiệp của thợ thủ công mà nói, chỉ nội sự thiển cận của nhiều phân khu, cũng đủ để tự hủy diệt trước khi tổ chức được dây chuyền sản xuất phù hợp với mục đích duy nhất này. Dù cho họ có tìm ra cách, thợ thủ công vẫn cần phải thận trọng với việc đi quá giới hạn phân khu của mình, trong mỗi vụ giao dịch họ thực hiện dưới sự giám sát của chính quyền thành phố.

Vì thế, không như những thợ thủ công, những kẻ chỉ đơn giản là tìm “phương thức” thay vì tạo ra chúng lại được trọng dụng – nhưng không hề có một cơ quan quản lí, tổ chức, hay một tiêu chuẩn nào có thể khống chế họ.

Hơn nữa, khi có điều gì đó mới mẻ và xa lạ xảy ra, thì chắc chắn sẽ dính líu đến chuyện nảy sinh vấn đề giáo lí.

Dù có là một quý bà, có khuynh hướng nhạy cảm, cũng bị thẩm vấn y như một kẻ ngoại đạo nếu như cô ta chỉnh sửa kiểu tóc chuẩn nào đó khác đi so với quy định. Và kết quả là, con người chính thức trở nên sợ hãi với chuyện làm trái những gì được xem là có thể chấp nhận.

Giáo Hội không hề nương tay với những kẻ ngoại đạo, nên làm hàng xóm nảy sinh nghi ngờ là điều chẳng ai mong muốn.

Thợ thủ công hoàn toàn hiểu rõ chuyện không nên thu hút những sự để ý không cần thiết, như bao nhiêu dân chúng sống dưới chế độ này.

Những kẻ có quyền lực muốn coi thường vua và những tên cai trị khác buộc phải tự gây dựng thế lực, nuôi sống một số lượng dân nhất định, và phải bảo hộ họ bằng quyền lực của mình. Chuyện này vốn rất phổ biến trên thế giới, nhất là với trường hợp những người nghiên cứu về kim loại, những người mà bọn thống trị hi vọng sẽ đạt được kỳ tích phi thường. Theo dòng thời gian, giả kim thuật sư nổi lên với cái danh tiếng trái đạo đức, song nhiều kỳ vọng vào giả kim thuật vẫn tiếp tục manh nha.

Kusla được thả tự do bởi ba tên kỵ sĩ này dĩ nhiên không phải vì lòng trắc ẩn.

Họ mang cậu đi trên danh nghĩa thành viên của Kỵ Sĩ Đoàn Cladius – một tổ chức lớn với một quyền hạn gần như lớn nhất so với những tổ chức khác về việc dính líu đến những phi vụ thuê mướn giả kim thuật sư.

“Ta mong là người sẽ không phiền khi vừa ăn vừa nghe ta nói?”

Thịt lợn ướp, bánh mì nướng phô mai, và rượu mật ong ấm nhanh chóng được chuẩn bị. Kusla, người chỉ được ăn mỗi hành sống lạnh ngắt và bánh mì đen trong tù, ngấu nghiến bữa ăn một cách ngon lành. Rượu mật ong ấm từng giọt chảy xuống cổ họng, và cậu cảm thấy dạ dày cuối cùng cũng chịu hoạt động trở lại.

“Ta không nghĩ là sẽ mất đến hai tuần… nhưng chúng ta đã chính thức giành được quyền xét xử cậu.”

“Vậy ra tôi đây vẫn còn nhiều giá trị đến vậy, huh?”

Kusla cầm cái bánh mì trong lòng bàn tay, lột lớp vỏ cứng giòn của nó ra. Cậu lấy một cái lọ nhỏ từ trong túi ra, rắc một chút bột vào phần ruột nhão của bánh mì.

“Này, cái đó–”

“Chỉ là muối thôi mà. Muối đấy.”

Lão kỵ sĩ già gần như tái mặt kinh ngạc.

“Gì, vậy ra cậu bốc phét…?”

“Bậy, đây mới là arsen.”

Kusla lấy một cái lọ khác từ túi quần, làm đôi mắt lão kỵ sĩ trố ra.

“Tôi có thể cho ông nếu ông muốn.”

“… Chắc nó chỉ là muối thôi chứ gì.”

“Thế thì tốt cho cả hai ta nếu như đó là điều ông tin.”

Kusla cất cái lọ vào túi, lão kỵ sĩ già giả vờ không quan tâm rồi dựa lưng vào ghế. Sau đó lão dụi mắt, nhìn chằm chằm Kusla, rồi lại tiếp tục dựa lưng vào chút nữa.

“Sao cậu cứ phải biến mình thành tên vô lại như vậy? Cậu có đủ nhận thức và khả năng đưa ra quyết định – điều đặc biệt khiến cậu khác những kẻ còn lại. Đừng có cười nhé. Ta thực sự nghĩ như vậy. Cậu cũng là người có đạo đức, và có nhiều điều mà những người khác thiếu xót. Vậy tại sao? Sao cậu lại đi trộm xương của một vị thánh nhân từ hầm mộ của Giáo Hội để thử nghiệm giả kim chứ? Cậu điên à? Cậu muốn chết sao?”

“Có cách nào khác để thử nghiệm đâu.”

“Nói dối! Ta đã đọc nhiều bản báo cáo về thí nghiệm của cậu. Chỉ có loại người như cậu mới dám thực hiện những điều mê tín như vậy!”

Miệng Kusla nhét đầu bánh mình, lưng cậu còng xuống đến nỗi cằm gần như kê lên bàn. Cậu ngước mắt nhìn lão kỵ sĩ Cladius xúi quẩy.

Sự im lặng giữa họ bị bóng tối của màn đêm bao trùm lên. Lão kỵ sĩ tiếp lời, nhưng lần này lại ngập ngừng lựa lời.

“May mà bị ngăn lại trước khi châm lửa đấy. Nếu hài cốt đó bị đốt, cậu cũng sẽ thành tro luôn. Vậy…”

Ông ta xém chút thì hôn mê.

“…Tại sao? Tại sao cậu lại bỏ phí tài năng của mình đến vậy?”

“Tại sao á?”

Miệng Kusla lại nhét đầy bánh mình, và cậu nghiêng đầu đáp lại.

Cậu nhún vai, nuốt một miệng đầy như cái ổ chim, cùng với rượu mật ong.

“Tôi cũng chẳng hiểu bản thân mình nữa, nhưng có lẽ ông có thể hiểu nếu bổ đôi đầu của một tên giả kim thuật sư cao tay đấy.”

“…Hm.”

Lão kỵ sĩ già thở dài nhìn Kusla, người vẫn đang không ngớt gặm bánh mì.

“Có phải vì chuyện xảy ra với Friche không?”

Một sự ngừng lại. Một sự ngừng lại ngang chừng.

“Quả nhiên là vậy… nhưng Friche là–”

“Tôi không cần biết. Cô ấy là gián điệp của phe Giáo Hoàng, và muốn lấy cắp phương pháp luyện kim của tôi, đúng không?”

“…Phải. Có chứng cứ rõ rành rành. Nhiều là đằng khác.”

“Vậy chẳng phải giết cô ấy lúc tôi uống rượu có phải tốt hơn không? Cắt phăng cái xương đòn quyến rũ luôn ngân lên mỗi lần cô ấy cười, chặt đứt đôi vai cao kiều mảnh khảnh và khác thường đó, moi lá gan khỏe mạnh lúc nào cũng rộn ràng đến vui tai dù chỉ chạm một cái thật nhe, lục lọi ruột cô ấy để tìm tòi thứ gì đó một cách tỉ mỉ; tôi có thể làm bất cứ gì để có được thứ tôi muốn, dù cho nó có dấu tận sâu trong bụng… tôi không có đùa đâu đấy.”

Kusla nuốt ngụm rượu mật ong nóng ấm xuống.

Cậu chỉ vừa mới uống rượu y như lúc trước đó.

Sự mỉa mai của nó gần như lấn áp tất cả.

Kusla ném một cái ánh mắt kinh tởm vào lão kỵ sĩ.

“Vì tôi rất muốn thử dùng hài cốt của một vị thánh để nấu chảy sắt từ lâu rồi.”

Những kẻ ở Giáo Hội sẽ bất tỉnh ngay vì sợ, nhưng lão kỵ sĩ vẫn giữ được sự bình thản rất đặc trưng.

“Chuyện xảy ra với Friche… ta không còn gì để nói, và ta thực sự cảm thấy đau lòng về chuyện đó. Nhưng cậu là người đã tiết lộ thông tin về điều cậu đang định làm… vì cậu yêu cô ấy, ta đoán đúng chứ?”

Chuyên môn của kỵ sĩ già quả nhiên là thăm dò thành viên mới mà.

Đến nước này, Kusla cảm thấy chẳng còn gì đáng để cậu phải cố gắng trả lời.

“Nếu không phải sự thực là kế hoạch của cậu bị lộ, cả hai người chắc chắn đã cùng bị giết cả rồi.”

Kusla thở dài một tiếng ảm đảm.

“Cậu muốn thôi cái nghiệp giả kim thuật sư à?”

Đó là một câu hỏi hết sức nhân từ.

Giả kim thuật sư phải đối mặt sự khinh miệt không bao giờ dứt vì lạc khỏi con đường chính nghĩa, bị ghét cay ghét đắng vì là những kẻ ngoại đạo, và thậm chí dù cho họ có tìm được sự bảo hộ của những kẻ có quyền, điều duy nhất họ được công nhận là tài năng và mạng sống. Thông thường, họ chỉ gặp người mà họ có quan hệ tốt, nhưng cũng quá đỗi nhiều người như thế là gián điệp.

Muốn tôi ruồng bỏ cái cuộc sống đầy rẫy nghịch cảnh này à?

“Ta có thể khuyên cậu thế này. Không dễ gì thoát được Kỵ Sĩ Đoàn Cladius của bọn ta đâu… nhưng ta có thể tìm cho cậu vài việc làm tử tế. Cũng may là tổ chức của chúng ta lớn mạnh.”

Kusla cắm mắt vào người đàn ông râu tóc trắng bạc trước mặt – đôi mắt màu lục ngọc của cậu chói lên ánh sáng của những mưu đồ. Hắn cũng tốt đấy chứ, cậu nghĩ vậy. Con người may mắn này được sinh ra với lai lịch thanh thế, sống một cuộc đời đầy tự hào trên danh nghĩa kỵ sĩ đến từng tuổi này.

Lời của ông ta gần như không có sự dối trá; đặc biệt là khi cả hai đã quen biết lẫn nhau trong suốt một quãng thời gian dài.

Kusla nhấn chống khuỷu tay lên bàn đỡ cằm, cảm xúc của cậu tăng lên theo một hướng rất đơn giản của một người đang cố tỉnh cơn say rượu sau khi uống quá nhiều.

Dù rơi vào tình thế thê thảm, Kusla kiên quyết không để bản thân mất đi niềm tin vào lúc này. Cậu kháng lại cảm giác trĩu nặng trên hai mi mắt để tiếp tục giữ ánh mắt chằm chằm trong khi đáp lại lời đề nghị của lão kỵ sĩ.

