Tập 2 – Chương 2: Một Thổ Thần khác

Tập 2 – Chương 2: Một Thổ Thần khác
5 (100%) 4 votes

THÔNG BÁO


Tuyển sinh trung cấp chính quy ngành du lịch - Trường HHTC

CHƯƠNG HAI: MỘT THỔ THẦN KHÁC

“Chạy đi! Mau! Đừng quay đầu lại!”

Năm người đàn ông cắm đầu lao đi dưới ánh sáng buổi sớm mờ mịt. Hai người mặc áo tu sĩ, ba người còn lại là hiệp sĩ mặc áo giáp. Văng bụi tứ tung, đôi lúc vấp ngã, những con người này đã cố giữ lấy những mảng cuối cùng của bóng tối.

“Chạy điiiiiii!”

Các hiệp sĩ mặc áo giáp, những số lượng không nhiều. Đi lại những con đường giữa các thành phố vào ban đêm là cực kì nguy hiểm. Những thương gia quanh vùng biên giới luôn di chuyển với ít nhất hai mươi vệ sĩ mũ giáp đầy đủ, nhưng ngay cả vậy họ cũng chỉ di chuyển vào ban ngày. Khi mà đi lại vào ban đêm là không thể tránh khỏi, toàn bộ đoàn thể mang theo đuốc, hát ca, và chơi nhạc cụ với hy vọng rằng sẽ xua đuổi thú dữ.

Tất cả những điều này vốn là lẽ thường với những ai sống tại những vùng hẻo lánh đây. Và tuy nhiên có vẻ những con người này lại đang làm chính xác điều ngược lại. Ban đầu họ đi ngựa, nhưng không hề có lửa, thở thì khẽ hết mức. Và họ đã không chọn một trong những con đường chính, mà một đường nhánh cách hơi xa một chút. Họ không muốn đụng mặt ai khi rời thị trấn, không ai có thể đoán liệu họ đang đi đâu.

Nhưng họ đã phải trả giá đắt cho sự cả gan làm trái tập quán được chấp nhận rộng rãi. Lúc khởi hành họ có mười người—ba tu sĩ, và bảy hiệp sĩ hộ vệ. Họ cưỡi trên bảy con ngựa mà các hiệp sĩ mang đến. Các tu sĩ, không hề có kinh nghiệm cưỡi ngựa, đành ngồi sau ba hiệp sĩ có thân hình nhỏ nhất.

Nhưng chỉ tính từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn, quân số của họ đã vơi đi một nửa. Quá nửa, tính cả ngựa. Thú nuôi thì đã về chầu tổ tiên sớm, khiến họ không còn cách nào khác ngoài đi phương tiện ‘căng hải’. Bỏ ngựa. Bỏ những đồng chí còn thoi thóp. Đó là cách duy nhất để cả nhóm không bị chén sạch.

“Hrgh…!” Một hiệp sĩ bất chợt ngừng chạy. Gã quay đầu lại, ngược hướng con đường họ đi. Hẳn gã đã thấy trước việc sau cùng bản thân sẽ bị ăn thịt khi gục ngã, kiệt sức, và liền quyết định rằng tốt hơn hết là chết với thanh kiếm trong tay, để ít ra còn đâm được một nhát… Nhưng sau lưng gã, chẳng hề có dấu hiệu nào của sinh vật cổ quái mà họ chắc là đang đuổi theo họ.

“Ng-ngươi ở đâu?!” hiệp sĩ hỏi, mắt nổi gân nhìn ngang, liếc dọc. “Mau ra đây đối mặt với ta! Ngoại thú sao?! Chỉ là một con vật phát triển quá mức mà thôi! Một nhát và ngươi sẽ—eeeyaarrrgh!”

Nó tới từ phía trên: một bóng đen từ cành cây trên đầu tóm lấy gã như đại bàng sà xuống bắt con chuột. Vuốt nhọn dường như găm vào họng gã. Rồi bóng đen quay 180 độ, dùng đà cắm xuống để cắt đầu gã lìa khỏi cổ.

Xác chết không đầu đổ sầm xuống đất với máu phun như mạch nước, Bên cạnh, một sinh vật dị hợm, như một con sơn cẩu với chi dài bất thường, nhấc đầu gã đàn ông, vẫn còn nguyên biểu cảm kinh hãi, và đập nó sầm xuống đất.

Một, hai, ba lần… Phát thứ tư, phần gáy toác ra và sọ vỡ nứt, dịch rỉ ra ngoài. Một cái lưỡi dài thè ra từ bộ hàm của sinh vật và khẽ liếm sạch chỗ óc.

Một ngoại thú. Đó là cách những thứ này được gọi. Cái tên không đề cập đến một loài hay sinh vật cụ thể. Ngoại-: kì lạ, khác biệt. Một con vật đã không còn phần ‘con’. Phần nhiều là dữ tợn, quả thực tàn ác, và thích ăn thịt người, đặc biệt là não của họ. Ngoài thú hiểu rằng đó là nơi chứa đựng trí thông minh và sức mạnh tâm linh, và nó ăn càng nhiều, thì càng sớm phát triển năng lực tinh thần.

Do đó, ngoại thú nhắm đến những con người có thể bị tấn công. Không phải vì đó, mà để trở nên thông minh hơn. Đó không phải động lực của một con thú bình thường.

“Benjama…” một hiệp sĩ rên rỉ, gọi tên gã vừa bị đứt đầu.

“Hãy xem chúng ta mất bao nhiêu người rồi…!” một hiệp sĩ khác, Clifton Arnold, đau xót nói.

“Chúng ta chưa thể bỏ cuộc được.”

“Milord Bartok?”

“Chẳng phải chúng ta nói rằng vinh dự lớn nhất của một hiệp sĩ là tiên phong và hộ vệ sao? Bảo vệ người khác là sứ mạng của chúng ta! Đi đi, Arnold, hãy chăm sóc những tu sĩ!” Rồi hiệp sĩ tên Bartok đứng lại và rút kiếm ra.

Lời lẽ của gã hẳn đã thuyết phục hơn nếu được nói ngay từ đầu, trước khi họ bỏ mặc các đồng chí tới chết. Nhưng khả năng là trong hoàn cảnh đó không ai chỉ ra được điều này. Những con vật kỳ dị thoắt ẩn thoắt hiện hai bên đường.

Tổng cộng ba con tất cả. Chẳng có hy vọng gì đánh lại chúng. Chỉ một con thôi cũng đủ áp đảo một người thường, chứ đừng nói ba con đã ăn thịt vài hiệp sĩ và tu sĩ. Thế sẽ khiến chúng thông minh hơn nhiều, và là một mối nguy hại lớn hơn. Sức mạnh tâm linh ngoại thú nhận được từ việc ăn thịt người khiến chúng cứng cáp hơn về tổng thể.

“Milord Bartok—Công thành chiến toại!”

Khi đã chắc Clifton và các tu sĩ tiếp tục chạy trở lại, hiệp sĩ Bartok thủ kiếm. Gã sẽ câu giờ cho họ. Có khi gã có thể kéo một con quái theo mình. Ngoại thú có thịt như các sinh vật sống khác. Nếu cắt phải, chúng sẽ bị thương; đúng trúng đích là có thể giết được chúng. Cơ mà…

Hả?

Bartok cau mày. Những con thú không tấn công. Thực ra, một con dường như đang từ từ lùi lại. Có thể nào khi thế áp đảo trong quyết tâm của Bartok đã dọa được chúng?

Chuyệni.. gì… đang xảy ra thế này…?

Bartok đã tuổi bốn lăm, đã qua thời hoàng kim của một hiệp sĩ. Thực sự là một bô lão trong thứ bậc. Nhưng thế tức là ông có nhiều kinh nghiệm chiến trường hơn hẳn so với sức trẻ như Clifton Arnold. Nó đã cho ông vài kĩ năng để cảm nhận điều đang xảy ra trong những tình huống như thế này.

Nhưng hiện tại, cảm thức bị lẫn lộn. Có ba con ngoại thú trước mặt ông; thế là đã quá rõ ràng. Thế nhưng cái cảm nhận sâu sắc dường như bao trùm hết cả này là gì? Phải chăng ông đã bị bao vây bởi một đám ngoại thú, hoặc thú hoan, mà không hề nhận thức được? Nhưng những gì ông đang cảm nhận… khác hẳn so với hơi xông ra từ những sinh vật trước mặt. Nó thiếu hẳn một sự hôi thối—nhất định. Bartok không có từ ngữ để diễn đạt nó. Nó là hào quang, lại không phải là hào quang, khẽ bao trùm tất cả mọi thứ.

Như thể là… đang ở trong dạ dày… của một sinh vật khổng lồ vậy…

Ngay khi vừa nghĩ vậy thì ông hành động khi mà một phần của hào quang dần mạch lạc. Bartok, nãy giờ đứng lo ngại thủ thế, vung kiếm lên gần như trong vô thức. Ông không nhắm vào con ngoại thú trước mặt, mà vung thẳng về phía ông cảm thận hào quang hội tụ.

Song chẳng trúng thứ gì. Ông đã tưởng tượng sao? Không thể nào…

“Cái gì thế này…?”

Ngay khi ông thu kiếm lại, một sợi chỉ mảnh gắn liền với nó. Nhìn kĩ hơn, thì là dây leo.

Chuyện gì đang xảy ra thế này? Có khi nào ông đã chỉ đơn giản là chém vào cây.

Thình lình, ông nhận ra tiếng hét mình nghe tới từ con ngoại thú. Bartok nhìn lại về phía trước, và thấy sinh vật vướng vào dây leo, tương tự như cái mắc ở thanh kiếm. Nói vướng còn là quá nhẹ so với những gì đang diễn ra. Dây leo siết chặt vào thịt sinh vật, và ông có thể nghe thấy tiếng crắc sắc lẻm của xương vỡ.

“Milord Bartok!” Giọng Clifton. Lẽ ra giờ này gã phải đi rồi. Bartok quay lại nhìn nhà truyền giáo trẻ đang chạy tới chỗ mình.

“Arnold! Chuyện gì xảy ra với các tu sĩ rồi?”

“Họ ở kia kìa.” Bartok nhìn về hướng Clifton chỉ, và quả thực, hai tu sĩ còn sống nhăn đang đứng đó. Khuôn mặt họ bị che khuất bởi khoảng cách, nhưng có vẻ là khá sốc. Clifton cũng có biểu cảm tương tự, kinh ngạc hòa lẫn với khiếp đảm.

Và cuối cùng…

Có tiếng vỡ, và cả ba con ngoại thú lăn đùng ra, sức lực tiêu tán. Một khúc xương vỡ hẳn cuối cùng đã xuyên qua vài nội tạng hiểm. Máu tuôn ra từ mồm chúng. Và rồi “sự hấp thụ” bắt đầu.

“Chúng đang… đang…” Clifton lẩm bẩm, run rẩy, như bị mê sảng.

Và cũng chẳng lạ gì cả. Đến cả Bartok cũng chưa từng chứng kiến một cảnh tượng ngứa mắt như vậy. Dây leo và dây thường xuân di chuyển như rắn, như giun đất, chầm chậm ăn vào cơ thể của ngoại thú. Vào mồm, vào tai, vào mũi. Rồi vào con mắt còn mở, đẩy qua cả nhãn cầu. Như thể thực vật đang bạo hành động vật.

Chưa hết, xác của những sinh vật héo mòn đi trước mắt các hiệp sĩ. Đến cả máu ở mồm cũng ngừng sủi bọt, và bị hút cạn, như chúng bị chết đói. Tất cả đều bị hút sạch—máu, dịch cơ thể.

“Hẳn là… Chúng ta đang mơ,” Bartok than van.