“Tôi sẽ tiếp tục vậy. Tôi cũng chẳng còn lựa chọn nào khác.”

Dò cho liên tục tự ném mình vào những hoàn cảnh như thế này.

Lão kỵ sĩ già quay mặt đi khỏi hướng nhìn của Kusla, thốt ra một tiếng thở nặng nề – ra vẻ thương cảm thay cho số phận quá éo le của một con người.

“Mặc cho những trải nghiệm mà cậu phải chịu đựng, sự hiếu kỳ đó chẳng bao giờ tắt cả. Cứ như thể loại người các cậu mắc một chứng bệnh ấy. Vì một lí do quá đỗi ngu ngốc như vậy, thế đấy.”

“Magdala, ý ông là thế hả?”

Lão kỵ sĩ nuốt nước bọt một cách khô khan, và có lẽ ông ta hẳn đang miễn cưỡng cày bỏ suy nghĩ của mình về khái niệm này một cách trực tiếp.

Giả kim thuật sư là sự tồn tại len lỏi lách qua những kẻ hở sâu trong trật tự xã hội của thế giới. Họ không phải là một phần của bất cứ chế độ hợp pháp công khai nào, và danh tính của họ chưa bao giờ minh bạch. Họ thường bị hắt hủi và khinh miệt. Tuy nhiên, họ vẫn có ham muốn được trở thành bậc thầy giả kim, và nhiều giả kim thuật sư là những nghệ sĩ tài ba, nhưng thực sự có lí do đáng để theo đuổi một cuộc sống đầy rẫy miệt thị của một nhà giả kim.

Dưới bất cứ cách nhìn nhận nào, đó là một mục tiêu vô cùng ngu xuẩn, ước mơ của họ –  có lẽ đây chính là điều khiến cho sự hiếu kỳ không đáy của họ vơi đi.

Và thế là, thế giới bên kia mà những nhà giả kim mong ước, được đặt cho cái tên Magdala.

Trong quá khứ, giả kim thuật sư chỉ đơn giản muốn tìm cách đến được Magdala, đánh đổi tất cả mọi thứ vì điều đó – kể cả sinh mạng và danh dự của họ.

“Bởi vì cậu, hoạt động sản xuất kim loại ở đây đã phát triển mạnh mẽ, và giá nhiên liệu cũng đã hạ xuống đáng kể. Số tiền mà cậu đã giúp kỵ sĩ đoàn tiết kiện được đủ để cứu cậu khỏi phe Giáo Hoàng khỏi kế hoạch thiêu sống cậu trên cột gỗ đấy.”

Lão kỵ sĩ ngừng lại quan sát phản ứng của Kusla; cậu ta đang nhìn chằm chằm vào bàn, không lộ chút biểu cảm.

“Lãnh đạo cấp cao cho rằng, vùi dập tài năng đó quả thực là một điều phí phạm.”

“Xưởng làm việc tiếp theo ở đâu thế?”

Cậu lên tiếng hỏi, tỏ ra chẳng có chút hứng thú với lời của lão kỵ sĩ già.

Công việc của một nhà giả kim là rất đặc biệt, và nó đòi hỏi rất nhiều kỹ năng thủ công khác nhau.

Có rất ít người có thể thay thế họ, và chết thì như cơm bữa.

Họ thường bị giết, và tai nạn thì xảy ra liên tục.

Giả kim thuật sư gần giống như con bướm vàng bay gần đống lửa một cách dại dột vậy.

“Chỉ là ta vẫn chưa từng thấy một hành động nào điên khùng đến thế. Ngay cả Kỵ Sĩ Đoàn cũng không thể không phạt cậu được.”

“…Tôi chuẩn bị sẵn sàng rồi.”

“Gulbetty.”

“Eh?”

Kusla ngẩng đầu lên trong vô thức; tên địa danh đó khiến cậu bất ngờ.

“Gần tiền tuyến à? Liệu có ổn khi đi đến nơi như vậy không?”

“Ta nghĩ với loại người như các cậu thì chỗ đó hoàn hảo đấy.”

“Gulbetty… Gulbetty…”

Kusla cứ lầm bầm từ đó mới, và một hồi sau, cậu cuối cùng cũng hiểu ý đồ của lão kỵ sĩ.

“Chúng tôi?”

“Ta tin là cậu biết Wayland?”

Biểu hiện của lão kỵ sĩ già rõ là cay đắng.

Nếu không phải vì thế, Kusla đã có thể giả vờ ngây thơ trước câu hỏi của ông; cái tên đó, dù sao cũng làm cậu ta ngạc nhiên.

“Ông nói nghiêm túc chứ?”

“Cực kỳ nghiêm túc. Cậu và Wayland sẽ đến phân xưởng ở Gulbetty.”

“Heh.”

Cậu ta không hề ghét chuyện này, hay thậm chí tỏ ra khó chịu, nhưng sự ngạc nhiên khiến cậu phải ho một cái.

“Ông nghĩ gì vậy!? Ý ông là tay Wayland đó!? Tên đã đầu độc vài Tu Viện Trưởng đến chết và bị bắt à!?”

“Thánh Nữ Tu Viện Ariel, Tu Viện đầy ắp công chúa quý tộc.”

“Heh?”

Lần này, Kusla giở một cười ngớ ngẩn ra mặt và nhún vai.

“Thế sao Giáo Hội lại bỏ qua?”

“Ai biết? Hai cậu đều là giả kim thuật sư, không phải sao?”

Những kẻ có thể biến điều không thể thành có thể.

Biến chì thành vàng là một sản phẩm bằng lời nói của họ.

“Nói cách khác, Wayland và tôi sẽ làm việc trong cùng một phân xưởng?”

“Hai người sẽ ở cùng một phân xưởng suốt thời gian học việc, nên ta nghĩ là cả hai sẽ hòa thuận với nhau thôi.”

“Ông đùa chắc. Hắn bỏ độc vào thức ăn của tôi bảy lần rồi.”

“Ta nghe nói cậu đầu độc hắn những chín lần. Không phải là do kinh nghiệm của cậu với hắn mà cả hai mới có thể thoát khỏi mấy vụ mưu sát bằng độc dược đấy à?”

“Chậc, tôi nghĩ chắc là chúng tôi nhận được thánh hộ của Kim Ngưu.”

Viên sapphire ban trí tuệ giúp phân biệt được cạm bẫy là một biểu tượng của Cung Kim Ngưu. Dĩ nhiên, cậu ta đang móc đểu lão kỵ sĩ già vì đeo cái nhẫn sapphire đó, và lão vô thức thu ngón tay trái lại.

Nhưng cũng đã được một thời gian kể từ lần cuối cùng Kusla nghe đến cái tên Wayland, và cậu cảm thấy tóc mai sau gáy cậu đang dựng lên.

“Tên ông là gì? Tôi không nghĩ mình sẽ được tha dễ dàng như vậy đâu. Lẽ ra phải có hình phạt gì đó hà khắc hơn với tội của tôi chứ.”

“Ta không nghe được cụ thể, nhưng ta có lưu lại một số lời đồn. Ta sẽ gặp rắc rối nếu nói ra ở đây. Mệnh lệnh ta nhận từ cấp trên là trục xuất cậu, và cậu phải nghe theo một cách chân thành. Nếu làm tốt, món nợ của cậu với Kỵ Sĩ Đoàn trên danh nghĩa giả kim thuật sư sẽ được xóa bỏ, nhưng nếu thất bại, thì nợ vẫn còn đấy. Dĩ nhiên, với điều kiện là,”

Lão kỵ sĩ thở dài mà nói.

“Cậu phải biến chì thành vàng. Mọi chuyện là thế.”

“Tôi đành phải làm vậy thôi.”

Kusla trả lời ngay tức thì. Mặc dù không có đường từ chối, nhưng cậu vẫn chấp nhận yêu cầu một cách hứng hở.

“Chỉ là tôi có đôi chút tò mò về những gì lãnh đạo đang suy tính thôi.”

Lão kỵ sĩ già chấp nhận sự hiếu kỳ của Kusla với một thái độ không hề lung lay; không có đến một nụ cười nhạt nở ra trên môi ông.

“Ta cũng không biết.”

“…”

“Ta nhớ những ngày ở chiến trường. Thời đấy, người ta có thể nhìn thấy chân trời trong một thoáng lướt qua, dù có đứng ở nơi nào chăng nữa.”

Những lời nói, vang lên cùng với tiếng thở, nghe không giống như một câu nói đùa chút nào.

Kỵ Sĩ Đoàn Cladius.

Họ được biết đến khắp các vùng miền; họ nắm trong tay quyền hạn vô song. Đó là một tổ chức vô cùng giàu có và đầy quyền lực quân sự.

Trong quá khứ, Giáo Hội đã lập ra một đội quân để thực hiện một cuộc viễn chinh và giành lại được vùng đất thánh nằm ở phía Đông. Đó là thời điểm Kỵ Sĩ Đoàn ra đời.

Vùng đất hứa được ghi trong kinh thánh, Kuldaros, từ lâu đã bị chiếm đóng và chà đạp bởi những kẻ ngoại giáo.

Giáo Hoàng, Franjeans IV, không thể chấp nhận điều này và quyết định hành động trước lũ ngoại đạo, tận dụng thuyết thần học viết bởi nhà thần học lỗi lạc – Jubel, Đức Thánh Của Amelia. Ông coi hành động đoạt lại vùng đất là một cuộc viễn chinh thập tự; điều này có nghĩa là, dù cho họ có xâm phạm đến vùng đất này, họ vẫn nhận được sự tha thứ từ Chúa.

Hai mươi hai năm đã trôi qua kể từ khi cuộc viễn chinh bắt đầu, và nó vẫn chưa đến hồi kết.

Vô số đàn ông mặc giáp in biểu tượng của Giáo Hội, và một số thậm chí còn in nó lên da mình bằng sơn – những người đi về phương Đông, với vũ khí chắc trong tay. Kiếm sĩ và những tín đồ vác gậy hành hương mong ước được chôn cất ở miền đất hứa được ghi trong kinh thánh.

Tiền thân của Kỵ Sĩ Đoàn Cladius, Hội Hữu Ái Cladius, là một tổ chức có nhiệm vụ như một thương xá – cụ thể là cung cấp nơi ăn chốn ở và điều trị bệnh – cho những ai muốn đến miền đất thánh, dù họ có là lính sắp bước vào chiến trường, hay tín đồ đang hành hương.

Tuy nhiên, có khá ít người chết vì thương tích hay bệnh tật trước khi đến miền đất hứa.

Họ để lại di chúc cùng tất cả gia sản thừa kế cho Hội Hữu Ái Cladius, và rời khỏi thế giới này.