Cuối cùng, khi những cái xác đã bị hút khô, chỉ còn một nửa kích cỡ ban đầu, chúng được mang đi đâu đó, không một tiếng động. Dường như những dây leo cứ thế nhấc chúng đi.

Nhưng thứ gì đó trông như đang thế chỗ. Thứ gì đó chầm chậm tiến vào từ bóng tối sâu thẳm giữa những cây cối.

“Ng-Ngươi là ai?!”

Có vẻ là một cô bé con. Tuổi, chắc là mười. Khuôn mặt búp măng ngây thơ vô tội. Trông ngọt phết; nếu Bartok bắt gặp cô trên phố ở thị trấn, thì đã thật khó để không nở một nụ cười.

Nhưng giờ thì ông, Clifton, và các tu sĩ chỉ có thể nhìn cô với khuôn mặt đầy sợ hãi. Mỗi người đều biết rằng cô không chỉ là một cô bé con.

Cô mặc một chiếc áo choàng trắng chưa ai trong số họ từng thấy; nó không phải đồ bình thường, hay quần áo để làm ruộng. Gấu áo dài, cũng như tay áo, và nó không bó chặt chỗ nào cả, mà lòng thòng trên người cô. Bắt mắt hơn cả là những viền châu sa dọc theo các cạnh, như để trang trí. Chiếc áo chẳng hề có thứ gì như cúc. Nó rất kì lạ, nhưng đồng thời, bằng cách nào đó, rất đẹp đẽ.

Rồi chưa kể bốn “chiếc sừng” mọc trên đầu cô gái. Hai chiếc nhỏ hé nở ở hai bên trán, và ngay sau chúng, gần qua mang tai, mọc hai chiếc lớn hơn, uốn thành nhánh như sừng hươu cao cổ. Có thể chúng chỉ đơn thuần là những đồ trang trí được làm trông giống sừng, tất nhiên, nhưng mái tóc mà chúng luồn vào rõ ràng không phải của con người. Nó là cỏ tươi màu xanh lá cây sáng.

“Ngươi là ai? Ngươi là thứ gì?!” Bartok hỏi. Cô gái chớp mắt và nhìn ông như thể chỉ vừa mới nhận ra ông ở đó.

Bằng giọng điềm tĩnh, cô đáp lại bằng câu hỏi của mình: “Ngươi là thứ sinh vật gì vậy?” Vừa nói, cô vừa chỉ Bartok bằng cái que cầm trong tay phải. Nó, cũng, rất độc. Lá cây mọc ở ngọn, như vừa được ngắt ra từ cái cây nào đó. Nhưng mỗi chiếc lá có màu khác nhau, đủ cả bảy sắc cầu vồng, và đầu còn lại là một chiếc nhẫn vàng.

“Ngươi có ý đồ gì khi phạm vào lãnh địa của ta?” Khi hỏi câu thứ hai này, cô bắt đầu tiếp cận họ bằng những bước không hề cho thấy trọng lượng.

Bartok và những người khác không thể cất tiếng, mà chỉ nhìn cô bằng sự kinh ngạc khổ sở. Lúc bước, có gì đó sáng lên ở những chỗ cô đặt chân. Hoa. Hoa đủ màu sắc, và đã nở rộ. Chúng chưa ở đó một khắc trước, mà giờ mọc tự nhiên như thể vốn đã ở đó. Chúng đâm chồi nảy lộc sau lưng cô, một đoàn diễu hành hoa nở rộ theo từng bước cô cất.

Chuyện quái gì đang có thể xảy ra được cơ chứ?

Ta—Ta không dám tin, Bartok nghĩ, nhưng chẳng có nhẽ đây là…?

Một tu sĩ quỳ gối và nói: “Ch-Chúng tôi là những người có lí do để vội vàng băng qua mảnh đất này. Phải chăng ngài—thân phận đầy tôn kính của ngài—là thổ thần của nơi này?”

Không một lời, cô gái quay sang nhìn tu sĩ, mái tóc xanh khẽ cuộn. Thật là một cử chỉ đơn sơ, vậy mà vẫn như thể đang nhảy múa.

“Tên ta được gọi là Yggdra.” Chất giọng trang nghiêm. “Và tên của thân cận ta đứng trước ngươi, Ulrike.”

“Một thổ thần… có tên…?” Clifton thở hắn, kinh ngạc.

Thổ thần và á thần hiếm khi có tên. Hoặc ít ra, chúng cũng hiếm khi giới thiệu bản thân mình. Khi mà có lẽ một sinh vật đóng vai trò làm “lõi” của nó, bản thân thổ thần là một sự kết dính của ngoài thú và thú hoang thấm nhuần thiên tính, tức là khái niệm “cá thể” của nó khác xa so với con người. Hoặc là người ta nói vậy. Một vài thổ thần có tên thật, nhưng thường là được chế ra từ những người thờ phụng chúng, để cho tiện.

Và đây, không chỉ bản thân thần, mà còn…

“Một thân cận cũng có tên, sao?”

“Bọn ta là nhiều, và một. Một, và nhiều. Sứ giả Ulrike là một tổ tiên và thuộc vào những thân cận lớn tuổi nhất của bọn ta.”

Bartok và Clifton nhìn nhau, thộn mặt. Họ không hiểu hết những gì cô ấy đang nói, cơ mà…

“Đây là…”

Thổ thần của thị trấn kế bên, người mà Bartok cùng các đồng đội đã bất chấp nguy hiểm ban đêm để gặp. Họ chỉ nghe được những tin đồn thất thiệt, và đến cả đám tu sĩ cùng không biết vị thần này trông thế nào. Nhưng giờ thì, nó đang đứng trước họ đây.

Trong căn phòng lớn nhất tại “thánh địa” của Yukinari, trên sàn.

Tấm bản đồ da cừu trải rộng, Yukinari và mấy người còn lại ngồi trên sàn vây quanh nó. Họ không dùng bàn ghế vì cùng một lí do lúc ở dinh thự Schillings—đơn giản là không có bản đủ to để đặt bản đồ.

“Vậy là chúng ta đang tìm một nơi lân cận, lí tưởng nhất là một tới hai ngày đường, với mùa vụ tương đối ổn định.” Yukinari ngước nhìn từ bản đồ lên Fiona, đang ngồi đối diện cậu. “Và nếu họ có nền kinh tế lớn, thì càng tốt. Tôi biết hy vọng thế là hơi nhiều, nhưng liệu quanh đây có nơi nào như vậy không, Fiona?”

“Hừm…” Fiona cau mày nhìn bản đồ.

Tình cờ thay, Yukinari sở hữu tấm bản đồ từ hồi cậu trộm nó khi bỏ chạy khỏi Giáo Hội ở thủ đô. Cậu cuỗm nó để còn biết đi đường nào, thay vì cứ cắm đầu chạy bừa. Có vẻ mục đích ban đầu của nó là để xác định tiền thuế, và nó bao quát một vùng khá rộng của kinh đô, với thủ đô nằm chính giữa. Khả năng là có ít bản đồ khác cho thấy một khu vực lớn như vậy tồn tại. Vấn đề duy nhất chỉ là trải hết cái thứ này ra tốn kha khá diện tích.

“Tôi nghĩ thị trấn sung túc nhất quanh đây chắc là… Rostruch, phỏng.” Fiona tì vào chỗ, mà theo góc nhìn của Yukinari, là bên phải của bản đồ, gần vị trí Friedland.

“Phỏng?” Câu trả lời của Fiona có bao gồm một nét không chắc chắn.

Lúc này, Yukinari và mấy người còn lại đang cố tìm một đối tác giao thương. Hiển nhiên là, mọi giao dịch sử dụng những con đường chính đòi hỏi sự cho phép của thủ đô, nhưng đây kiểu như là một bí mật thương mại, mà không quá nhấn mạnh vào phần bí mật. Họ muốn một nơi gần, một nơi có thể giao thương mà không bị thủ đô phát hiện; lí tưởng nhất, một nơi giàu cây trồng và chăn nuôi hơn Friedland.

“Muốn tới đó thì phải đi đường dài bằng cả ngọn núi. Nếu đi ngựa dọc theo đường chính, nghe nói chỉ mất nửa ngày, nhưng nếu đi bộ, thì tôi cho là mất ít nhất hai ngày lận.” Fiona đưa ngón tay ngang bản đồ cho tới khi dừng lại tại một điểm. “Rostruch được cho là ở ngay quanh đây. Đường ngắn nhất là qua những ngọn núi này, nhưng là một quãng đường hiểm, nên có vẻ là người ta hay đi đường vòng, như thế n—“

“Fiona?” Yukinari ngắt lời. “Nãy giờ tôi toàn nghe ‘được cho là’ với ‘có vẻ’ thôi vậy. Nghe như kiểu đoán mò ấy.”

“Thì đúng thế còn gì.” Fiona nhún vai. “Gần như chẳng có ai—thực ra, không một ai cả—từng đi từ Friedland tới Rostruch, hoặc ngược lại. Thị trấn hiếm khi giao thương. Nhìn bề ngoài, nó được bao bọc bởi đồng bằng, nhưng những đồng bằng ấy lại được bao quanh bởi núi, và có cả một đầm lầy chắn đường nữa. Tính ra phải gặp rất nhiều trắc trở để tới được đó. Thật lòng mà nói, tôi thậm chí còn chẳng biết nó tồn tại cho tới khi tới thủ đô.”

“Vậy cô đang bảo là nó không thực sự có mối liên hệ với các khu vực xung quanh. Nhỡ họ là những người cô lập, hoặc kiểu sống khép kín. Ý tôi là, biết đâu Rostruch chỉ đơn giản là chẳng muốn giao thương với ai hết thì sao?”

“Tôi chưa từng nghe ai nói vậy cả…”

Ít ra thì, những thương nhân ghé thăm Friedland định kì có vẻ cũng dừng chân ở Rostruch. Dường như nó là một nơi giàu có để kinh doanh hơn Friedland, mặc dù có vẻ các thương gia chỉ ghé thăm nơi đó vài chuyến một lần.

Hình như vùng Rostruch sản xuất khá đủ để tự cung, và có lẽ chưa từng phải suy ngẫm nghiêm túc về việc giao thương với phần còn lại của thế giới. Vậy tức là, tất nhiên, nó sẽ không nhận được thông tin về sự phát triển văn hóa hoặc công nghệ, nhưng chừng nào còn không biết gì về thế giới bên ngoài, con người ở đó sẽ chẳng biết là họ đang thiếu gì.

“Tuy không phải đảo, nhưng phần nhiều nó giống Nhật Bản hồi tự tách mình khỏi phần còn lại của thế giới vào thế kỉ mười bảy…”

Fiona nhanh chóng nhận ra từ lạ. “Nhật…bản…? Có phải tên một thị trấn nào đó không?”

“Ừ, đại loại thế.” Cố giải thích rằng nó ở một thế giới khác chỉ tổ mang lại rắc rối, nên Yukinari dừng lại ở đó. Thay vào đó, cậu quay trở lại vấn đề trước mắt: “Được rồi, để bắt đầu chúng ta sẽ thiết lập quan hệ thương mại thường xuyên với cái chỗ Rostruch này. Nếu thuận buồm xuôi gió, thì có khi những cơ hội mới sẽ mở ra. Có lẽ chúng ta nên tự đi và tận mắt chứng kiến chỗ đó. Không biết mang cái gì ở Friedland đi thì họ sẽ thích nhỉ…”

Một câu hỏi về giá trị. Cùng một vật nhưng sẽ có giá trị khác nhau ở từng nơi. Hoàn cảnh tốt nhất đó là Friedland có thứ gì đó được coi là bất thường ở Rostruch. Nhưng nếu không, Yukinari luôn có thể dùng sức mạnh “thiên thần” của mình để tạo ra gì đó. Chắc chắn là hiệu quả hơn việc chỉ đơn thuần tạo ra nguồn cung thực phẩm.

Nhưng rồi Fiona lên tiếng, vẻ sốc hiện rõ trên mặt. “Yukinari? Bộ anh không tính đi một mình đấy chứ?”

“À, thì, đó chính là điều tôi đang nghĩ…” Cậu có thể gửi đại diện, nhưng tự làm thì sẽ nhanh hơn nhiều.

“Rostruch—Nghe nói khu vực đó có thổ thần của riêng nó. Không rõ cụ thể, nhưng chắc là khá mạnh đấy. Nếu như anh, một vị thần khác, xuất hiện ở đó, thì nghĩ xem chuyện gì sẽ xảy ra nào?”

“Ý cô là sao? Bộ cô nghĩ nó sẽ coi tôi là kẻ địch và tấn công à?”

“Một thổ thần mới—thường là cựu á thần—tiếp quản khi thần cũ bị giết.” Một thổ thần, ràng buộc tâm linh với mảnh đất, điển hình bất tử. Chưa kể, bản ngã của nó sẽ dần dần suy yếu, cho đến khi hoàn toàn trở thành một phần của đất mẹ—một hiện tượng tự nhiên thiết yếu. Nhưng bất kể chuyện gì xảy ra, nó sẽ không già đi và chết như những sinh vật hạ phàm. Đó là lí do tại sao những á thần thèm khát địa vị thần thánh thường tấn công các thổ thần hiện có.

“Nhưng tôi đâu phải á thần,” Yukinari nói. Người Friedland gọi cậu là thần cho tiện, nhưng cậu là thứ gì đó khác so với cả á thần lẫn thổ thần của thế giới này.

“Nhưng các á thần cũng theo đuổi anh như các thổ thần khác, phải không?” Fiona nói.

“Thì… đúng.” Yukinari nhăn mặt nhớ lại sinh vật giống chim lúc trước. “Tôi tự hỏi điều gì đã khiến chúng nghĩ về tôi như thế.”

“Có lẽ là… do sức mạnh từ… năng lực tâm linh của anh.” Giờ thì Dasa góp lời. “Của anh… đủ mạnh để được gọi là… thần đấy, Yuki.”

“Sức mạnh tâm linh, hử? Thú thật là, anh chưa bao giờ thực sự hiểu điều đó.”

Sức mạnh tái cấu trúc vật lí của Yukinari, tương tự là khả năng điều khiển môi trường của thổ thần, được cho là sẩn phẩm của thứ năng lực tâm linh này. Nó cũng là thứ được cho là tích trữ trong dầu thánh làm tượng thánh bảo hộ của Giáo Hội Harris chuyển động. Nhưng Yukinari chưa bao giờ trực tiếp cảm nhận sức mạnh này bằng chính giác quan của mình. Chẳng hạn nhiệt và điện, đều là những thứ con người có thể hiểu và cảm nhận, nhưng sức mạnh tâm linh thì khác. Đó là lí do tại sao việc bảo rằng cậu có sức mạnh tâm linh tuyệt vời khiến cậu không hiểu mô tê gì cho lắm.

“Dù sao thì… Chúng ta sẽ tìm ra cách nào đó để cho qua vụ đó thôi.” Về vấn đề đó, Yukinari có thể cứ thế đánh bại thổ thần kia. Nhưng làm vậy sẽ loại bỏ sức mạnh của vị thần ấy, cũng như sức mạnh giúp đỡ Rostruch. Thị trấn sẽ bị đẩy vào nghèo đói; nói cách khác, nó sẽ đi ngược hoàn toàn so với mục đích của cậu.

Thậm chí ở Friedland, thổ thần cũng không có liên quan nhiều tới cuộc sống thường nhật của người dân cho lắm. Nó sẽ chỉ xuất hiện vài năm một lần cho nghi lễ hiến tế, còn nếu không thì sẽ bay mất tăm hơi. Có vẻ là, loại hành vi này khá phổ biến. Yukinari đang giả định rằng có khả năng họ có thể tiến hành giao thương mà chẳng bao giờ đụng mặt thần địa phương.

“Nhưng mà Yukinari.” Fiona nheo mắt nhìn Berta. Cô gái kia thì nãy giờ vẫn nhìn vô định vào khoảng không, có lẽ vì không thể theo kịp cuộc trò chuyện. “Đa phần thổ thần đều muốn vật tế. Anh đã giết thần của chúng tôi khi tình cờ bắt gặp nghi lễ hiến tế, phải không?”

Quả thực Yukinari đã giết thổ thần của Friedland nhằm giải cứu Berta, người lẽ ra đã bị tế cho nó.

“Thì… Chúng ta sẽ vượt qua cây cầu đó khi bắt gặp thôi. Nếu bắt gặp phải nó.” Yukinari thở dài. “Cứ ngồi đây tưởng tượng ra toàn chuyện xấu cũng chẳng giúp gì đâu. Chúng ta phải đi và cố có cho được cảm nhận về khu vực—và về Rostruch. Tôi sẽ cố hết sức không để bị thổ thần phát hiện.”

“…Thôi được rồi.” Fiona cũng thở dài, có lẽ nhận ra không có cách nào cản Yukinari được. Cô bèn rút lui.

“Chuyến đầu tiên này, tôi và Dasa sẽ đi. Fiona, tôi muốn cô tập trung vào công việc tại đây ở thị trấn. Berta, hãy giúp trong khả năng của mình. Và…Vả lại, còn cơ hội nào tốt hơn cho mấy con á thần thèm khát lúc tôi không ở đây cơ chứ? Nếu có một vài vị giả thần thèm lên đời xuất hiện, cứ mặc kệ và đừng cố đối đầu với nó.”

Người ta nói rằng quá trình thiết lập ràng buộc tâm linh với mảnh đất cần thiết để á thần trở thành thổ thần mất phải mất vài ngày không bị gián đoạn.

“Để cho an toàn thôi, tôi sẽ làm ba khẩu Durandall và để chúng ở đây. Nếu có gì xảy ra, cô có thể dùng cuhnsg.”

Với một khẩu súng, thì việc một con người giết á thần hay thậm chí là thổ thần không phải là bất khả thi. Luyện tập bắn tỉa là cần thiết, dĩ nhiên, nhưng một á thần đủ lớn để thách thức vị trí của thổ thần không phải dạng vừa. Nếu con người được trang bị vũ khí mạnh mẽ, nó sẽ đủ khôn để nghĩ đi nghĩ lại trước khi tấn công họ. Theo quan điểm đó, vũ khí trên tay với những vụ nổ lớn là một hình đơn giản, hiệu quả để dọa nạt.

“Được,” Fiona nói. “Và tôi sẽ viết cho anh một bức thư giới thiệu gửi đến thị trưởng Rostruch. Không rõ nó sẽ giúp đến đâu, nhưng chắc cũng chẳng thiệt gì.”

“Nghe ổn đấy.” Yukinari gật đầu, cuộn bản đồ lại. Dasa giúp cậu.

“Đã… lâu rồi mới chỉ có… hai ta,” cô nói nhỏ.

“Em vừa nói gì cơ?” cậu hỏi, vừa không nghe rõ cho lắm.

Trong một thoáng, Dasa mím môi như thể sắp bĩu. Nhưng rồi cô nói, “Không có gì,” và lắc đầu,

Đại Giáo Đường tràn ngập đủ mọi loại người: già trẻ, trai gái. Niềm đam mê phả vào không khí từ âm thanh trang nghiêm của đại phong cầm và những bản hòa điệu thánh ca lan tỏa của các tín đồ. Chốn ngập nhiều người hơn lượng nó vốn được xây để chứa. Họ bị nhồi nhét cả vào, với hy vọng rằng những ai muốn đều có thể tham dự.

Nhưng họ không ở đó chỉ vì khao khát thờ cúng. Còn có kỳ vọng từ phía những người làm dịch vụ rằng tất cả hơi nóng các tín đồ phả ra sẽ bắt đầu làm mờ đi các giác quan của họ.

Con người là sinh vật sống thành đàn. Đặt chúng vào chúng một không gian nhỏ hẹp, và chúng sẽ dần mất đi tính cá nhân. Việc nghe theo, và bị cuốn vào quan điểm của những người ở chung một chỗ trở nên dễ dàng hơn.

Những lời cầu nguyện từ môi của tất cả mọi người cuồn cuộn trong Giáo Đường, liên tục.

“Mm.”

Từ dãy đứng trên tầng hai, ai đó nhìn xuống tất cả những điều này là phát ra âm thanh hài lòng. Một người đàn ông chỉ vừa bước vào tuổi già. Lão có đường nét nhăn nheo và trông như thuộc loại khó tính. Lão khoác khăn trắng ngoài tấm thân gầy guộc, và ngoài ra, một chiếc áo thầy tu có phần thêu thể hiện thứ bậc. Nó cho thấy rằng lão đứng trên đỉnh của Giáo Đường này—thực ra, là cả Giáo Hội Harris.

Justin Chambers. Dominus Doctrinae đương nhiệm của Giáo Hội Chân Chính Harris và người đã một tay sắp đặt sự cải giáo của các vùng hẻo lánh trong thời gian làm Hồng Y Giáo Chủ. Lão đã nhận được sự hoan nghênh lớn lao từ việc truyền bá giáo lí của giáo hội đến tận vùng biên giới chỉ bằng một cú vẩy, và sau khi Dominus tiền nhiệm mất, Chambers đã đánh bại một số kẻ thách thức để trở thành thủ lĩnh mới.

Ở các cấp cao hơn trong hệ thống phân cấp của Giáo Hội, lão được coi là có tham vọng vô biên, và một số người thậm chí còn cho rằng mặc cho vẻ ngoài hiếu học của lão, lão lại thiên về bạo lực vũ trang. Quả thực nhiều kế hoạch mà lão đã tiến hành, bao gồm mở rộng Đoàn Viễn Chinh Khai Hóa và đảm bảo rằng tất cả các lữ đoàn của Lệnh Truyền Giáo đều được trang bị ăn mặc đầy đủ, chưa kể Tòa Án Dị Giáo, đều có dính dáng đến không ít hơn một vệt máu.

“Đúng rồi. Cầu nguyện đi. Cầu nguyện là sức mạnh.” Nhìn thẳng vào đức tin nhiệt thành cầu khẩn, Justin mỉm cười theo kiểu suýt chút nữa có thể được gọi là dịu dàng. “Và sức mạnh là bàn đạp cho phép lạ.” Chẳng có ai trên dãy đứng để nghe lão nói. Justin quay gót và bắt đầu bước dài, dài xuống hành lang một mình.

Nơi này được gắn liền với Đại Thánh Đường, nhưng các tín đồ thông thường không được phép vào bên trong. Nơi đây chứa đựng vô vàn sự thật mà quần chúng chưa được gột rửa không cần phải biết. Ngay cả các tu sĩ dưới một thứ hạng nhất định cũng không được phép vào. Và ở đó…

“Đức Thánh Cha, Dominus Doctrinae.”

Một phụ nữ trẻ bất ngờ đi cùng Justin khi lão chầm chậm bước dọc hành lang. Ả ta có lẽ tầm quá tuổi đôi mươi một chút. Mái tóc đỏ dài buộc rủ sang vai trái. Quần áo ả mặc gần như đen toàn bộ, nhưng lộ ra phần nhiều khuôn ngực, để lại ấn tượng của gái đứng đường. Ả ta dường như hoàn toàn ở sai chỗ. Một mặt ả đeo chiếc găng tay trắng dài đến tận khuỷu tay, và trên lưng là một loại đường nét tròn, cùng với vài chữ cái và thiết kế phức tạp.

Những nét sắc được trang điểm đậm, khiến ngoại hình quyến rũ—thậm chí mê hoặc. Nhưng một sự u ám nhất định có thể được phát hiện trong biểu hiện của ả.