Hội Hữu Ái Cladius nhận được ân huệ ấy, và sự giàu có của họ ngày một tăng lên. Dù họ cần phải tăng cường lực lượng tự vệ độc lập để duy trì ân huệ, song đến cuối cùng, những tu sĩ ôn hậu đã trở thành những kỵ sĩ tham lam. Họ không thể thỏa mãn với yêu cầu cuối cùng của những tín đồ sùng đạo, và bằng sự tham lam đó, họ đã trở thành một tổ chức với tham vọng giàu sang tột độ.

Đến một thời điểm, sự giàu sang và lượng người tham gia đã vượt quá cơ quan đầu não của Giáo Hội, phe Giáo Hoàng. Không có bất cứ một người đàn ông nào trên Trái Đất này có đủ sức mạnh địch lại Kỵ Sĩ Đoàn Cladius, tổ chức nắm giữ quyền lực quân sự quá to lớn.

Tuy lời đồn đại xung quanh Kusla chỉ là đồn phổng, song cậu đã bị kết án tử bởi Giáo Hội bốn lần, và lần nào cũng suýt soát thoát được cái chết. Đây là minh chứng, rằng chỉ cần Kỵ Sĩ Đoàn, những kẻ thông thạo tính toán đường đi nước bước bằng lợi ích, còn cảm thấy Kusla có giá trị, thì ngay cả Giáo Hội cũng khó kết án thiêu sống cậu.

Điều tương tự cũng đúng với Kusla. Nếu có lợi ích, cậu sẵn sàng chấp nhận bán mạng mình cho Kỵ Sĩ Đoàn trên danh nghĩa của một bậc thầy giả kim. Chuyện này là do Kusla mong muốn, bằng bất cứ giá nào, cũng phải đến cho được Miền Đất Magdala.

Với mục tiêu đó, cậu không còn lựa chọn nào khác ngoài dấn thân vào con đường giả kim thuật sư và tập trung nghiên cứu. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu đó, đòi hỏi một con số tiền rất khủng, và một lượng phong phú nguyên liệu, một khoảng thời gian cực kỳ dài, và quyền lực đủ để bảo vệ cậu khỏi nguy hiểm. Nếu cậu mất đi sự bảo hộ từ Kỵ Sĩ Đoàn, mọi chuyện sẽ trở nên bất khả thi.

Thế nên, Kusla đành phải làm việc cho Kỵ Sĩ Đoàn như một con cừu ngoan. Hành động ném xương thánh hiên vào lò luyện để quan sát thành quả nấu kim loại về cơ bản là hành động tự tử; và cũng chẳng kỳ lạ gì nếu như cậu bị vứt bỏ.

Sau khi được giải thoát khỏi tù, cậu sẽ đến thị trấn Gulbetty ở phía bắc suốt mùa đông lạnh giá. Cậu hồi tưởng lại cuộc nói chuyện với lão kỵ sĩ già trên xe ngựa, cái chết của Friche, và gương mặt của ông ta.

“Heh.”

Kusla cười một cách nhăn nhở.

Thật không may, cậu đã thất bại.

Kusla nghĩ rằng vẫn tồn tại tiềm năng để thực hiện. Dù sau khi ném xương thánh hiền vào trong lò luyện để thử tinh luyện kim loại chất lượng cao hơn, cậu vẫn có thể được cứu, nhưng cậu hoảng loạn vì Friche bị giết. Trong lúc đau buồn quá mức, cậu không còn biết điều cậu đang làm nữa. Những lí do đó, cùng với những thành quả cậu đạt được đến thời điểm này, có thể bảo vệ cậu khỏi cái án tử hình.

Nếu sự thực không phải vậy, cậu chưa chắc đã chọn con đường nguy hiểm như thế này.

“…Mình quả thực đã bỏ lỡ một cơ hội vàng.”

Kusla lẩm bẩm cùng một tiếng thở yếu ớt.

Nó hoàn toàn rõ ràng là, khi tinh luyện kim loại, đốt hài cốt có thể làm thay đổi thành phẩm thu được. Lúc đó, tro có thể được dùng thay cho xương cốt.

Song lời lão kỵ sĩ già ít nhiều gì vẫn có cái đúng. Friche là một cô gái tốt, và dù sau khi cậu đã mập mờ nhận ra cô là gián điệp, cậu vẫn nụ cười ngây thơ của cô mê hoặc. Đã một thời gian kể từ lần cuối cùng cậu gặp một người mà cậu có thể chia sẻ hạnh phúc của mình.

Dù vậy, khi hỏi về sự u sầu của mình, Kusla chưa bao giờ có đủ tự tin để trả lời.

Giả kim thuật sư ban đầu tin vào sự luân hồi – rằng mọi thứ trên Trái Đất này đều thay đổi không ngừng. Người chết đi, một trạng thái tự nhiên luôn là một đặc trưng, và cái cũ sẽ một lần nữa sống lại trong tất cả –  và vì điều đó, cậu tin rằng chì có thể biến thành vàng, và cái mơ ước điên rồ đó có thể trở thành sự thực.

Nhưng sự đổi thay chẳng đợi bất cứ ai.

Cậu tiếp tục tin và theo đuổi những đổi thay đó trong lúc tinh luyện kim loại; đây là điều căn bản của giả kim thuật.

Và giờ đây, chuyến hành trình cuối cùng cũng đến hồi kết. Mông Kusla đã cứng đờ vì ngồi lâu, và xe ngựa cuối cùng cũng đã dừng lại. Người đánh xe, sau khi im lặng suốt cả chuyến đi, rốt cục cũng chịu lên tiếng.

“Chúng ta đến nơi rồi.”

“…”

Kusla bước ra khỏi xe ngựa, và việc đầu tiên cậu làm là ưỡn người.

Đã mười ngày kể từ khi cậu ngồi trong xe ngựa để tránh bị người qua đường nhìn thấy.

Cậu mang theo rất nhiều sách trên đường đi, nên cảm giác chán nản vẫn được kiềm ở một mức cho phép mặc dù cơ thể cậu thì ê ẩm hết cả. Cậu có cảm giác rằng nếu tiếp tục đi nữa thì sẽ ổn hơn.

Hôm đấy là một ngày lạnh nhưng sáng sủa. Sự trong lành của không khí này rất đặc biệt trong thời kì đông lạnh so với những gì cậu biết.

Phiên chợ sớm trông có vẻ như đã mãn, và những nông dân, những người sống ở quanh các làng mạc, đang ung dung dắt gia súc về nhà trước khi ngày lên. Tất cả dường như rất lặng lẽ với Kusla, và trong cái cuộc sống bình thường của người dân thị trấn, điều duy nhất thay đổi là mùa màng; họ đều có một gia đình để sum vầy mỗi ngày.

Cô gái từng bộc lộ sự quan tâm của mình với cậu trong quá khứ, không thể chối cãi, là một gián điệp. Cậu nhận ra mình đã yêu cô, nhưng cô đã bị giết ngay thời điểm cậu rời mắt khỏi cô.

Kusla không nghĩ chuyện này đáng để thương xót hay đau buồn. Cậu coi bản thân mình có khả năng kìm nén cảm xúc tốt hơn những người khác về chuyện đã xảy ra. Tuy số mệnh của Friche quả thực đáng thương, và điều ước tốt đẹp nhất có lẽ là để cô ấy hồi sinh lại, song Kusla vẫn giữ được tâm lí sau khi chứng kiến cái chết của cô. Tất cả những gì còn lại với cậu bây giờ là giải quyết vấn đề: cái chết của cô có lợi ích gì cho giả kim học thuật của cậu.

Kusla không biết liệu đây có phải là lí do ngực cậu cảm thấy đau đớn khi nghĩ đến cô gái đó. Không còn đau buồn dài dặc nữa, và cậu không hề bị lo lắng chôn vùi. Khoảng cách giữa cảm xúc với cậu có khi còn khiến cậu đau hơn cả cái chết của Friche.

Đó quả thực là một điều ước quá vời. Kusla thở dài trong lúc đến trạm kiểm soát của thành phố. Danh tính của cậu được xác nhận bởi chỉ độc một tên lính, và túi hành trang chẳng hề bị đả động; đó là một trong những đặc quyền hiếm hoi mà Kỵ Sĩ Đoàn có được. Hầu hết thành viên hội đồng ở thị trấn nhỏ này bị áp đặt dưới ách thống trị của Kỵ Sĩ Đoàn, và với toàn thể dân chúng ở thị trấn mới hưng thịnh lên này, chuyện đó chẳng có gì đáng cười cả.

Chính vì lí do này mà họ kính nể Kỵ Sĩ Đoàn song lại bất hợp tác âm thầm, nhưng lí do thực sự để Kusla có thể đi qua bình thản đến khác lạ như thế là thân phận giả kim thuật sư của cậu. Người trong thị trấn với nhận thức thông thường cũng chỉ hùa vào ngó nghía những kẻ ngoại đạo chứ không dại gì mà dính líu với một nhà giả kim.

Lưng của Kusla đã đau từ mười ngày trước, lúc mà cậu bắt đầu lên xe ngựa; cậu đi đứng một cách cẩn trọng, tránh làm cho cơn đau thêm tồi tệ.

Tường thành dày, và gần cổng là một rừng trại chăm sóc sức khỏe cho lính gác. Bọn lính kiểm tra lối ra vào hành lang, có lẽ là ở bên trong tường thành, với cung và máy bắn đá số lượng lớn. Áo giáp của chúng không nhuộm màu sơn, mà là dầu – hoặc đó có lẽ là máu vẫn còn chưa khổ hẳn.

Giả kim thuật sư chỉ được gọi đến vì những vấn đề cực kỳ cấp bách.

Đáng chú ý trong hầu hết những lí do triệu tập cậu đó là: chuyện tiền bạc.

Nếu nó chỉ đơn giản là vấn đề tiền bạc không thôi, giải pháp cũng vô cùng dễ dàng và trực tiếp – như chặt đầu ai đó bằng một cái rìu bén ngọt.

Kusla liến thoắng huýt sao trong lúc bước qua cổng, lấy lại bình tĩnh nhờ phong cảnh sinh động của thị trấn phía sau những bức tường dày. Nói đến quy mô, Gulbetty cũng chỉ là một nơi không hơn kém gì so với những thị trấn mà Kusla quen biết.

Một con sông chảy lối ra cửa cảng, và bốn cầu cong xây bắt qua nó.

Đi hết cửa, thứ cậu nhìn thấy quả đúng y hệt những gì được miêu tả. Xe chở hàng và xe ngựa kéo tụ tập thành một nhóm ở một bên đường. Những cỗ xe chất đầy chuồng gà lướt ngang qua mặt cậu.

Một vài người bộ hành đội mũ, với đôi mắt thâm đen, mỗi người mang theo một kiện hàng còn lớn hơn cả thân hình họ. Bọn họ, trông gần như, là người của một thương doanh du hành qua núi tuyết vào cuối năm, và hàng hóa mà họ mang theo chắc hẳn phải có lông thú, thành quả của những cuộc đi săn hay những món hàng khác như hổ phách và sáp ong. Chuyến hành trình theo quý của họ biến lợi nhuận trở thành một thứ gì đó vô cùng cam go.

Đường đi thì phủ đầy phân ngựa và phân la. Một chiếc xe chở heo nuôi và gà chạy rông xuất hiện giữa đám người bên đường, lướt ngang qua một cách vô tâm.

Dĩ nhiên, không phải tất cả đều bình thường: Những kẻ đáng nghi đang đứng dựa người vào tường, quan sát dân chúng; trộm, cướp, gái điếm và cả thợ săn cũng xuất hiện, cố gắng ra vẻ thay mặt lãnh đạo đáng kính, tìm cách để cướp lấy số gia súc trốn rong ruổi đó. Duy chỉ những kẻ ăn bám nguy hiểm không thèm màng đến bọn gia súc chạy rong này là những tên đổi tiền ở chợ đen, những kẻ chỉ mải lo âu yếm đồng tiền trong tay – nếu nhìn nhận theo hướng nào đó, lối sống của chúng là một hình thức phát sinh từ may mắn và cơ hội. Lí do để những kẻ buôn bán ở chợ đen có thể hoạt động giữa thanh thiên bạch nhật đơn giản vì với nhiều người, chúng rất cần thiết.

Kusla không phải là loại người ưa thích cái yên bình đó.

Nếu cậu buộc phải lựa chọn, cậu thích cái không khí ồn ào và rộn rã hơn ở bên trong thành.

Với lại, ở thành phố này có cảng biển; nó đáng lẽ ra phải là trung tâm của thành phố.

Nhìn khung cảnh huyên náo quanh cổng thành, có lẽ ở cảng còn ầm ĩ hơn thế nhiều.

Kỵ Sĩ Đoàn Cladius nằm quyền kiểm soát tuyệt đối thị trấn này.

Chỉ cần cậu còn giữ cái mác của họ, chắc chắn sẽ không ai dám làm trái ý cậu.

“Không tệ.”

Kusla hít một hơi dài, có lẽ để lọc hai lá phổi, thải khí độc trong người, và mỉm cười.

Bọn thanh niên chào hàng, gái điếm, và những tên thương buôn chợ đen không dám đến gần Kusla, như thể luồng khí kỳ lạ quanh cậu làm chúng cảm thấy tốt nhất nên tránh xa.

“Đi đâu đây?”

Người đánh xe hỏi Kusla, nhưng không dám nhìn vào mặt cậu.

“Ai biết? Tôi nghe bảo ai đó ở đây muốn gặp chúng tôi.”

Tay đánh xe im lặng. Ngón tay trái của hắn, ngón đang cầm cương, chỉ còn cụt nửa, và ngang mặt hắn có một vết sẹo dài của một thanh kiếm, thứ hắn giấu khá là kĩ bằng một cái mũ và râu tóc xồm xòa bên tai; trông hắn giống như một cựu chiến binh phục từng phục vụ cho Kỵ Sĩ Đoàn vậy. Cũng có thể là hắn được chọn để giết Kusla, để đề phòng cậu tẩu thoát, hơn là canh chừng cậu.

“…”

Tay đánh xe đột nhiên ngẩng đầu lên.

Hắn cảm thấy ánh mắt thoáng chốc hướng vào hai người, như một con thỏ hoang thấy sói.

Hắn đánh dây cương và quay xe ngựa đến một góc cua.

Một người đàn ông gầy nhẳng đang đứng ở đó, với một nụ cười nham hiểm trên khuôn mặt.

“Cậu cũng được cứu sao, hmmn?”

Anh ta thốt lên một tiếng khác thường ở cuối câu hỏi. Mái tóc dài vàng hoe của anh ta được cột thành một búi, và ai cũng muốn thắc mắc liệu anh ta có muốn tỉa bộ râu xồm xoàm kia hay muốn để yên như thế. Dù cho vậy, anh ta là người duy nhất trên thế giới này dám chào đón Kusla bằng một nụ cười đểu.

Kusla nhếch môi lên theo phản xạ, đáp lại nụ cười đó, và nói.

“Cậu mà cũng nói được câu đó à. Sao cậu còn sống được chứ?”

“Chúa đang bảo vệ tôi, tôi đoán vậy!”

Một lần nữa, anh ta lại nhấn cái giọng u sầu đến kỳ dị, và nó đã quá ư là quen thuộc với Kusla. Mặc kệ có phải cố ý hay không, đầu độc một Tu Viện Trưởng đến chết dĩ nhiên lãnh hậu quả là một bản án tử hình, và đứng trước mặt cậu đằng kia vẫn là Wayland, sống nhăn răng khỏe mạnh. Bậc thầy giả kim, đúng như lão kỵ sĩ già đã nói, là những phù thủy.

“Và làm sao cậu còn sống được? Tôi nghe bảo cậu ném xương của một vị thánh vào lò luyện và đốt chúng rồi mà?”

“Lửa lúc đó chưa đốt lên, và cái mấu chốt là tôi viện được cớ. Hội Thánh Trừng tha cho tôi, vì tôi vô tội và phớt lời chuyện vị thánh kia.

Wayland tiếp tục đi, nhìn vào móng tay của cậu, rồi nhún vai.

“Thế còn cậu thì sao?”

“Tôi á? Tôi đâu có đầu độc ông ta.”

“… Ý cậu là sao?”

“Nói cách khác, trong lúc lão già đó lù bù đánh chén, tôi xuất hiện trước bàn của lão, vừa cười vừa lắc lắc một cái lọ ngay trước mặt lão. Sau đó lão thất kinh và bất đắc kỳ tử.”

Đó là trò chơi khăm mà Kusla sử dụng khi chọc hai tên lính gác, nhưng cái trò đó lắm lúc cũng thật ra mặt.

Tuy nhiên, vì thủ đoạn giết người đó, coi bộ Wayland đã tính toán khá chu đáo từ trước.

“Nhưng sao cậu lại làm chuyện đó?”

“Vì lão đánh mấy bé gái của tôi.”

Biểu hiện của Wayland y như thể muốn nói, “Còn cái lí do củ quần nào nữa chứ?”, làm Kusla chẳng biết làm gì ngoài gật đầu chấp nhận.

“Không phải lão là Tu Viện Trưởng Giáo Đường sao?”

“Tôi đã bảo là hắn ve vãn các xơ. Tu Viện Trưởng của một nữ giáo đường không nhất thiết phải là phụ nữ.”

Kusla chỉ còn biết nhún vai với khả năng xử lí kỳ tài của Wayland. Ngay cả với sự suy đồi của tu sĩ đạo, Wayland vẫn đa vào tình trường với nữ tu, những người vốn đã là con chim trong lồng.

“Lão mập đó làm rất nhiều điều xấu mà ít người có thể biết, và, trong mắt mọi người, tôi đang muốn xóa đi cái tiếng xấu của mình. Nữ tu của giáo đường cầu xin tôi cứu họ, thế nên tôi mới được thoát khỏi tù bình an. Tôi được tôn làm anh hùng ở giáo đường đấy.”

“Cậu lúc nào cũng ngon ăn với mấy chuyện như thế.”

“Đơn giản là do chú không giỏi khoản ấy thôi, Kusla.”

Kusla đã từng một lần bị mê hoặc bởi những lời ngọt mật của gián điệp; cậu đã yêu, tất cả, chỉ để nhìn cô ấy bị giết. Cậu nhún vai và đá con gà đang vỗ cánh tới sang một bên.

“Nhưng quả thực bất ngờ đấy…”

Kusla thong dong đi về phía trước và lắng nghe một cách bình thản.

“Tôi chưa bao giờ nghĩ là mình lại có thể được làm việc trong cùng phân xưởng với cậu một lần nữa đấy, Kusla.”

“Câu đó phải để tôi nói.”

“Chúng ta gặp nhau trong ngục của Kỵ Sĩ Đoàn bao nhiêu lần rồi nhỉ?”

Kusla đã từng bị bắt và thả ra nhiều lần, và chính bản thân Wayland cũng chẳng phải tay thua kém gì nói về khoản này, thành ra cả hai người thường xuyên gặp nhau qua song sắt.

“Nhưng lần cuối cùng hai ta cùng làm ở một phân xưởng là khi nào ấy nhỉ?”

Wayland ngừng lại để trả lời.

“Hm… hình như là năm năm trước, đúng không nhỉ? Tôi nhớ những ngày đó ghê đấy.”

Cứ mỗi khi nhắc lại những gì xảy ra năm năm trước, họ cảm thấy bản thân không khác gì những tên ngốc non kém – một ý nghĩ mà người ta chỉ còn biết nhăn nhó chấp nhận.

Hai người họ liên tục cãi nhau, rồi, sau khi học được một chút, đã ăn trộm độc dược từ xưởng mà rắc vào đồ ăn của nhau.

Tuy nhiên, sư phụ của họ là một con quỷ già còn tồi tệ hơn họ nhiều, nên vào ngày tốt nghiệp, Kusla và Wayland lên kế hoạch đầu độc ông ta. Sau khi thầy của họ ăn hết nửa đĩa thức ăn tẩm thủy ngân, cả hai lập tức hoảng hồn.

Khi hai người chia tay, Kusla chào tạm biệt Wayland, và cả hai trao nhau nụ cười chân thành. Cảnh tượng đó vẫn còn rất mới trong tâm trí của Kusla.

“Hồi đó cậu dễ sướt mướt thấy mồ, Kusla.”

“Cậu mà dám nói câu đó à. Không phải cậu cũng thường xuyên khóc lóc đó sao?”

Wayland nhún vai, bất ngờ vươn vai khuây khỏa thấy rõ, và quay lại nhìn Kusla.

“Dù sao thì, nhanh chân đến chào hỏi người hành quyết, rồi về xưởng nào. Tôi hứng lắm rồi đấy.”

Kẻ hành hình mà anh ta nói đến chính là người đứng đầu một thương doanh giả kim với Kỵ Sĩ Đoàn, và cũng là người có một xưởng làm việc trong thành phố.

Người đó không chỉ liên quan đến việc cung cấp nguồn nguyên liệu cần thiết cho công việc của giả kim thuật sư, mà còn hỗ trợ họ, nếu họ gặp rắc rối với người của Giáo phái hoặc bị lãnh án thiêu sống. Ngược lại, nếu một nhà giả kim không còn phục vụ Kỵ Sĩ Đoàn nữa, hay bị coi là vô giá trị, họ sẽ không ngần ngại mà bán họ cho Giáo Hội hoặc ám sát.

Dù nghe vô lí là thế, nhưng thực tế Kỵ Sĩ Đoàn có thể giết người tùy ý thích.

Đó là lí do những người này được gọi là ‘Kẻ hành hình’.

Họ không được coi là kẻ hành quyết bởi vì một nhà giả kim không có quyền chấp nhận hình phạt nhanh gọn như chặt đầu, vốn đã là điều chỉ có trong truyện ngụ ngôn. Thiêu sống người trên cọc gỗ thì cũng giết quá nhanh rồi, thành ra nó cũng bị coi là quá nhàn hạ. Về cơ bản, họ sẽ thả giả kim thuật sư cùng với lũ chó, và người đó sẽ bị cấu sẽ bởi lũ chó điên trong ba đến bốn ngày trước khi chết.