“Jaroslava…” Justin nhìn thoáng qua mụ đàn bà bên cạnh.

Jaroslava Vernak. Đó là tên ả, nhưng ít người nói ra. Ả là một người đáng lẽ không tồn tại trong Giáo Hội, và nhiều linh mục và các thầy cầm nến, lỡ may phát hiện ra, sẽ làm như thể chẳng có ai ở đó. Ai ai trong các cấp trên của Giáo Hội cũng đều biết rằng nếu họ thu hút sự chú ý của Dominus Doctrinae bằng cách lên tiếng, họ có thể mất không chỉ vị trí, mà còn cả tính mạng của mình.

Nên họ không nói gì cả. Ngay cả khi một nhà giả kim, kẻ dị giáo, bước lại hiên ngang trong Giáo Hội. Ngay cả khi ả ta, theo cách hiểu trọng đại nhất, là tình nhân của Đức Thánh Cha.

“Kết quả?”

“Hoàn hảo. Như mọi khi.”

Một nhà giả kim và đầu não của Giáo Hội Harris, trò chuyện trong lúc đi dọc hành lang. Các tín đồ dốt nát thường tình hẳn sẽ cười khúc khích khi trông thấy.

“Còn thiết bị lưu thông dầu thánh? Bất thường gì không?”

“Không gì hết.”

“Xuất sắc. Cứ tiếp tục mang cho ta những tin như vậy.”

Họ bắt đầu đi xuống một cầu thang dài ở cuối hành lang. Họ đi qua tầng trệt, rồi thấp xuống, vào một tầng hầm. Ở cuối cầu thang, lối đi bị chặn bởi một cánh cửa sắt dày. Nó chỉ có thể được mở bằng cách nhập mười ba chữ số, những con số hiện chỉ mình Justin và Jaroslava biết. Còn một người nữa biết chúng, nhưng đã mất—tiền nhân của Justin.

Không nói gì, họ mở khóa cửa và đẩy nó.

Một cảnh tượng kỳ quái chào đón họ. Những ai không có kiến thức và giáo dục thích hợp hẳn nhiên sẽ chẳng thể biết nơi này dùng để làm gì. Ngay cả những người biết chút ít về thế giới có khi cũng sẽ chỉ đơn giản cho rằng nó là một nhà máy chưng cất rượu lớn.

Hàng chục ống dẫn bò dọc các bức tường. Chúng kết nối máy móc được gắn với nhiều ống kim loại hơn. Dễ thấy các đòn bẩy van và máy bơm quá khổ, cùng với một bộ lọc hình trụ khổng lồ.

“’Nhà sáng lập’ đáng kính của chúng ta thế nào?”

“Dĩ nhiên, không có gì đáng lo ngại. Với khả năng của tôi, sẽ chẳng có vấn đề gì với thứ đó cả.” Jaroslava mỉm cười.

“Xin đừng gọi ngài ấy là ‘thứ đó.’ Lỡ đâu ngài nghe được thì sao?” Justin nheo mắt. “Đó không phải thiên thần bình thường. Ngài ấy là nhà sáng lập tôn kính của chúng ta.”

“… Vâng. Chắc rồi. Xin thứ lỗi.”

Hai người họ băng qua khu rừng đường và ống để đứng trước một khối trụ thủy tinh khổng lồ đặt sâu trong phòng. Mọi ống dẫn vượt qua tường và trần và sàn để tới được nó.

Một người trôi nổi bên trong. Ống trụ chứa đầy dầu thánh đỏ, vì vậy không thể nhìn ra chi tiết của thân hình bên trong. Nhưng rõ ràng là một người nhỏ bé—một người đàn ông, xét theo đường nét thoáng thấy qua chất lỏng. Nhưng không thể nói hơn được nữa.

Justin nhìn chằm chằm người đang trôi nổi trong thứ màu đỏ máu. “Hãy nhận lời cảm ơn của ta, Jaroslava. Cựu Dominus và tất cả những thân cận với ngài đều đột ngột qua đời… Có những tin đồn về ‘người sáng lập,’ nhưng lại không một tài liệu ghi chép tham khảo. Một mình ta sẽ chẳng bao giờ có thể xử lí cỗ quan tài thiêng liêng của ngài bằng kiến thức và kĩ năng của mình. Và dĩ nhiên, ta khó lòng có thể thực hiện một cuộc truy tìm mở rộng thông qua Giáo Hội và hơn nữa với hy vọng tìm được một người có trình độ phù hợp.”

“Tất nhiên rồi. Quả là vậy.” Ả cười khiêm tốn.

“Cô có thể tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta công khai, hoặc thậm chí nghĩ đến việc công khai, rằng nguồn gốc tất cả các phép màu của chúng ta, ngọn nguồn cho sức mạnh của Giáo Hội Chân Chính Harris, đều từ sinh vật hình người (homunculus) này mà ra không? Một tính mệnh nhân tạo chẳng ai rõ nguồn gốc? Lần đầu trông thấy nó, ngay cả ta cũng bị sốc.”

Jaroslava liếm môi đầy quyến rũ. “Có rất nhiều điều được rút ra về giả thuật kim từ việc khám nghiệm cỗ quan tài này và ‘người sáng lập’ của ngài. Quả thực phi thường. Em phải là người cảm ơn ngài mới đúng.”

Justin đưa mắt từ thân hình trôi nổi sang Jaroslava. “Và một ngày nào đó ta sẽ cho phép cô. Ta kỳ vọng nhiều ở cô đấy—hãy chắc là kiểm tra cỗ quan tài thiêng liêng đấy

“Vâng… Tuân lệnh ngài, thưa Đức Thánh Cha.” Jaroslava cúi đầu cung kính, trước tiên là Justin, rồi tới người trôi nổi trong bể kính.

Họ đã rời Friedland nửa ngày trước. Yukinari và Dasa muốn thoát khỏi những con đường núi khó hiểu và đến khu vực xung quanh Rostruch càng sớm càng tốt.

“Nhìn ngươi đi kìa,” Yukinari nói, vỗ vỗ phương tiện rầm rì dưới người cậu. Nó là một con ngựa sắt—từ gần nhất trong từ vựng của Yukinari có lẽ là xe máy. Quả thực có hai bánh ở cả trước lẫn sau, để giúp ổn định, vì vậy theo lẽ đó chính xác hơn nó có thể được gọi là xe buggy. Song cấu trúc bóng bẩy đã cho nó diện mạo của một chiếc xe máy.

Yukinari đặt tên nó là Sleipnir, theo tên thần mã của thần thoại Bắc Âu. Cấu trúc tổng thể khá thô, chỉ là một cỗ máy có bốn bánh, nên có lẽ đó là một cái tên tuyệt xét từ việc nó đã đưa Yukinari và Dasa đi xa đến thế trong nửa ngày chỉ bằng sức mạnh như vậy. Một cú đụng ổ gà.

“Em mắc… ói…” Dasa rên rỉ từ phía sau, nơi cô nàng đang bám chặt Yukinari.

“Ừm, xin lỗi,” Yukinari nói, đoạn dừng Sleipnir chết bánh. “Chuyến đi không bám đường đó có hơi đột ngột. Lẽ ra anh nên chú ý hơn chút nữa đến hệ thống giảm xóc.”

Yukinari trèo xuống, rồi đưa tay cho Dasa để cô xuống cùng. Cậu để cô nàng ngồi ở một gốc cây gần đó và bắt đầu xoa lưng cho cô nàng. Mặt Dasa chưa từng đổi sắc quá rõ rệt, nhưng giờ trông cô còn nhợt nhạt hơn bình thường. Cậu sẽ chẳng ngạc nhiên nếu cô nàng đã ói ra ngay lúc đó.

“Lần sau anh sẽ cẩn thận hơn chút.”

“Lần sau à…?” Dasa gục xuống như thể đã bị Yukinari kết án tử hình.

Sleipnir được xây dựng từ các phần vớt ra từ tượng thánh bảo hộ, vũ khí tối thượng được cho là các nhà truyền giáo Giáo Hội Harris đã mang theo. Yukinari chỉ gắn vài cái bánh xe vào. Không chắc tượng có phải là một con robot khổng lồ dùng trong chiến trận, nhưng bất kì máy móc nào phức tạo cỡ đó đều đòi hỏi một động cơ để di chuyển. Yukinari đã nghi ngờ liệu có một động cơ bên trong—hoặc có lẽ là vài—và cuộc điều tra bức tượng, nằm lay lắt gần thị trấn, đã chứng minh rằng cậu đúng.

Do đó, Yukinari đã lấy hai bánh sau và các mảnh trục vớt được, gắn chúng với nhau bằng một sợi xích tự chế, cùng với phanh và tay lái—trang bị cần thiết tối thiểu. Còn nhiên liệu, nếu có thể gọi vậy, tất nhiên cậu dùng chung loại dầu thánh cung cấp cho bức tượng.

Dầu thánh là một chất lỏng có thể được làm cho giãn ra hoặc co lại thông qua dao động của âm thoa. Một động cơ sử dụng dầu thánh đòi hỏi chất xúc tác không thường xuyên đó được áp dụng cùng với âm thoa để chạy, nhưng không như các động cơ Yukinari quen, nó không tạo ra âm thanh của sự đốt. Cảm tưởng như thể đang chạy xe máy điện.

Nhân tiện, cậu đã mô phỏng hệ thống phanh và tay lái trên con xe đạp cậu từng lái ở thế giới trước, nên chúng không giống ngoại hình của một phương tiện mô-tô cho lắm. Chức năng tổng thể của chúng—đặc tính điều khiển và bán kính quay vòng, chẳng hạn—vẫn còn chỗ để mà cải thiện. Hệ thống giảm xóc kém hoàn hảo là nguyên nhân khiến Dasa bị say xe. Cô nàng chưa bao giờ là một người hay phàn nàn, nên đã không nói gì mãi một lúc—nhưng Yukinari đã nhận ra sớm hơn nhiều việc có vẻ cô có chút không ổn.

Mặc cho tất cả điều này, họ vẫn vui vì đã giảm gần một nửa thời gian di chuyển của mình.

“Cơ mà,” Yukinari nói, “không có công kích nào từ á thần hay ngoại thú. Nhìn chung là một chuyến đi khá dễ dàng ha…”

Dasa ném cho cậu một cái nhìn độc địa từ trên gọng kính, hiện đã tuột xuống mũi cô nàng.

“…hoặc là không. Anh xin lỗi nhé.” Yukinari ngồi xuống kế bên Dasa và lại xoa xoa lưng cô nàng. Nhưng Dasa phát ra tiếng rên mắc ói, tay ôm vào ngực.

“Có đau không? Em muốn anh làm gì? Hay là nới lỏng cổ áo ra nhé?”

“Dạ… Vâng,” cô nói.

Nhờ phước cô nàng, Yukinari vươn tay tới cổ áo Dasa. Quần áo cô được bọc bằng da, và có thể bó chặt hơn so với bề ngoài của chúng. Thậm chí nới lỏng đường viền cổ áo cũng sẽ khiến mọi thứ dễ dàng hơn với cô nàng.

“……Mn.” Dasa khẽ gầm gừ. Cách mà cô nàng vặn vẹo với cơn buồn nôn của mình khiến quần áo trông có vẻ không phẳng phiu cho lắm—không, nhàu nát mới đúng—khi mà giờ cổ áo đã được nới lỏng. Xương quai xanh và làn da nhợt nhạt lộ ra, và Yukinari không khỏi hứng chịu cảm giác tội lỗi, như thể cậu đang làm điều gì đó sai trái.

“Mèn ơi…” Giữ mắt hướng về phía vô định, Yukinari quay trở lại việc xoa lưng Dasa. Trong một lúc cô đã chỉ ngồi đó, nhưng rồi, lặng lẽ, cô rúc vào tay và dựa vào ngực cậu.

“Dasa…?”

“Cứ để em… thế này… một lát,” cô nói khẽ, dựa đầu vào vai cậu. “…Được không?”

“Ừm, ý anh là, được…” Yukinari gãi má bằng ngón tay trái.

“…Đã lâu rồi…”

“Hở? Lâu gì cơ?”

“Mới… chỉ có hai chúng ta, Yuki. Kể từ lúc… chúng ta làm điều này.” Cậu không thấy mặt cô nàng, nhưng có linh cảm bất chợt rằng cô đang mỉm cười.

“Ồ…”

Hồi còn nay đây mai đó với nhau, họ thường phải cắm trại ngoài trời. Họ đã ngủ cạnh nhau như thế này nhiều đêm để giữ ấm cho Dasa, để cô không bị cảm lạnh. Họ không ngủ trong vòng tay của nhau nữa kể từ hồi có dinh thự ở Friedland. Dù cho căn nhà ở tạm của họ có tạm bợ tới mức nào, nó vẫn có bốn bức tường và trần, và họ có thể đắp mình bằng chăn trong lúc ngủ.

Cơ mà… Mình chẳng biết nữa…

Trước đây, khi họ tay trong tay thế này, cậu không thực sự nghĩ nhiều về nó. Chỉ là để giữ ấm cho Dasa thôi mà; chẳng còn gì nữa cả. Nhưng giờ cậu lại thấy mình bị kích động một cách kì lạ; mạch cậu đập nhanh dần. Và dường như Dasa cũng vậy. Cậu có thể cảm nhận nhịp tim của cô nàng qua lồng ngực mình, bất chấp các lớp xương và cơ xen kẽ. Cảm nhận nhịp đập của cô khiến của cậu đập nhanh hơn, ngược lại càng khiến tim Dasa đập nhanh hơn nữa. Từ cô, sang cậu, và ngược lại, như thể nhịp đập của họ đang hối thúc nhau, như thể họ được kết nối ở một mức độ khăng khít nào đó. Thật là một cảm thức kì lạ.

Cơ thể mình là nhân tạo, Yukinari nghĩ, nhưng những lúc thế này thì cứ như thật vậy ta…

Hoặc có lẽ các giác quan tăng cường của cậu khiến nó dễ ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi cơ thể người khác hơn.

“…Yuki.” Dasa chợt nói, như thể vừa nghĩ ra gì đó.

“Sao thế? Vẫn còn bệnh ư?”

“Em… hạnh phúc. Hanh phúc lắm.”

Có lẽ điều này được quy cho mong muốn đặc biệt được chạm vào người khác của Dasa để xác nhận sự tồn tại của mình. Hoặc có lẽ là một cảm giác hoàn toàn khác. Yukinari không rõ cái nào, nhưng cậu nói, “Ồ vậy hả…?”

Cậu xấu hổ đến lạ. Cậu chẳng biết nên nhìn vào đâu nữa, như thể đang cố trốn tránh điều gì đó.

Đó là lúc cậu nhận ra, xa tận phía chân trời.

“Đó có phải là…?”

Từ xa, cậu có thể thấy những gì dường như là tường của một thị trấn. Xét tới độ xa của nó, hẳn phải là những bức cực lớn. Yukinari nheo mắt nhìn vẻ thắc mắc. Nó không hẳn là một dãy tường. Phần đỉnh không bằng phẳng; thay vào đó, có thứ trông như mấy cái cột mọc lên xen kẽ. Nhưng mỗi cái đều to khủng khiếp.

Gần như là một tấm rào chắn bằng cây, những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

“Yuki…?” Dasa đưa đầu ra khỏi ngực cậu và nhìn vẻ khó hiểu. “Chuyện gì vậy?”

“Ồ, không có gì… Anh thấy thứ có thể là Rostruch ấy mà.”

Dasa nhìn theo ánh mắt Yukinari, không nói gì nữa.

“Em muốn làm gì? Muốn nghỉ ở đây chút nữa không? Hay là xuống thị trấn rồi nghỉ sau?”

“…Mn.” Dasa bó cổ áo trở lại. “Em ổn rồi.”

“Đừng có gắng quá sức, được chứ?”

Trong chuyến đi này, chỉ mất vài phút cũng không vấn đề gì cả. Việc nghỉ ngơi cho đến khi cô cảm thấy lại sức hẳn là hoàn toàn hợp lí. Nhưng Dasa lại bảo, “Ổn… thôi mà. Em sẽ gắng,” và lại leo lên Sleipnir.

Yukinari ngồi xuống trước mặt cô nàng, và cô vòng tay xung quanh, bám chặt vào lưng cậu.

“Em không muốn trở thành… gánh nặng, Yuki,” cô nói.

“Em đang nói—” cậu lên tiếng, nhưng rồi ngừng lại. Thay vào đó cậu bảo, “Cảm ơn nhé.”

Cậu có thể cảm nhận hơi ấm từ cô nàng tựa vào lưng mình. Và cùng với lời biết ơn ấy, cậu khởi động Sleipnir một lần nữa.

Tương truyền, Rostruch là một thứ gì đó giống như một hòn đảo, với tiếp xúc tối thiểu với thế giới bên ngoài. Vậy nên mối lo ngại lớn nhất của Yukinari trong việc tới đó, đặc biệt khi mà đột nhiên như vậy, đó là liệu họ có cho cậu vào hay không. Cậu có thư giới thiệu của Fiona, nhưng rõ là có khả năng rằng họ sẽ không nhận ra tên cô ấy, cho dù bản thân họ có biết đến Friedland.

Chưa gì bước đầu tiên đã gặp trở ngại rồi. Yukinari đã tới cổng vào Rostruch. Cơ mà…

“Nhìn thứ này đi…” Cậu mắt chữ A mồm chữ O nhìn bức tường—mà không, hàng rào chứ— kéo dài ra từ hai bên cổng.

Một cánh rừng.

Một hàng cây, hàng tá nếu không muốn nói là hàng trăm cây cổ thụ xét theo kích cỡ, được xếp thành hàng dài đều một cách không thể tin nổi. Vô số cành vươn ra trái phải; rõ ràng là không thể len qua những cái cây. Nơi rễ cây phơi ra, thấy rõ chúng bị rối vào nhau như thế nào; giữa chúng hầu như không có khoảng trống.

Cái quái gì thế này? Thậm chí một người làm vườn bậc thầy, được giao trọng trách tạo ra bức tường cây cho thành phố của mình, cũng không thể làm dược như vậy.

Ít ra cánh cổng còn được xây bởi những thớ gỗ do con người tạo ra. Và chính tại lúc đó, nó đang mở ra ngoài. Có vẻ là, cư dân Rostruch đã biết đến sự xuất hiện của Yukinari và Dasa, nhưng không rõ ngay là bằng cách nào. Yukinari chỉ đang ngẫm nghĩ về nó thì—

“…Yukik.” Dasa lên tiến; cô vừa nhận ra gì đó.

Cậu nhìn về phía cô chỉ và thấy một đường kì lạ kéo dài ra. Một cuộc diễu hành—đàn ông phụ nữ, già trẻ lớn bé, mặc quần áo đủ loại—và mỗi người đều cầm thứ gì đó trông như cành cây có lá ở ngọn. Họ đang đi dạo xung quanh, vẫy cành cây qua lại theo một khuôn mẫu. Trông như thể một loại hình chấp hành tôn giáo.

“Gì vậy? Một nghi thức à?”

“…Có lẽ.” Thoáng một chút nghi ngờ trong lời đáp của Dasa. Một khu vực mới đồng nghĩa với một thổ thần mới. Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu lòng sùng kính đối với thần ở đây có hình thức khác so với ở Friedland.

“Thổ thần ở đây có hơi tham ăn, nhỉ?” Yukinari nheo mắt, quan sát đám rước đi qua cổng và đi qua ngay trước mặt họ. Đoàn người tiến bước lặng lẽ trong lúc kéo một ngôi đền nổi lớn cùng với họ. Những người đang cưỡi nó hẳn là những lễ vật cho thổ thần. Nói cách khác, là các vật tế. Cậu không thể gạt đi cảm giác rằng… thì, có rất nhiều người họ.

Từ những gì cậu và Dasa có thể thấy từ chỗ đang đứng, có ít nhất năm người trên cái nổi đó. Tất cả đều ngước mặt, trông buồn ngủ. Có khi bên trong còn nhiều người nữa. Ở Friedland, mỗi vài năm chỉ có một vật tế, một phụ nữ trẻ. Còn ở đây…

“Người già…?” Dasa lẩm bẩm. Hầu hết những người đang ngủ có tóc bạc. Bốn trong năm người Yukinari thấy đều luống tuổi; còn lại có vẻ là một cậu nhóc.

“Họ quyết định thế nào nhỉ?” Cậu và Dasa nhìn đám rước đi qua, với ý niệm ít ỏi về những gì đang diễn ra. Rồi một người trong đoàn diễu hành có vẻ đã nhận ra họ. Anh ta dừng vẫy cành cây và tiến lại.

“Hai người là ai?” Người nói là một thanh niên chừng hai mươi tuổi. “Các người không phải dân Rostruch.”

“…Đúng rồi.” Yukinari gật đầu, quan sát tỉ mỉ phản ứng của anh chàng. “Xin lỗi vì xuất hiện như vậy. Chúng tôi tới từ thị trấn Friedland, và chúng tôi tới Rostruch để làm ăn.”

Chàng thanh niên mang ánh nhìn khả nghi trong chốc lát, nhưng nhanh chóng mỉm cười. “Friedland… À, Friedland!” anh gật đầu nói. “Tôi có nghe rồi. Friedland. Thứ lỗi, chúng tôi không nghe nghóng gì nhiều về thế giới bên ngoài.” Có lẽ anh ta xin lỗi vì đã không nhận ra tên của thị trấn ngay.

Tại một nơi có tiếp xúc tối thiểu với thế giới bên ngoài, có chút vấn đề để nhớ lại thậm chí tên của thị trấn kế bên cũng là điều bình thường thôi. Song có vẻ là, dù bị cô lập như vốn dĩ nó vậy, Rostruch không có động lực đặc biệt nào để xua đuổi người ngoài.

Uao. Nơi này giàu dữ thiệt đó.

Quần áo và nước da khỏe mạnh của chàng trai là đủ để chứng minh điều đó. Anh ta không có vẻ cảnh giác tột độ, dù là với người lạ mới gặp lần đầu, và có lẽ điều đó đã nói lên rằng Rostruch ưa chuộng hòa bình. Nghèo đói và bất an thường mang lại những tác động hủy hoại: nỗi lo sợ chết đói đẩy con người ta đến cảnh coi người khác trước nhất là kẻ thù có thể ăn cắp thức ăn của họ.

Cơ mà… trông có vẻ họ không có luyện kim nhỉ?

Ngôi đền nổi hoàn toàn làm bằng gỗ, phần nhiều từ gỗ công nghiệp ghép lại với nhau. Yukinari không thấy cái đinh nào. Và có vẻ chàng thanh niên trước mặt cậu cũng không đeo bất kì trang sức kim loại nào cả. Mà, tiện nói, không có cả cúc luôn chứ.

Gần giống như quần áo Nhật Bản truyền thống…

Chi tiết khác nhau, nhưng việc thiếu cúc và dùng đai lưng để giữ mọi thứ không tách rời thì tương tự như quần áo Nhật Bản truyền thống theo như Yukinari nhớ.

Nghĩ lại thì, Fiona nói có một đầm lầy ở gần Rostruch.

Nhật Bản có nhiều đầm lầy hơn mức bình thường so với khu vực đất liền của nó.  Có lẽ sự tương đồng về mặt địa lí và khí hậu với Nhật Bản đã sinh ra phong cách ăn mặc tương tự.