Kusla phải nhập tâm rằng cậu không được thầm cười đểu trong lúc hỏi Wayland.

“Thế cậu chưa bao giờ tới xưởng à?”

“Chưa. Tôi mới chỉ gửi đồ đạc đến thôi. Tôi mới đến hồi sáng bằng tàu của Kỵ Sĩ Đoàn.”

“Vậy là cậy mới tới thôi?”

“Chuẩn.”

“Cậu có thể đi trước mà?”

“Cậu mong đợi gì ở loại người như tôi chứ?”

Wayland giở giọng nhạo báng ra.

“Đồng-nghiệp~?”

“Tôi đang run lên đây này.”

“Cậu đúng là tên tàn nhẫn~!”

Wayland thích thú bắt chước tiếng rên rỉ của chó, y như Kusla thích chọc lũ lính canh ngục. Thị trấn Gulbetty nằm ở gần tiền tuyến, và dân cư, những người đã quen với chuyện coi lính đánh thuê và kỵ sĩ không khác gì trộm cướp, sẽ hoảng sợ và ngay lập tức bỏ chạy khi thấy họ.

Giả kim thuật sư.

Những kẻ ti tiện lạc lối.

Khi cậu còn trẻ, Kusla đã đáp trả những nhận xét ác ý đó bằng một điệu cười khinh miệt lạnh lẽo.

Tuy nhiên, cậu dù có thiếu động cơ tới mức nào đi nữa, tệ lắm thì, cậu sẽ hù dọa bọn lính. Khác với cậu, Wayland dường như chẳng khác gì so với những ngày còn học việc, và sẵn sàng giết người mà không cần nghe quá nhiều lời xúc phạm.

“Nhưng tôi đồng ý với việc về xưởng. Tôi muốn nung chảy cái bầu không khí lạnh lẽo xung quanh mình quá – như là nấu kim loại ấy,” Kusla hí hửng.

“Trông bên ngoài như vậy thôi, tôi vẫn nghĩ điều kiện ở đây khá ổn đấy. Quả là không phụ lòng mong đợi vào điều kiện thuận lợi ở tiền tuyến.”

Vùng đất Phương Bắc nơi Kỵ Sĩ Đoàn Cladius tập trung cả về của cải lẫn lực lượng quân sự; họ dùng Gulbetty như một căn cứ. Vùng đất ở cực bắc này dĩ nhiên là thuộc về Kỵ Sĩ Đoàn – và không ai dám chống đối lại họ, vì tất cả đều hiểu rõ thế lực của Kỵ Sĩ Đoàn.

Nhiều nhà giả kim tham lam mong muốn và còn ao ước có được một xưởng làm việc ở gần tiền tuyến; ở một nơi như vậy, họ sẵn sàng bất chấp khi có cơ hội. Người nào mà chẳng bất chấp để thắng cuộc.

Một quỹ tiền vô tận, họ có thể được ưu tiên mua sách mình cần, và được quyền có tham vọng làm ăn với thợ thủ công và thợ mỏ ở vùng đó. Có rất nhiều quyền lợi cho họ, như là được phép đọc bí tịch và cấm tịch.

Kusla hẳn là sẽ hài lòng nếu không phải vì những điều kiện thuận lợi ở tiền tuyến nơi cậu vừa đặt chân tới này: Nhưng cậu phải ở cùng với Wayland.

“Nhưng còn người làm ở xưởng Gulbetty này trước hai ta thì sao? Hắn đúng là tên đần khi giao một xưởng làm việc tốt như thế cho chúng ta.”

Kusla bước tránh bãi phân ngựa trong lúc nói, và Wayland đáp lại bằng một thái độ chẳng giống như người muốn dự báo thời tiết hôm qua vậy (và vẫn dùng cái giọng rầu rầu rất đặc trưng).

“Tôi nghe bảo hắn chết rồi.”

“Oh? Hắn chết vì tai nạn à?”

Hai người tạt ngang qua một con chó bị xích ở cửa, miệng nó dính đầy máu đỏ tươi. Hẳn là nó vừa đi săn sáng sớm nay – con mồi, dĩ nhiên, là sinh vật nào đó lang thang trong thị trấn.

“Không, tôi nghe nói hắn bị ai đó trong thị trấn giết cơ.”

Kusla vẫn cứ bước tránh những đống phân ngựa nằm đầy trên đường, không hề có hứng trả lời.

Mặc dù cậu hiểu chuyện như vậy là thường tình, song vẫn có gì đó làm cậu bận tâm.

Kỵ Sĩ Đoàn là những người giao việc cho họ lần này; rõ ràng họ coi đây là một hình thức trừng phạt.

“Đừng bảo với tôi chúng ta làm việc theo cặp là vì chuyện này nhé.”

“Hm… đó là những gì tôi nghĩ. Họ cử loại người cẩu thả như hai ta đến nơi tốt như thế này, rõ ràng là họ đang giấu diếm gì đó.”

Wayland vừa gãi đầu vừa bước chân, giả vờ lo lắng.

Cậu ta là loài người sẵn sàng xúc đá bên lề đường về, rồi cắt, nghiền, quan sát và chơi với chúng để tiêu khiển. Nếu cậu ta mà trông có vẻ mất hứng, điều đó cũng đồng nghĩa là cậu ta đang bực mình.

“Chúng ta có thể bị giết nếu ở một mình, nên thành ra hai người cũng có chút thuận lợi, nhỉ?”

Hai người họ bước đi trong im lặng. Kusla quay sang Wayland, còn Wayland thì thuận chân đá hòn sỏi trên đường.

“Những tên giả kim thuật sư mạt hạng tới số cả rồi.”

“Haha. Thật lãng phí khi lão sư phụ ấy dạy chúng ta điều đó!”

Cả hai đứng trước cửa nhà kẻ hành quyết.

Kusla hồi tưởng lại cảnh tượng năm năm về trước, và vai cậu chợt cứng lại.

“Cậu sợ à?”

“Tôi nói câu đó mới đúng.”

Đã năm năm trời kể từ khi Kusla cãi nhau với ai đó bằng giọng này.

Cậu muốn nén cái hoài niệm đó lại, nhưng không làm được, làm miệng cậu nhoẻn lại đến tận mép.

Những người bộ hành đứng gần đó đều hoảng sợ, nên họ chạy đi cả, nhường đường cho hai người.

“Ta biết hai cậu đều nổi tiếng dùng độc và ám sát.”

Người đàn ông giữ chồng giấy da dê với một cái kẹp bằng vàng, và tay bắt đầu ngoay ngoáy bút liên tục trên bàn trong lúc nói.

Nét chữ thanh thoát của hắn ta quả thực là một liều thuốc cho đôi mắt. Cũng thật bí ẩn khi một tên mập, lùn ục ịch như thế có thể viết liền tay tốt đến vậy.

Hắn ta chính là người quản lí lực lượng hàng hải ở Gulbetty dưới quyền của Kỵ Sĩ Đoàn Cladius, Alan Post.

Việc của lực lượng hàng hải là cung cấp thực phẩm và rượu cho quân lính, hoặc vận chuyển nhu yếu phẩm. Đó cũng là lí do mà gần như toàn bộ lực lượng hàng hải rất bận rộn trên chiến trường.

Tuy nhiên, các cấp lãnh đạo trong Kỵ Sĩ Đoàn có nhiệm vụ khác nhau.

Kỵ Sĩ Đoàn tự khuếch trương thế lực một cách trơ trẽn, cho rằng hành động của họ đã được thánh hóa bởi Ý Chí Của Chúa, và họ sử dụng cái cớ này để cùng với các hội thực hiện âm mưu giao thương. Chốn chợ chiền là nơi cơ bản bị kiểm soát bởi hoạt động của họ, cụ thể là về tài chính và môi giới, và điều này cũng đồng nghĩa với việc kiếm lợi nhuận. Đó là bởi vì thương lái sẽ tìm đến nguồn thu lời theo lẽ tự nhiên ở nơi kinh doanh, nhất là những nơi chiến tranh nổ ra, và Kỵ Sĩ Đoàn thì nhìn thấy lợi ích đó với tư cách là kẻ gây chiến.

Alan Post, người ngồi trước mặt họ, có quyền quản lí tuyệt đối con đường huyết mạch được coi là dòng lưu thông tiền tệ ở quanh Gulbetty. Hắn đã thu nhiều tiền bằng ách thống trị của mình, và cơ thể của hắn cũng ục ịch như chính cái két tiền mà hắn giữ. Bụng hắn đè lên cái bàn yếu ớt trong lúc hắn làm việc.

“Sao tôi lại phải đi ám sát nhỉ? Người yêu tôi cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự vậy mà.”

“Không có chuyện tôi lại đi đầu độc người khác đâu! Tôi không dùng độc.”

Kusla và Wayland vẫn còn đang đứng ở giữa phòng, trả lời câu hỏi trong khi đảo mắt đi.

“Chậc, tôi không có đổ tội gì cho mấy cậu – chỉ là nói ra quan điểm của tôi thôi.”

Chẳng ai trong hai người họ biết cách bộc lộ sự thích thú một cách đàng hoàng cả.

Wayland đáp lại bằng một cách ưỡn lưng, trong khi Kusla thì bắt đầu cậy móng tay.

“Tuy nhiên, những hành vi đó không phải là xấu. Khi bước vào căn phòng này lần đầu tiên, các cậu chỉ đơn giản là gây ấn tượng đầu với người khác thôi. Nếu như các cậu coi thường quyền hạn của mình ngay từ những ngày đầu như thế, một ngày nào đó nó sẽ quay lại ám các cậu đấy.”

Kusla đảo mắt sang Wayland, và Wayland cũng làm điều tương tự thế với Kusla.

Cả hai người họ thở dài và đứng thẳng người lại với đôi mắt nhìn thẳng về trước.

“Và khi cậu cảm thấy bí mật của mình bị lộ, các cậu sẽ giả vờ vâng lời, nhỉ? Được rồi, hai cậu đã đỗ.”

Post đưa tờ giấy da cho quản gia đứng bên cạnh hắn, tiếp tục lướt đôi mắt nhỏ và hung hăng của hắn, rồi đứng dậy đi tới vỗ vai hai người.

“Dùng lời mật ngọt để làm đối phương lơ là, rồi sau đó lại gạt chân họ. Tốt đấy.”

“Ông muốn cho bọn tôi thấy ông không phải là tên dễ đối phó, và muốn tụi này ngưng nói xàm chứ gì?”

Kusla vừa nói vừa nhìn lên trần nhà, và cả cái thân phục phịch của Post rung lên sung sướng.

“Cậu đúng là thông minh đấy. Đây đúng là hai người ta đã thỏa hiệp với Kỵ Sĩ Đoàn.”

Kusla cảm thấy có điều gì đó không ổn với lời hắn nói.

“… Ý ông là sao?”