“Thứ lỗi, những vị khách từ Friedland, nhưng các bạn đã tới đúng ngay dịp tổ chức một nghi lễ rất quan trọng cho thổ thần của chúng tôi, Yggdra.” Chàng trai trẻ quay người về phía đám rước.

“Ừm, cái đó thì chúng tôi biết,” Yukinari nói. “Đừng để ý bọn tôi.” Cậu chia sẻ một cái nhìn với Dasa, rồi nói tiếp. “Những người trên xe hoa kia… là vật tế phải không? Có vẻ nhiều người già nhỉ…”

Một câu hỏi có thể được xem là mang tính tọc mạch. Không biết chàng trai sẽ phản ứng thế nào, Yukinari đã chuẩn bị chộp lấy Durandall khi anh ta nói.

“Vật tế sao? Ồ! Thì, chắc có thể gọi như vậy,” anh gật đầu lia lịa nói. “Quả đúng là chúng tôi đang dâng những người đó cho Lãnh Chúa Yggdra. Các bạn ngạc nhiên bởi số lượng người già… Bộ ở Friedland họ hiến tế người trẻ sao?”

“Thì,… đại loại thế, phải.” Yukinari gật đầu, nghĩ về Berta. Có vẻ là, cựu thổ thần cho rằng gái trẻ là ngon nhất, vậy nên cô ấy và những cô gái tương tự đã được đem đi làm vật tế.

“Ở Rostruch, tuổi tác không quan trọng. Chắc là có rất nhiều người cao tuổi, nhưng cũng dễ hiểu thôi. Dù sao thì, cơ thể họ cũng già yếu.” Chàng trai trẻ vừa nở một nụ cười tươi rói vừa nói. “Kìa các gia đình của họ đang kéo xe hoa.”

Yukinari và Dasa nhìn nhau, sửng sốt. Phải chăng những gia đình này đã tình nguyện dâng người lớn tuổi trong nhà làm vật tế? Yukinari nhìn những người kéo đền nổi một lần nữa, song chẳng hề có nét đau buồn trên gương mặt họ. Có lẽ cảm giác tội lỗi của họ đơn giản là đã chết, giống như các tu sĩ ở Friedland.

“Cho tôi gửi lời xin lỗi. Liệu các bạn có thể vui lòng chờ trong thị trấn được không? Ngài thị trưởng sống ở tòa nhà lớn tại phía bắc, nên nếu các bạn có việc, xin vui lòng…”

“Xin lỗi, tôi có thể hỏi một câu nữa được không?” Yukinari nói, nhìn chiếc xe hoa. “Những vật tế này—liệu có khả năng các người chọn họ dựa trên những ai gần với cái chết nhất không? Những người rất già, mắc bệnh nan y không thể chữa, thương tật nghiêm trọng, kiểu kiểu vậy?”

Chàng trai trẻ gật đầu đều đều. “Vâng, tất nhiên rồi.”

Họ dễ dàng tới được nhà của thị trưởng. Họ để Sleipnir ở cổng thị trấn và bước dọc con đường chàng thanh niên chỉ, ít nhiều hướng về phía bắc. Đường phố được đặt thành một mạng lưới gọn gàng, vây nên có rất ít khả năng bị lạc.

Dọc đường đi, Yukinari ngắm nhìn thị trấn. Cậu đặc biệt hứng thú với những điều khiến nó khác Friedland, và theo đó điều đầu tiên cậu nhận ra là có nhiều nước đến cỡ nào. Vài con suối nhỏ chảy qua thành phố, đều trong vắt và sạch sẽ, với những loài thực vật phát triển và cá bơi trong đó. Một vài cây cầu bắc qua những con suối, một yếu tố độc đáo khác của quang cảnh Rostruch. Những cây cầu làm từ gỗ, nhìn chung đều đẽo thô. Có lẽ các công cụ để cắt gọt gỗ là kim loại, nhưng thực ra trong cả thị trấn Yukinari chẳng thấy thứ gì được làm từ nó.

Nếu cậu có thể tìm ra thứ thị trấn này cần, thì có khả năng sẽ thiết lập được thương mại có lợi cho cả Friedland và Rostruch. Nếu nơi này muốn sản phẩm kim loại, tự mình Yukinari có thể sản xuất chúng, miễn là chúng không quá phức tạp.

Và rồi họ đến nhà thị trưởng. Họ yêu cầu gia nhân xuất hiện từ bên trong thông báo sự có mặt của họ, và sau đó họ chờ đợi.

Một lát sau gia nhân quay trở lại. “Trưởng sẽ tiếp các người. Nhưng… Sự thật là, một vài vị khách khác đã viếng thăm ngay trước khi các người đến. Nếu các người có thể vui lòng chờ một lát…”

“Được chứ. Bao lâu cũng được.”

Gia nhân cúi mình và dẫn Yukinari cùng Dasa vào nhà. Nhà của thị trưởng là một tòa nhà một tầng mang lại ấn tượng về Nhật Bản theo một cách nào đó. Yukinari không thấy cánh cửa trượt bằng giấy nào, nhưng dường như không có quá nhiều cửa, hoặc tường. Trông như thể tại nơi này tốt nhất là để cửa sổ mở cho gió lùa vào.

“Chà. Quen thuộc quá đi mất…”

“Phải không?” Cứ để Dasa xét nét lời thì thầm lí nhí của cậu. Cô nàng nhìn cậu thắc mắc trong lúc hai người sánh bước bên nhau.

“Ừ. Ở thế giới trước của anh có rất nhiều nhà như thế này. Mà, chắc là không nhiều, nhưng quả thực anh đã từng thấy những chỗ xây như thế này.” Nhật Bản của thế kỉ hai mươi mốt có ít hơn rất nhiều những căn nhà một tầng đơn giản như thế này so với trước kia, đặc biệt là trong các thành phố.

“Đường này ạ,” gia nhân nói, dắt họ đi cùng. Khu vực họ được đưa đến được ngăn phòng bởi các tấm màn. Dường như chỉ qua được một tấm rồi họ lại phải chờ tiếp. Yukinari và Dasa đi quanh tấm màn và thấy hai chiếc ghế dường như được đan từ liễu và một cái bàn nhỏ. Dù mang lại cảm giác như Nhật Bản, có vẻ là ở đây họ vẫn chưa ngồi đệm.

Yukinari thở ra và ngồi vào một chiếc ghế. Dasa ngồi đối diện cậu. Cô nàng quan sát mặt cậu một lát, rồi nói, “Yuki.” Nghe như thể cô đã quyết định điều gì đó. “Lúc nãy… Thổ thần—”

“Anh biết.” Cậu nhăn mặt ngắt lời cô. “Fiona bảo có khả năng ở đây có thổ thần, nhưng anh không mong đợi việc bắt gặp nghi lễ ngay khi vừa có mặt.”

Dasa có lẽ băn khoăn việc Yukinari đã trông thấy đám rước lúc nãy và không làm gì cả. Dù sao thì, khi tình cờ gặp phải vật tế ở Friedland—chính là, Berta— cậu đã chấm dứt nó bằng sức lực thuần túy. Cậu cảm thấy nhiều hơn là chỉ phẫn nộ đối với việc người dân thị trấn và các tu sĩ nổi giận khi cậu can thiệp vào vật tế của họ.

Yukinari ghét cả hệ thống hiến tế người sống. Cứ cho rằng, chuyện xảy ra với Berta gần như chỉ là tình cờ, nhưng Dasa hẳn tin rằng nếu Yukinari bắt gặp một vật tế khác, cậu cũng sẽ chiến đấu như vậy để bảo vệ các nạn nhân. Và có lẽ cô đã lo rằng cậu sẽ làm gián đoạn buổi lễ ở Rostruch khi họ gặp phải nó.

Nhưng dĩ nhiên, nếu cậu cứ thể xông vào và làm đảo lộn buổi lễ, điều tương tự có thể xảy ra tại Rostruch như đã xảy ra ở Friedland. Có khi cậu có thể giết thổ thần và ngăn chặn vật tế, nhưng rút cục vậy cũng chỉ khiến Rostruch ở chung tình trạng như Friedland. Yukinair đã tới đây với hy vọng cải thiện tình hình của làng cậu, và sát hại một vị thần khác sẽ không thúc đẩy mục đích đó.

Cơ mà… Yukinari đã chẳng làm gì với đám rước rời khỏi cổng mà họ thấy. Cậu chỉ đơn giản là nhìn. Và tại sao tình huống này, ở Rostruch, lại khác so với hồi ở Friedland? Hẳn Dasa đang nghĩ về những điều ấy.

“Nè, Dasa… Em đã bao giờ nghe về Đỉnh Obasute chưa?”

“Đỉnh… gì cơ?”

“À, đừng để ý. Chẳng có chuyện em biết nó đâu.” Yukinari nở một nụ cười thích thú và lắc đầu. “Anh đoán dù sao thì bệnh viện đã thế chỗ ngọn núi đó rồi.”

Dasa ngơ ngác nhìn cậu.

“Nó là một thứ từ thế giới trước của anh. Đỉnh Obasute—cái tên thực ra có nghĩa là ‘bỏ rơi người già.” Giả sử, khi mà con người già yếu, họ sẽ bị bỏ trên ngọn núi đó. Những gia đình rất nghèo tới mức gần như không đủ khả năng để tự nuôi thân, chứ đừng nói là một người không đóng góp cái gì cả. Cứ cố gắng bao nuôi người già cả trong gia đình, và rút cục bản thân cũng chết thôi.”

“Yuki, anh… anh cũng đã… bỏ rơi ai đó… ư?” Cô chớp mắt, có lẽ vì kinh ngạc.

“Hở? Ồ, không, không, anh chỉ nói nó là một phong tục xưa thôi mà. Thời anh sinh ra, nó đã qua được hàng thập kỉ thậm chí là hàng thế kỉ rồi.”

Phải: trong tâm trí Yukinari, câu chuyện đó thuộc về quá khứ. Nhưng ở thế giới này—tại Rostruch—có vẻ nó tồn tại với cả, hoàn toàn được chấp nhận. Chàng trai trẻ giải thích về đám rước cho Yukinari và Dasa dường như đã hoàn toàn bình tĩnh. Có lẽ người dân của thị trấn này chỉ đơn giản là đang cắt giảm hàng ngũ người già của họ dưới vỏ bọc hiến tế họ cho thổ thần mà thôi. Dù sao thì, đó là điều Yukinari nghĩ lúc đầu.

“Nhưng lại nói, thị trấn này trông khá giàu sang. Hoặc ít ra là, con người dường như có nhiều hơn những gì họ cần. Không có vẻ là hoàn cảnh éo le tới mức đòi hỏi phải bỏ rơi người cao tuổi.”

“Có lẽ anh… đúng.”

“Cũng chỉ có một cậu bé trên ngôi đền nổi đó. Và mọi người đều đang ngủ. Nên anh đang tự hỏi liệu đó có phải là một hình thức trợ tử.”

“Trợ… tử?”

“Không phải anh chắc rằng việc bị tế cho thổ thần là một cách giải quyết dễ dàng,” Yukinari nói, trượt lưng vào ghế. “Ở thế giới trước của anh, có rất nhiều người không thể tự mình hít thở, nhưng máy móc sẽ thở thay họ, giữ họ sống. Chẳng thể nào họ sẽ trở nên tốt hơn, mà chỉ là kéo dài cuộc sống thể xác của họ. Không ai được lợi từ nó cả. Nên một vài người… đã tắt máy móc đi. Và người khác thì tranh cãi về việc nó có đúng hay không.”

“Nếu tắt máy móc đi…”

“Dĩ nhiên, người ta sẽ chết. Về cơ bản là ta đang giết họ,” Yukinari nói thẳng thừng. “Nhưng không phải là chặt đứt họ bằng kiếm hay bóp cổ họ gì cả. Chỉ là đang để tự nhiên xảy đến với những người không thực sự còn sức mạnh để sống mà thôi…”

Dasa liên tục chớp mắt, không nói một lời.