“Ta phải bảo vệ tính mạng của mình.”

“Bằng độc dược và ám sát hả?”

Post cười đểu giả, nhưng đôi mắt hắn hoàn toàn không có chút rộng lượng vốn có trước đó.

“Cách phòng thủ tốt nhất là tấn công. Đây là điều duy nhất ta dạy bản thân mình trong quân đội.”

Lần này, Kusla thực sự nhìn cách Wayland biểu hiện, thay vì chỉ phản ứng lại không.

Xem ra họ đã tự ném mình vào một tình thế đầy rắc rối.

“Người tiền nhiệm trước các ngươi tên là Thomas Blanket. Hắn là một người nổi bật, chắc cũng đã bốn mươi tuổi, nhưng hắn chết rồi.”

Cái thái độ nói chuyện của hắn nghe lỗ mãng và trầm ngâm đến nỗi người khác nghĩ mình đang nói chuyện với kẻ có nhân phẩm thối nát vậy. Kusla lên tiếng.

“Thưa Ngài Post, hắn bị giết ngay trước mặt ngài hay sao vậy?”

Kẻ lãnh đạo thị trấn – đứng trong tình huống đó. Đôi môi nhoen nhoẻn của Kusla liền bác bỏ suy nghĩ thoáng qua trong đầu cậu.

Đương nhiên, nếu cậu là người quá dễ bị khiêu khích bởi lời chế nhạo đó, thì cậu đã chẳng ngồi vào được vị trí này.

“Thành thực mà nói, chuyện là như thế, và bọn ta vẫn chưa bắt thủ phạm.”

“Chưa bắt?”

“Ngạc nhiên lắm, phải không? Bọn người ở Giáo Hội, những tên muốn lấy lại quyền cai trị thị trấn, đang cố hết sức để tìm, song vẫn chưa tìm ra. Cái chết của một nhà giả kim thường bị quy cho một vài vấn đề xung đột niềm tin. Chỉ cần có chút chứng cứ coi ta là kẻ ngoại đạo, chúng có thể ngay lập tức tận dụng cơ hội mà lôi ta xuống khỏi vị trí này.”

Kỵ Sĩ tôn sùng Chúa, chứ không phải Giáo Hoàng, kẻ cai trị Giáo Hội.

Vì thế mà hắn cần phải cùng lúc nắm trong tay một quân đội độc lập, tiền của, và quyền lực.

Không cần biết đây là thị trấn nào, xung đột quyền hành giữa Giáo Hội và Kỵ Sĩ Đoàn luôn luôn hiện hữu.

“Thế nên ta mới nói, chúng ta không biết hạng người nào đã giết Thomas, và bọn ta cũng không hề biết tại sao. Bọn ta vẫn chưa biết liệu đó là tai nạn, hay đụng độ với bọn bợm nhậu, cướp, hay là do sơ suất lúc kiểm tra một thanh kiếm mới rèn. Có thể là do một cuộc săn lùng phù thủy nhắm vào giả kim thuật sư, hoặc có thể Giáo hội muốn có được thành quả giả kim học của Thomas rồi bị cậu ta từ chối. Có thể cậu ta đào ngũ và bị giết để diệt khẩu.”

Hắn ta ngừng lại một chút trước khi tiếp lời.

“Vậy đấy, bọn ta không biết kẻ địch là ai, và không thể đưa ra một kế hoạch nào, nhưng bọn ta cũng không thể cứ bế quan thị trấn mãi như thế này.”

“Vẫn còn một phương pháp bảo hộ những người như bọn ta, cách mà các người gọi là bỏ tù ấy.”

“Đó là cách của những người quyền cao hơn ta. Với lại, ta ghét những tên rề rà và hít bầu không khí độc hại suốt đời như bọn chúng lắm.”

Kusla nhún vai, giơ tay lên ra hiệu rằng cậu không nên mạo muội chen ngang.

“Ngay lúc này đây, trang bị làm bằng kim loại trong thị trấn đang rất tồi tệ. Chiến tranh ở phí bắc Gulbetty đang ổn định, nhưng hầu hết núi mỏ ở phía bắc vẫn còn đang nằm trong tay lũ ngoại đạo. Dù cho bọn ta đã cố sản xuất và cải tiến vũ khí ở phía nay, nhưng tiền thuê nhân công quá cao, và thuế trên đường vận chuyển cũng nhiều vô kể. Với lại, bọn ta còn phải vận chuyển lúa mì, lúa mạch, hắc mạch, rượu nho, phèn… ngay cả yến mạnh mà quân đội của Kỵ Sĩ Đoàn sử dụng nữa. Nếu bọn ta không cung cấp cho họ, thì nguồn cung ứng sẽ vô cùng khan hiếm.”

“Nói cách khác…”

Những người chỉ biết nhai đi nhai lại kinh nghiệm sống từ quá khứ, và có thể mất đi kỹ năng sống suốt đời. Thường phải mất một thời gian để họ nhận ra được mình đã bỏ phí thời gian như thế nào – và một số khác thì không.

Tuy nhiên, cuộc đời của một nhà giả kim là quá ngắn ngủi để lười biếng.

Post ngưng một lúc sau khi bị Kusla chen ngang, và Kusla nghĩ hắn dường như khá thích thú khi cậu xen vào.

“Nói cách khác, thị trấn này cần giả kim thuật sư có tài năng luyện kim xuất chúng để nâng cao quá trình đúc kim loại, nhưng vì bọn ta không thể giải đáp được nguyên nhân cái chết của người làm mới đây nhất, bọn ta không thể nào tìm ra được người tiếp quản thích hợp.

“Nghĩa là nói theo đường khác, bọn này là tốt thí mạng.”

“Ngay cả trên chiến trường, những kẻ như thế có đáng gì so với chiến thắng tuyệt đối sau cùng.”

Rồi, té ra bọn này được đem tới chỗ chết đây mà.

Post bộc lộ sự điềm tĩnh mà chỉ người nào đã từng ra lệnh như thế quá nhiều mới có được. Khuôn mặt hắn bình tĩnh đến kinh khủng.

Cả Kusla lẫn Wayland đều không có bất cứ ý định chống đối nào.

Tuy nhiên, điều đó không phải do hai người thiếu đi sự vượt trội. Đúng hơn thì, một nhà giả kim sẽ không thèm để ý gì đến chuyện đó sau khi bị gài bẫy thâm đến như vậy.

“Thế ý ngài là bọn tôi có thể ở đây bao lâu cũng được, trừ phi chết à?”

“Chuẩn rồi đấy. Với lại, những chiến binh quay về từ chốn nguy hiểm chắc chắn sẽ được phong làm anh hùng. Ta không nghĩ kẻ thế mạng sẽ bị đối xử hẹp hòi đến thế đâu.”

Xưởng làm việc gần chiến được vốn được coi là kho hàng dự trữ bất tận. Thông thường, đó không phải là nơi để họ cử giả kim thuật sư non trẻ và man rợ như Kusla tới rồi hợp tác làm ăn.

Nếu kế hoạch của họ bị trễ, nguy cơ trách nhiệm đi kèm cũng bị đè lên vai họ.

“Cũng tốt là thị trấn này nằm trong sự kiểm soát của ta. Ta chắc chắn không để những sự việc bạo lực như thế xảy ra nữa, và ta cũng sẽ dọn dẹp khu vực này nhiều nhất có thể. Vậy nên hãy cố gắng hết sức nhé.”

Post nheo mắt. Biểu hiện của hắn rất từ tốn, cái thái độ của một người có quyền, với tất cả mọi người trừ hắn đều là những con tốt không hơn không kém để lợi dụng.

Kusla không thích thế, nhưng lí do mà Post hành xử như vậy cũng đủ để nắm bắt. Qua đó, cậu cảm thấy chí ít họ vẫn tin tưởng lẫn nhau trên một mức độ nào đó.

Kusla và Wayland đáp lại theo phong thái của Kỵ Sĩ, “Vâng, thưa ngài.” Đó là một trò đùa nhỏ để chọc khóe cái phong thái quy củ của Kỵ Sĩ Đoàn, và điều đó làm cho Post bật cười sảng khoái. Lão ta càng lúc càng lộ rõ bản chất hơn so với ban đầu.

“À, phải rồi.”

Ngay lúc Kusla và Wayland chuẩn bị bước qua cửa, Post kêu họ ngừng lại.

“Ta cũng phải xin lỗi hai người về chuyện này.”

“Hmn?”

“Ta đã làm hết khả năng của mình, nhưng vẫn có một số điều không thể ngăn được.”

“Là gì vậy?”

Hắn đáp lại lời của chàng trai Kusla tò mò.

“Cậu sẽ hiểu khi đến xưởng thôi. Cơ mà, nếu cậu thực sự giỏi dùng độc và ám sát, chắc chắn sẽ có cách xử lí.”

Cả hai người cùng nhún vai.

“… Chúng tôi xin phép.”

Wayland mở cửa và cả hai rời khỏi phòng.

Những người phục vụ mang sách xếp hàng khắp hành lang, gương mặt của họ đều tỏ vẻ căng thẳng.

Chẳng gì có thể giấu được kẻ cầm quyền nào tự tay ghi chép giấy tờ của mình cả.

Cái vinh quang của cai trị thường bị vùi dập bởi sự phản bội của kẻ đầy tớ. Những kẻ trị vì theo hướng đó không thể nào giấu nổi bọn thư ký riêng bất cứ điều gì họ muốn giữ bí mật.

Trái ngược lại, Post có thể giấu tất cả những bí mật và những bản bảo cáo bịa đặt nếu hắn cần.

Xem ra vùng đất gần chiến tuyến không phải là nơi để kỵ sĩ có thể bình tâm mà đánh trận được.

Tòa nhà này dường như lưu trữ tất cả mọi thứ cướp được từ các hội trong thị trấn – thậm chí còn có khả năng chính nó cũng chịu số phận tương tự. Trên đường ra ngoài, họ nhìn thấy cờ Kỵ Sĩ Đoàn được treo cao trên trời, như để phô trương quyền lực của họ một cách vô liêm sỉ.

Ở hội trường bên ngoài bên ngoài tòa nhà là một bức tượng đồng của một người lính đang cầm chặt trong tay một thanh kiếm nguy nga, biểu trưng cho sự độc lập của thành phố, song thực sự thì nó chỉ mang tính trang trí.

Bất cứ ai có thể vung kiếm xử trảm bọn tội đồ thì là kẻ cầm quyền của thị trấn.

Tuy nhiên, Kỵ Sĩ Đoàn nắm quyền triệu tập giả kim thuật sư và quyền kiểm soát thành trì bảo vệ, nơi họ không bị kiểm soát hành trang.

Thế nên, vì quyền lực đặt ra trật tự của mọi thứ trong cái thị trấn này, số phận của Kusla và Wayland đều nằm trong tay Post. Quyền lực thì rất bao la, song cũng rất nặng nề.

Kusla và Wayland đi qua bọn lính và lá cờ, nheo mắt vì ánh nắng giữa ngày, và nhìn chằm chằm vào con đường nhộn nhịp.

“Cậu nghĩ sao?”

Kusla hỏi Wayland, người không hề lên tiếng trong lúc họ đứng trước bàn của Post.

Wayland là loại người hầu như không nói gì với loại người như Post, mặc dù không phải Post là người cậu không quen biết. Thay vào đó, cậu ta đang nghĩ cách giết đối phương.

Đây là điều Kusla đã biết từ năm năm trước, khi mà cả hai vẫn còn trẻ dại.

“Tôi chẳng thể nói gì với chuyện đó cả.”

“Đúng vậy.”

“Nhưng nó cứ như đào mỏ ấy. Chẳng cần biết loại gì, Chúa có bao giờ cho chúng dạng thù hình nào thuần khiết nhất đâu.”

“Nghĩa là?”

Wayland cười xảo quyệt.

“Nghĩa là, chúng cứ làm việc như bình thường thôi.”

Sau khi dùng bữa trưa ở khu chợ giữa thị trấn, Kusla và Wayland về lại xưởng làm việc mới.

Thành phố nơi họ tới là nơi quá ồn nào, nên chốn yên tĩnh hơn phải nằm ở nơi khác. Họ đi bộ qua một dãy nhà bỏ hoang, và tầm nhìn của cả hai trải rộng ra sau khi đi qua nó.

Một khung cảnh thành thị rộng lớn hiện ngay trước mắt họ, và biển mênh mông trải dài phía đằng xa và trải dài đến cả chân trời.

Thực sự rất đẹp.

Họ thắc mắc tại sao khu vực xung quanh lại hiếm có tiếng chân người đi bộ ồn ào đến vậy, để rồi ngay lập tức nhận ra rằng hẳn là vì họ đang ở ngay mũi vách đá. Một vài công trình xưởng làm việc bắt mắt hẳn là phải nằm ở đây.

“Đây quả đúng là một xưởng làm việc đắt tiền đấy.”

“Gã Thomas đó chắc chắn không phải tay vừa đâu.”

Một cuộc chiến sẽ trở nên vô nghĩa nếu chẳng có ai dành được chiến thắng sau cùng.

Kusla và Wayland ắt phải dùng đủ chiêu trò vô liêm sỉ để thắng cuộc chiến của chính mình y như những người khác, và chỉ khi họ thắng thì cái giá mới đáng được quan tâm. Nếu sản phẩm của chỉ một giả kim thuật sư gây đủ sức ảnh hưởng để lật ngược cả thế cờ, hoạt động công khai trong một xưởng làm việc đơn giản (và còn ở ngay chốn phong cảnh lộng lẫy này) là một điều chẳng đặng đừng phải làm.

Wayland mỉm cười trong khi vẫy tay gọi Kusla ở phía trước. Họ đi tới xưởng, nhìn xuống cảnh vật bên dưới, và ngay cả Kusla cũng phải bất ngờ.

“Cả bánh quay chạy bằng nước này nữa à?”

“Và dòng nước chảy qua hẻm núi tụi mình vừa mới tạt ngang qua đó. Tôi dám chắc là có một cái ống thông dẫn được đào cẩn thận ở dưới này, nhưng coi bộ chúng ta không thể nào kiểm soát luôn cả nguồn nước này được.”

Kusla nhìn theo hướng của Wayland và ngó xuống dưới vách núi, ngắm bao quát khung cảnh bên dưới và thoáng nhìn thấy bến cảng. Có một vài bánh quay nước đang hoạt động, và vô số tòa nhà tụ tập ở quanh chúng; rất khó để đoán họ dùng chúng để xay, giã gạo, hay dùng cho nghề thủ công nào nữa.

Khả năng làm việc của bánh quay nước phụ thuộc vào dòng chảy, và dòng chảy lại phụ thuộc vào độ cao của thượng nguồn.

Xưởng làm việc được xây dựng ở ngay cầu. Nơi mà Kusla và Wayland đang đứng chỉ là mức thứ nhất, trong khi xưởng lại ở hai mức thấp hơn, và bánh quay thì ở tận đáy. Điều này nghĩa là dòng chảy mạnh nhất của nước nằm ở tận bên dưới vách núi.

So với lúc bây giờ, Kusla đã phải hợp tác với thợ thủ công để cùng sử dụng những phương tiện như bánh quay nước này. Nhìn lại quá khứ của cậu, đây quả thực là một thứ phương tiện xa xỉ đáng có.

“Lò luyện cũng đã sẵn đây. Họ làm lò luyện to đến thế này cơ đấy, huh. Chậc, tôi nghĩ họ cho phép làm vậy vì xưởng này nằm ở cạnh bánh quay nước thôi.”

“Chúng ta có thể rửa sạch nó bằng nước nếu có lửa.”

Wayland quay mặt nhìn Kusla với một vẻ hiếu kỳ.

“Thế thì người ở bên dưới sẽ bị ảnh hưởng.”

Tuy nhiên, dù chuyện đó có thực sự xảy ra đi nữa, cậu ta vẫn không cảm thấy phiền hà gì đâu.

Với một nhà giả kim, cậu ta khá là rập khuôn.

Cậu ta sẽ không thèm quan tâm đến cuộc sống của những kẻ tầm thường khác, và cậu cũng chẳng lo nghĩ nhiều dù có gì xảy ra với cả hai. Kusla, người nhận ra ý định bất chấp tất cả mọi thứ xung quanh mình, đôi lúc cũng sẽ như thế, hay đúng hơn, cậu chỉ quan tâm đến những chuyện đó vì cảm giác bắt buộc mù mờ nào đó trong cậu.

“Nhưng lão mập kia muốn xin lỗi chuyện gì vậy?”

“Hm… gì nhỉ… Tôi cũng chẳng nghĩ ra nữa.”

Họ rời mắt khỏi bánh quay nước và khung cảnh xinh đẹp trước mặt. Ánh nắng rọi xuống, làm bầu không khí giảm phần nào cảm giác e dè mà họ cảm thấy khi nghĩ đến điều đó.

“Có lẽ lão chỉ lừa chúng ta thôi. Nhanh vào trong đi, lạnh quá.”

“Rồi, vậy thì vào trong thôi.”

Kusla cảm thấy có chút miễn cưỡng khi cậu phải quay mắt khỏi vách đá kia – tuy nó không phải là lần cuối cùng cậu ngắm nhìn nó, nhưng khung cảnh vô tiền khoán hậu này quả thực quyến rũ đối với cậu.

Cậu đến chỗ của Wayland, người đang mở khóa một cách lo lắng với chùm chìa khóa họ được đưa cho. Cánh cửa mở ra, và Kusla va vào Wayland, người đột nhiên dừng lại, từ sau lưng.

“Này, cậu bị sao vậy?”

Kusla quát Wayland trong lúc bối rối, rồi qua lưng cậu ta để nhìn khung cảnh bên trong.

Gỗ xếp thành từng chồng trên sàn gần sát tường đá, và những bước tường đó treo cả một bộ sưu tập những thứ tạp nham nhiều vô kể – như thể có tên tâm thần nào đó trang trí nơi này vậy. Phòng thì đương nhiên không bẩn, nhưng nỗ lực để duy trì nó sạch sẽ thì cần phải xem lại.

Kusla nhận ra mình còn ngạc nhiên hơn so với cái khựng đứng người của Wayland.

Khoảnh khắc mà cậu nhận ra điều đó, một giọng nói xa lạ vang lên từ trong phòng.

“Vậy là hai người đã đến rồi sao?”

Truyền qua người Wayland, giọng nói đó vang lên như một điềm gở dồn hết vào tường nhà dày, vọng lại đầy trong trẻo.

Độ trầm bổng của giọng thường mang theo nhiều thông tin đáng ngạc nhiên hơn là nội dung nó phát ra. Chỉ một điểm nhấn giọng thôi cũng có thể cho biết chính xác đặc điểm vóc dáng hay gương mặt của một người, và cách nói chuyện cũng phần nào để lộ địa vị của người đó. Tính cách người nói gần như thể hiện trong âm điệu, cũng như cảm xúc con người lúc nào cũng được bộc lộ qua lời nói vậy.

Từ những đặc điểm liên quan đến giọng nói vừa vang lên đó, Kusla có thể kết luận rằng người trước mặt cậu có khả năng là người sẽ giám sát hai người.

Cho đến khi cậu lách qua lưng Wayland để đi vào. Kusla dụi mắt mình một lần nữa – cảnh tượng này quả thực không thể nào tin nổi.

Người này đang làm cái quái gì ở phân xưởng của giả kim thuật sư chứ?

Đó là một nữ tu nhỏ bé khoách trên mình một cái áo choàng dài đến tận ngón chân cô.

Trên viền áo choàng của cô có hoa văn trang trí của một giáo đường thuộc Kỵ Sĩ Đoàn.

Cô ta không đến đây do nhầm lẫn đâu. Chắc chắn là vậy.

“Cô là ai?”

Wayland là loại người mà nếu như đi cùng nhau, cậu ta sẽ im lặng và để đồng đội của mình xử lí vụ nói chuyện, trong khi cậu thì tập trung vào vấn đề làm thế nào để giết đối phương; nhưng lần này, cậu ta lại thốt lên bằng một giọng không hề có chút thiện chí.

“Tên tôi là Ul Fenesis. Tôi được Kỵ Sĩ Đoàn Cladius cử đến đây.”

Áo choàng của cô ta trắng muốt, cùng với một cái khăn trùm che trên đầu. Cô giống y chang một con búp bê, với đôi mắt ngọc lục bảo và một mái tóc dài cắt mái ngang trán khác thường. Không phải là chưa ai thấy tóc ngả màu thạch cao tuyết hoa, nhưng quả thực là rất hiếm thấy mái tóc màu trắng màu vỏ trứng đặc trưng này.

“Tôi ở đây để trông chừng các anh.”

Fenesis dường như không bị làm cho hoảng sợ bởi Kusla và Wayland. Sau khi tự giới thiệu, cô rời ghế đứng dậy. Còn muốn biết tại sao lại không có chút khác biệt nào về chiều cao dù cô gái đó đứng hay ngồi, thì đơn giản là vì chân cô không thể chạm được đến sàn khi ngồi trên ghế.

Cô ta là một đứa trẻ.

Tuy nhiên, biểu hiện của cô ta không có gì giống như một đứa trẻ ngây thơ cả. Cô ta mang trên mình một bầu không khí nặng nề vô tận.

Giờ thì mình làm gì đây?

Kusla ngoái vai xiên mắt nhìn Wayland, nhưng gương mặt cậu ta vẫn chưa hể biểu lộ cảm xúc gì cả.

“Nếu hai người làm bất cứ điều gì trái với lời dạy của Chúa, tôi sẽ báo cáo lại với cấp trên. Làm ơn, đừng quên những lời dạy của Chúa, đừng phạm vào luật Chúa ban, và đừng bôi nhọ uy tín của Chúa. Các cậu sẽ nhớ kỹ ba điều này khi làm việc cho Kỵ Sĩ Đoàn – cho Chúa.”