“Người khác, họ có thể bệnh. Họ đang đau, đang chịu rất nhiều đau đớn. Nhưng không có cách chữa. Họ cũng sẽ chẳng khá hơn. Một vài người nghĩ chúng ta nên giết những người như vậy, thay vì câu nệ sự đau khổ của họ. Ta hãy để họ ra đi trong thanh thản. Ấy chính là trợ tử.”

“Và anh nghĩ… đám rước đó… là… trợ tử ư?”

“Anh nghĩ là có khả năng. Và một khi có ý nghĩ ấy, anh không thể dứt ra dược.” Rồi cậu thở dài thườn thượt, áp hai lòng bàn tay lên mắt. Người ta quá già, quá ốm, để có hy vọng hồi phục. Để họ ra đi nhẹ nhàng có lẽ là việc làm từ bi, nhưng nó đặt một gánh nặng cảm xúc to lớn lên người thực sự phải làm nó. Nên thay vào đó họ để thổ thần xử lí, bằng hình thức hiến tế. Và bằng cách tiêu thụ các vật tế, thổ thần ngăn chặn sự suy tàn của chính bản thân, đôi bên cùng có lợi.

Thực sự có đúng không, nếu mà, Yukinari ngăn chặn nghi lễ đó? Friedland, Rostruch, và có lẽ nhiều thị trấn khác đã tạo mối liên hệ với các thổ thần của họ trong hàng trăm năm. Các hệ thống liên quan đã được thiết lập cố định. Liệu có đúng không khi phá hủy những điều đó? Hay là ngược lại?

“…Yuki…” Dasa đứng dậy khỏi chỗ ngồi và tiến về chỗ cậu. Cô nắm lấy một bàn tay cậu ấn ở mắt và đặt nó vào má mình. “Dù đúng… hay… sai, em vẫn ở bên anh.”

“Dasa…”

“Luân lí chẳng… quan trọng đâu.”

Yukinari không nói.

“Nếu không thích…, thì phá hủy nó. Các vật tế… Thổ thần. Em sẽ luôn đứng về phía… anh.”

Cô nhắm nghiền mắt, như thể đang cố nghiên cứu cảm giác từ bàn tay cậu. Trong phút chốc, cậu đã chìm đắm trong hơi ấm từ má cô nàng, nhưng rồi—

“Thứ lỗi vì sự chờ đợi, thưa Ngài Yukinari,” một giọng nói vang lên từ phía bên kia bức vách. Dasa nhanh chóng buông tay Yukinari, còn cậu thì thu nó về. Gia nhân ló đầu quanh góc khuất. “Ngài thị trưởng sẽ tiếp hai người ngay. Vui lòng đi theo tôi được chứ?”

Một tiếng thốt lên trong lúc Yukinari và Dasa đi theo sau người đó.

“Ngươi?!”

Yukinari quay lại để xem có vụ gì và, thấy mình đứng trước hai hiệp thân quen cùng hai tu sĩ trong trang phục trắng của giáo sĩ Friedland. Và một trong số đó là…

“Luman?”

Tu sĩ từ cô nhi viện.

“Tại sao các ngươi lại ở đây?!” Hai hiệp sĩ, có lẽ là hai trong số những nhà truyền giáo Giáo Hội Harris từng tới Friedland, đặt tay lên kiếm ở hông họ. Với bức tượng bị phế bỏ, họ đã sống ở Friedland như những con vật bị phỉ báng, nhưng có vẻ ở Rostruch đây họ lại không có ý định tỏ ra thù địch với Yukinari.

“Hắn! Chính là hắn!” tu sĩ kế bên Luman hô lên, chỉ hướng Yukinari. “Hắn là con quỷ đáng nguyền rủa, Kẻ Sát Thần!”

Yukinari nheo mắt và, không một lời, với ra chỗ Durandall. Cậu đã giết một vị thần được thôi, không có gì sai hết. Vấn đề là tên tu sĩ đó đang hét lên với kẻ nào. Chỉ đơn giản nói cho người Rostruch biết về Yukinari sẽ chẳng làm hại gì cậu, và như vậy sẽ chẳng mang lại lợi ích gì cho đám tu sĩ. Nếu chúng đã tới tận đây, thì tức là chúng nghĩ có gì đó ở Rostruch sẽ cho phép chúng đối đầu cậu. Nhưng cái, hay thế nào mới được?

“Chàng trai này…” Ai đó xuất hiện từ sau Luman. “…là Kẻ Sát Thần ngươi nói tới sao?”

“Một cô bé…?” Dasa nói khẽ.

Đúng vậy. Một cô bé, hoặc bề ngoài là thế. Một đứa bé gái nhỏ tới mức chính Dasa, tự thân là một thiếu nữ, còn phải dùng đến từ “cô bé.”

Mới đầu trông có vẻ bình thường. Nhưng mái tóc màu xanh lá cây, và cô bé có sừng giống như na—mà không, những cành cây xù xì mới đúng. Luôn có khả năng chúng chỉ đơn giản là mũ đội, hoặc vật trang trí, cơ mà…

Theo mình chắc chắn cô bé không có vẻ là một đứa trẻ bình thường, Yukinari nghĩ.

Cô bé toát ra thứ gì đó, một thứ thứ khiến cô dường như hoàn toàn khác. Với Yukinari, có vẻ cô là một tụ điểm sức mạnh cường đại hơn cả thổ thần cậu đã hạ, bất kì á thần hay ngoại thú nào cậu từng chạm trán, có khi thậm chí cả tượng thánh bảo hộ. Yukinari vốn không có khả năng cảm nhận “sức mạnh tâm linh,” nhưng khi có quá nhiều một lúc thì tự nhiên nó gần như trở thành một hiện tượng vật lí, bao quanh cô bé như một đám mây huyền ảo.

Cô không phải gái. Thậm chí chẳng phải con người.

“Chính hắn ta!” Luman hét, trỏ ngón tay về phía Yukinari. “Hắn chính là con quái vật đã giết vị thần của chúng tôi! Hắn là kẻ thù của chúng tôi, và cũng là kẻ thù của các người. Nếu cứ để mặc hắn, các người và gia đình các người chắc chắn sẽ chịu hậu quả! Sự thật rằng hắn ở đây chính là bằng chứng!”

“Cư khơi ra làm như người ta nghe ấy,” Yukinari lẩm bẩm, rút Durandall từ bao đựng trên lưng. “Chắc các ngươi định để một vị thần láng giềng trừng phạt ta, nhỉ?”

“…Yuki…!” Dasa mở túi và rút Ớt Đỏ ra, di chuyển để bọc hậu cho Yukinari. “Đằng sau… kìa!”

“Anh biết rồi.” Một cảm giác choáng ngợp từ tứ phía. Các hiệp sĩ truyền giáo và đám tu sĩ lùi lại, nhường chỗ cho vài con người bao vây Yukinari và Dasa. Một số người già và một số người trẻ, một vài nam và một vài nữ, nhưng tất cả đều phát tiết thứ hào quang mạnh mẽ hệt như cô bé—và tất cả đều có chung tóc và sừng. Dường như cũng chẳng có ai là con người cả. Khả năng cao là…

Luman tuôn ra một tràng: “Hỡi các thân cận của Chúa Tể Yggdra, và Ulrike Thân Cận Số Một! Hãy giáng sự trừng phạt thiêng liêng xuống Kẻ Sát Thần đáng nguyền rủa!”

Là một đoàn lữ hành trong khu vực này đồng nghĩa với việc mạo hiểm mạng sống vì sự nghiệp. Những nhóm người nhỏ tách ra khỏi các khu định cư lớn hơn để đi đâu đó là con mồi lí tưởng cho á thần và ngoại thú. Những con quái vật này không quan tâm đến con người nhiều bằng não của họ, nguồn trí lực và sức mạnh tâm linh, thứ mà các sinh vật có thể tiêu thụ theo cách nhanh nhất để tăng cường mức độ năng lực tâm linh của chính mình. Hầu hết á thần và ngoại thú có nguồn gốc từ động vật hoang—cùng với mọi sự hung hăng được thừa hưởng.

Dĩ nhiên, những con đường chính trong các khu vực có kiểu dạng hiệp ước với thổ thần thì tương đối an toàn—nhưng chỉ một bước ra khỏi thôi, và sự nguy hiểm đã tăng lên gấp bội. Thỉnh thoảng một á thần cực kì mạnh thậm chí còn xâm phạm lãnh thổ của thổ thần.

Do đó, các nhóm thương buôn luôn được vũ trang. Bản thân các thương gia cũng mang vũ khí, và nhiều người còn mướn lính đánh thuê. Hiển nhiên, năm mười người vũ trang thì sẽ khó lòng mà địch nổi một đàn ngoại thú hoặc đánh bại một á thần. Về cơ bản vũ khí là một cách để câu cho họ đủ thời gian nhằm trở lại lãnh thổ được thổ thần điều khiển, hoặc trong một thành phố. Những gì họ mang chủ yếu là vũ khí tầm xa: súng cao su, Cốc-tai Molotov, cung và tên, giáo ném, lưới. Họ không dại dột đến mức mang gươm hay mác hay bất cứ thứ gì có thể liên quan đến việc giáp lá cà với ngoại thú hoặc á thần.

Đa phần, nhiêu đây là đủ để cho phép họ tẩu thoát.

Nhưng thời điểm họ nghe thấy tiếng rống cuộn trong không khí, thì đã quá muộn. Trước tiên, đầu của tên lính đánh thuê dẫn đầu đoàn trên lưng ngựa đã biến mất. Như một trò đùa dở tệ: một giây trước nó ở đó, bạn chớp mắt, và biến mất luôn; đến cả nón chụp cũng không còn. Thay vào đó chỉ có một mạch máu phun máu đỏ ra khắp cái xác. Sau cùng, như thể vừa nhận ra rằng mình đã chết, cơ thể nghiêng ngả, lăn ra, và rơi phịch xuống đất.

“C-Cái quái gì vậy?!” Những tên lính đánh thuê và các thương gia run rẩy hỏi. Họ nhìn ngang liếc dọc, tuyệt vọng tìm kiếm kẻ tấn ông. Song không thể tìm nổi. Chẳng thấy gì sất. Xung quanh họ chẳng có á thần hay ngoại thú nào. Không có dấu hiệu của động vật như gấu hay hổ.

Rồi một thương nhân phát ra âm thanh chết lặng.

“Hở?”

Một cái mũ chụp nhuốm máu rơi xuống chân gã, nảy nảy trước khi lăn tới khi dừng hẳn. Chính là cái mà chiếc đầu mất tích vốn đang đội.

“Nó ở trên ư?!” Những tên lính đánh thuê cuối cùng cũng nhận ra nơi họ nên nhìn, và ngửa cổ lên nhìn bầu trời. Rồi họ thấy nó—và nó đang xuống chỗ họ với tốc độ không tưởng, như thể từ trên trời rơi xuống. Một sinh vật giống chim khổng lồ với bốn cánh.

“Chạy ma—”

Á thần bay thẳng trực diện vào giữa các thương gia và lính đánh thuê. Người thứ hai mất đầu là thương nhân đang cưỡi trên bục lái xe ngựa.

“Grrryyyaaaa! Não!” con chim quái kêu lên vui sướng lơ lửng trên đầu họ. Nó đập vỡ cái đầu vừa xẻo được với vuốt và mỏ của nó, thè cái lưỡi dài quái dị để nhấm nháp những gì bên trong.

“Não! Não! Chất xám! A. NGON QUÁ!”