Thái độ của cô ta giống hoàn toàn như là đang tổ chức nghi lễ giác ngộ của tu viện, nhưng điều rắc rối là nữ tu trước mặt họ, Fenesis, tỏ ra nghiêm túc một cách trầm trọng.

Cô gái này, trông rõ là thông minh hơn nhiều so với tuổi của mình, làm Kusla nhớ lại về những kẻ cuồng đạo mà cậu thường xuyên chạm mặt.

Đầu óc quá nông cạn, biểu hiện quá chân thành…

Post có thể đã xin lỗi vì điều này. Bộ máy cai trị của Kỵ Sĩ Đoàn không phải là loại vững như đá trên bờ đâu. Nó giống như kiểu công nhận thế giới này có cả thảy ba loại người: những kẻ chỉ biết chiến đấu, những kẻ chỉ biết cầu nguyện, và những kẻ chỉ biết gieo hạt trồng cây.

Những bậc thầy giả kim được Kỵ Sĩ Đoàn thuê là một phần trong số những kẻ chỉ biết chiến đấu, vì về cơ bản họ dính líu đến vấn đề cải tiến vũ khí hay công nghệ để giúp quân đội hạ gục các thành phố. Giả kim thuật sư được coi là “nhóm cung ứng” vì họ cần phải làm ra đủ thứ nguyên liệu.

Trong khi đó, Fenesis rõ ràng là tiên phong cho nhóm chỉ biết cầu nguyện. Với thân phận tu nữ, cô hẳn là một thành viên của đoàn xướng ca thuộc Kỵ Sĩ Đoàn. Đương nhiên, họ khác hẳn so với đoàn của Giáo Hội. Đoàn xướng ca của Giáo Hội chỉ tôn vinh Chúa trong một nhà thờ yên tĩnh nào đó thôi, trong khi những người của Kỵ Sĩ Đoàn đề cao chiến trường đẫm máu khốc liệt kia một cách mù quáng.

Bản chất và niềm tin mà những tổ chức đức tin lập ra khác hẳn so với Đoàn xướng ca của Kỵ Sĩ Đoàn. Cái tổ chức đó rất gớm ghiếc và thèm khát quyền lực. Lực lượng của chúng chỉ chờ thời cơ mà tấn công, với hi vọng cướp được quyền của Chiến Quân Đoàn. Giáo Hội và cả đồng minh của họ đều rất nóng lòng hạ bệ Alan Post, nên một Kỵ Sĩ Cladius bị thương có thể bị bỏ mặc cho lang thang trong một khu rừng đầy rẫy thú săn mồi. Nếu những giả kim thuật sư “được tha” của Kỵ Sĩ Đoàn cũng bị giết, họ sẽ tìm cơ hội chiếm luôn quyền kiểm soát Gulbetty.

Điều làm Kusla cảm thấy rắc rối hơn là, mặc dù Đoàn xướng ca là một bộ phận của Kỵ Sĩ Đoàn Cladius, họ luôn coi các giả kim thuật sư là kẻ thù không đội trời chung.

Người của xướng đoàn thực sự nghĩ rằng họ là những người phản lại chúa, phải bị loại bỏ khỏi vùng đất này.

Họ vẫn chưa tìm ra ai đã giết Thomas.

Điều đó nghĩa là kẻ sát nhân có thể đang ẩn thân trong tổ chức này.

“Và câu trả lời của hai người?”

Fenesis ngẩng cằm lên trong lúc hỏi.

Cậu nhớ lại lúc một nữ tu độc ác gần tu viện nhiều năm trước đã trừng phạt cậu bằng cách quất thẳng roi vào mặt cậu như thế nào.

Với những người kiên định như vậy, ấn tượng đầu tiên là điều mấu chốt.

Trong lúc Kusla cân nhắc, cậu bắt đầu giơ tay ra.

Wayland, người đã đứng im như tượng từ nãy đến giờ, đi tới và giơ tay ra trước.

Một cái bắt tay.

Ngạc nhiên thay, cậu ta dường như cũng có chung một suy nghĩ. Fenesis trong có vẻ ngạc nhiên, nhưng vẫn đưa tay ra để đáp lại. Đây là phản ứng tự nhiên của con người.

Tuy nhiên, tay của Wayland lướt qua tay cô, và sớm chạm vào mục tiêu của nó.

Nữ tu Fenenis trố mắt khi thấy chúng nhận ra đôi bàn tay đang đưa tới của Wayland.

Bàn tay đó nhấn cả năm ngón tay thẳng vào ngực cô bằng theo hướng chuyển động không dời đổi của nó.

“Hm?”

Wayland xoay xoay tay với một vẻ mặt bất mãn, nhìn như thể cậu ta không tìm được thứ mình muốn tìm vậy.

Cậu ta muốn xác nhận lần nữa, và giơ tay còn lại ra.

Fenesis giật mình trước đòn tấn công bất ngờ thứ hai của Wayland và vung tay thẳng vào mặt cậu.

“Humph.”

Wayland cúi người xuống né một cách dễ dàng.

Cô gái không hề bộc lộ chút phản ứng nào – không phải vì cái tát hụt, nhưng đúng hơn là, bởi vì tâm trí cô vẫn chưa thể theo kịp nổi những gì vừa diễ ra. Kusla cũng bị bất ngờ bởi hành động của Wayland.

Cái tát của cô gái dường như là một phản ứng tự nhiên.

Tuy nhiên, vì không thể giữ được thăng bằng bởi cú né đòn quá bất chợt, Fenesis loạng choạng thấy rõ trước khi cô ngã vào ngực Wayland.

“–!”

“Ngay lập tức, cô trông có vẻ đã kiểm soát được cơ thể mình.

Cô cố gắng đẩy tay Wayland ra, hi vọng thoát ra được cái siết tay dơ bẩn của cậu.

Wayland nắm cánh tay mảnh mai của Fenesis, và sự chênh lệch sức mạnh khiến cơ thể cô giật nảy lên.

“Anh đang làm cái trò–”

Sự phản kháng điên cuồng của Fenesis mãnh liệt đến nỗi Kusla có thể phần nào hiểu được cô.

Wayland, người đang nắm cánh tay của nữ tu đè mạnh lên ngực cậu để cố đẩy cậu ra, dùng tay còn lại để bóp lấy mặt cô, trông như thể đang cố bắt cô ngậm miệng lại. Gương mặt nhỏ bẻ bị cả bàn tay cậu bóp lấy, và ánh mắt của Kusla há hốc kinh ngạc chẳng suy nghĩ được gì thêm.

Cứ thế, cậu đẩy đôi mắt trố to của Fenesis lại gần mình, như thể cậu đang muốn nhìn thấu vào trong tâm trí cô.

“Đây là xưởng làm việc của giả kim thuật sư. Nơi này – quá nguy hiểm để cho một đứa trẻ con như cô lăng xăng.”

“Gh– Ugh!”

Wayland trông có vẻ gầy như thế, nhưng cậu ta rèn luyện thân thể tốt hơn nhiều so với bọn thương gia ngoài đường vì nghề luyện kim. Cậu ta vẫn đứng thẳng và vững vàng dù Fenesis có vùng vẫy cỡ nào đi nữa.

Miệng cô bị khóa chặt, và đôi mắt cô không dám nhắm lại một lúc; đó là một nỗi sợ hoàn toàn đến từ bản năng – rằng đầu cô sẽ bị bóp nát.

Wayland chỉ tập trung chằm chằm nhìn vào mắt Fenesis mà không nói lời nào. Cô tiếp tục chống cự, nhưng trước sự khống chế mạnh mẽ của cậu, đến nửa phân cô còn không nhúc nhích được.

Cơ thể cô run lên, hầu như là do sợ chứ không phải chống cự.

“Humph.”

Wayland khịt mũi một tiếng đầy chán chê, và thả tay ra khỏi người cô gái.

Cô ta sượt chân về sau, trố mắt ra, và giữ thế đứng không vững vàng đó được vài giây trước khi ngã xuống sàn, rã rời.

Kusla không cần phải ngước lên nhìn cũng cảm nhận được ánh mắt của Wayland.

“Tôi sẽ vào xưởng một mình. Xử lí phần còn lại đi.”

Cậu ta nhanh chóng bước xuống cầu thang.

Lúc Kusla nhận ra cậu ta quá nhiệt tình thì trễ rồi.

Tuy nhiên, điều cơ bản của cơ bản nhất trong vấn đề giao tiếp với người khác đã được nhấn mạnh một cách tế nhị.

Nếu ai đó làm nạn nhân quá hoảng sợ hay hoàn toàn cảm thấy khó chịu, có lẽ người thứ ba sẽ dễ dàng tiếp cận nạn nhân hơn. Fenesis rõ hẩm hiu khi tự giới thiệu mình là người giám sát, và Kusla thì lại may mắn vì đã không làm gì từ đầu đến giờ.

Wayland đóng vai phản diện, và đùn vai quý nhân rắc rối cho Kusla.

Dù vậy, Wayland vẫn tóm lấy cô gái không chút ngần ngại, và dọa cô không chút nhân từ. Tâm lí của cậu ta đúng là đáng sợ.

Kusla không còn sự lựa chọn nào khác.

Không thể nào thử rồi xin rút lại. Cậu chỉ còn biết thở dài và hành động như nhân vật thứ ba. Vì cô gái đáng thương này đến trên danh nghĩa thành viên của nhóm những người cầu nguyện với trách nhiệm giám sát họ, điều đó có nghĩa là cô ta bị ép phải điều hành phân xưởng, và chuyện này hoàn toàn chẳng dính dáng gì đến nguyện vọng của cô.

Dù có xấu hổ đi nữa, cô ta vẫn sẽ đến đây vào ngày mai, và cả ngày sau đó nữa.

Nếu không hỗ trợ cô ta đàng hoàng, cậu sẽ không thể làm việc tốt được.

Chuyện này không có nghĩa là Kusla không cảm thấy phiền toái trước hoàn cảnh này.

Cậu nhìn cô, rồi tự trách mình vì đã không hành động, rồi khuỵu gối xuống bên cạnh nữ tu bé nhỏ đang im lặng để cho dòng lệ rơi trên má.

Fenesis nức lên một tiếng, rồi lùi lại trong sợ hãi.

“Cô ổn chứ? Đầu của tên đó có hơi kỳ quặc một chút.”

Đó là câu đầu tiên của một lời an ủi dài đến thê lương.

 


Xin chào! Đây là website chính thức của nhóm dịch truyện ValvrareTeam. Mấy đứa cùng sở thích cùng làm với nhau thôi. Light Novel trên đây được chúng tôi dịch hoàn toàn miễn phí ra phiên bản tiếng việt, tuy nhiên chúng tôi không khuyến khích các bạn sao chép lên website khác. Cảm ơn vì đã quan tâm."
© 2017 ValvrareTeam. Mã nguồn sử dụng Wordpress. Máy chủ sử dụng Vultr
Made with in Novel