Một luồng hỗn loạn và khiếp sợ bao trùm cả nhóm. Á thần bay cực kì không bình thường. Cả đám thương gia lẫn lính đánh thuê đều được trang bị chuyên biệt với vũ khí thiết kế để chiến đấu các sinh vật khác trên mặt đất. Trên thực tế, ngay cả khi biết về sự tồn tại của á thần bay, họ cũng chẳng có cách nào để chế tạo vũ khí có tầm và lực để chiến đấu với những thứ như thế này.

“Não, não! TA CẦN thêm nãOOOOO! Xụp xụp!”

“Hrrrk—?!”

Á thần nhân lúc đám người đang nháo nhào sà xuống một lần nữa. Theo sau là một cuộc tàn sát. Mỏ và vuốt của nó chém rụng hết thương gia này đến lính đánh thuê khác. Một vài bị thịt được thuê cố bỏ chạy, nhưng điều này dường như chỉ càng chọc giận sinh vật, kẻ sẽ sục móng của nó vào bụng họ trước khi ăn tươi nuốt sống từ đầu trở xuống.

Á thần giống chim ríu rít gáy vang trong lúc bổ sọ gã nọ, thèm thuồng uống những gì chảy ra. Cặp mắt của nạn nhân xấu số lộn ngược lên đầu và tứ chi co giật, cho đến khi á thần cắn một, rồi hai, và rồi sau cùng nuốt chửng cả con mồi của nó.

“làm nhƯ cÁi giỐNg… giỐNG… GiỐng người cÓ THể giếT đƯợC tA. Thêm nÃo… thÊM…!”

Nó hú lên sung sướng, như thể đang hát, trong lúc không ngừng đánh chén đám người.

Đó là á thần mà Yukinari đã giết hụt ở thung lũng gần Friedland vài ngày trước.

Yukinari ngay lập tức xét rằng đây là một nơi không nên đến.

Dasa đã rút Ớt Đỏ ra, nhưng cậu khoanh tay quanh hông cô nàng, kéo cô lại gần, và chạy thục mạng.

“Yuki—?!”

“Chúng ta sẽ rời khỏi nơi này!” cậu hét, lao dọc hành lang trong dinh thự của thị trưởng. Cậu đạp tung cánh cửa sổ, rồi nhảy ra với Dasa theo sau, mặc cho những mảnh vụn bay tung tóe. Cậu lộn một vòng khi vừa tiếp đất, rồi, chẳng thèm phủi bụi bặm, cậu lại tóm lấy Dasa và tiếp tục chạy.

“Yuki… Tại sao…?”

“Cái thứ đó không hay đâu. Có đủ lí do khiến anh không muốn chiến với nó,” cậu vừa nói vừa chạy. “Anh biết trông nó giống người, nhưng đảm bảo chúng ta sẽ gặp rắc rối nếu để bị điều đó lừa đánh với nó đấy.”

“…Lão ta gọi nó là… ‘thân cận.’”

“Ừ. Kiểu như biểu hiện bên ngoài của thổ thần địa phương ấy mà, một thiết bị đầu cuối. Trông nó giống người, nhưng lại kết nối trực tiếp với sức mạnh của thổ thần…!”

Cụ thể là, thân cận đầu tiên xuất hiện—Ulrike, như tên gọi—đã cực kì mạnh mẽ. Thường thì không thể thấy sức mạnh tâm linh bằng mắt thường, nhưng trong cô ta nó đã cô đặc tới mức trông như một đám mây hữu hình. Yukinari không biết chính xác thổ thần Yggdra này thuộc loại hình nào, nhưng rõ ràng cô ta khác một trời một vực so với thổ thần Yukinari từng chiến ở Friedland. Thậm chí còn có khả năng thân thể của thân cận mang tên Ulrike đổng thời là cơ thể của thổ thần.

Chưa kể, thổ thần này còn có ít nhất mười thân cận khác, cho dù chúng không mạnh như Ulrike. Chỉ về số lượng thôi Yukinari và Dasa đã gặp bất lợi.

“Những thân cận đó hẳn đều bắt nguồn từ các vật tế…!” Ulrike rõ ràng là một cô bé con, nhưng tất cả các thân cận còn lại thì đều có vẻ rất già, hoặc rất trẻ, còn không thì để lại ấn tượng về việc yếu đuối. Yukinari chỉ có thể suy đoán, nhưng có vẻ Yggdra sử dụng vật tế của mình làm thân cận. Có lẽ họ di chuyển và hành động như một phần cơ thể của nó.

Bất kể thế nào, vẻ ngoài vô cùng yếu đuối khiến Yukinair khó lòng muốn chiến đấu với họ. Nhưng còn các đối thủ của cậu, có lẽ bị Luman dụ dỗ, dường như hoàn toàn bị thuyết phục rằng Yukinari chính là “Kẻ Sát Thần” —và họ hoàn toàn có ý định tiêu diệt cậu.

Cậu không thể chiến đấu như thế này. Kết cục không tránh khỏi là cậu và Dasa sẽ lần lượt ngã xuống.

Yukinari liếc lại. “Dĩ nhiên là họ sẽ đuổi theo rồi…”

Các thân cận theo sau họ, dẫn đầu là Ulrike. Một vài thân cận thậm chí còn nhảy từ mái nhà này qua mái nhà khác, như kiểu ninja làng Lá. Bất kể có trông như thế nào, có vẻ là họ sở hữu độ cơ động siêu nhiên.

“Yuki, em chạy được mà. Bỏ em xuống đi.” Đây không phải lần đầu Dasa yêu cầu như vậy, nhưng Yukinari không nghe. Ít nhất cậu cần phải nới rộng khoảng cách thêm chút nữa, bằng không các thân cận sẽ bắt được họ. Nếu họ thực sự muốn trừng phạt cậu cụ thể vì là Kẻ Sát Thần, có khả năng Dasa sẽ không sao cả. Nhưng với Luman và đám bạn của lão ở phe Yggdra, việc Dasa bị bắt làm con tin không hề viển vông chút nào. Như vậy sẽ chỉ càng khiến Yukinari rơi vào khủng hoảng lớn hơn.

“Mẹ nó chứ! Phiền đến thế là cùng!”

Ôm Dasa dưới cánh tay trái, cậu rút Durandall bằng tay phải và làm bộ khai hỏa—cậu kích đòn bẩy, nạp viên đầu tiên. Rồi cậu chọn hướng và bắn một phát cảnh cáo.

Dĩ nhiên, không trúng gì cả. Cho dù cậu vốn có ý định bắn mấy người truy đuổi, thì cũng cực kì khó để thực hiện trong khi đang chạy với Dasa bên hông mình.

Nhưng rồi—

“Đi chết đi, Kẻ Sát Thần.”

Với những lời đó, Ulrike nhảy bật lên từ vị trí tiên phong của mình. Áo choàng trắng tung bay trong gió, và, vẫn trong không trung, trong tay cô tỏa ra một làn nhánh cây.

Khựng một cái, Yukinari ngã nhào. Thứ gì đó đã trói chân cậu. Hả?

Cậu nhìn quanh, và kinh ngạc khi thấy thứ có vẻ là rễ cây. Một lúc trước nó chưa ở đó, nhưng giờ thì đang chồi từ đất lên và đã bám quanh chân Yukinari. Cậu mất đà, chẳng thế làm gì khác ngoài vồ ếch.

Vẫn giữ Dasa, cậu tiếp đất bằng lưng mình. Ulirike mang theo cành của mình trong lúc tiếp đất. Thoạt nhìn, trông nó mỏng đến mức lọt giữa hai ngón tay, thế nhưng—

Vẫn yên vị dưới đất, bằng cách nào đó Yukinari giơ được Durandall lên bằng tay phải, đỡ lấy cành cây bằng lưỡi của nó.

“Hrgh!” Chấn động chạy dọc cánh tay cậu như thể chặn một cây gậy sắt, chứ không phải cành cây. Nó quá nặng. Nặng hơn nhiều so với những gì một cô bé con vô tư lẽ ra có thể cầm, nặng hơn nhiều so với bất kì cành cây nào có cùng kích cỡ. Cảm tưởng như thể cậu vừa đỡ đòn từ một con ngoại thú mạnh mẽ.

“Yuki…!” Dasa giương Ớt Đỏ và khai hỏa về phía Ulrike.

Nhưng các phát bắn đều trượt. Chỉ trong nháy mắt, cây và cành và dây leo và dây thường xuân mọc lên, đan vào nhau thành một bức tường không thể xuyên phá chắn giữa thân cận và con mồi của cô. Đầu mỏng hơn trên đạn .44 Magnum của Dasa không thể xuyên qua bức tường phòng thủ nhiều tầng.

“Ặc, chẳng công bằng chút nào cả!” Yukinari rên rỉ. Cậu gỡ chân ra khỏi rễ, tóm lấy Dasa, và tiếp tục chạy.

Có vẻ là Yggdra—cùng các thân cận—có khả năng điều khiển mọi loại thực vật quanh Rostruch. Cậu không rõ bằng cách nào, nhưng họ có thể khiến cây phát triển với tốc độ phi thường, hoặc di chuyển những cành dây thường bất động để tạo tường hoặc đặt bẫy.

Tức là chừng nào còn ở Rostruch, là còn ở trong hang cọp!

Bất kì lợi thế nào họ có thể có cũng sẽ bị triệt tiêu bởi thực tế như vậy. Và chưa hết…

“Chuyện gì đang xảy ra vậy?”

“Các thân cận của Lãnh Chúa Yggdra!”

“Họ đang đuổi theo người đó sao?”

“Chẳng biết hắn đã làm gì để bị phải hình phạt thiêng liêng nhỉ?”

“Ê, hai người, khoan đã!”

Đó giờ vì sợ Ulrike và những người còn lại, cư dân thị trấn dường như đang bày tỏ sự kính trọng lớn lao trong lúc cô đuổi Yukinari và Dasa qua thành phố. Thế rồi, tản mác, dân làng bắt đầu đứng trước mặt Yukinari, cố chặn đường cậu.

Tệ rồi đây. Cậu vốn đã bất lợi ở đây rồi—Nếu mọi người trong thị trấn coi cậu là kẻ thù, thì cậu sẽ hoàn toàn bị rơi vào lồng.

“Yuki… Những người ở đây ngưỡng mộ… thổ thần của họ…”

“Nhìn là biết rồi!”

Cậu tiếp tục chay, né hết rễ này đến rễ khác từ đất chồi lên và có nguy cơ làm cậu vấp. Là một thiên thần, cậu được phú cho sự nhanh nhạy và sức dẻo dai đặc biệt để tiếp tục việc này, nhưng một người thường thì hẳn đã bị bắt từ lâu rồi.

Chắc chắn là họ không giống những người thờ thổ thần ở Friedland.

Tại làng của cậu, vốn có sự kính sợ sâu sắc đối với thần địa phương, nhưng không có sự gắn bó. Cũng đúng thôi. Người ta đang đối phó với một sinh vật có thể đảm bảo mùa vụ tốt, nhưng đồng thời cũng ăn thịt người. Chẳng có con chuột nào mà lại muốn gần gũi với mèo cả.

Trái lại, người ở Rostruch rõ ràng cảm thấy có gì đó như tình cảm với thổ thần của họ, Yggdra. Chẳng hạn, chàng thanh niên họ bắt chuyện ở chỗ đám rước hồi nãy không hề tỏ ra bất kì sự sợ hãi hay ghê tởm nào đối với ý tưởng tế những thứ này cho thần của mình.

Có lẽ điều đó tức là…

“Yuki… Không còn nhiều thân cận đuổi theo chúng ta nữa rồi.”

“Hở…?”

Cậu ngoái lại, chỉ một khắc, và thấy Dasa nói đúng: mười thân cận đuổi theo họ lúc nãy, giờ chỉ còn ba. Ulrike thì vẫn đang lao ở tuyến trước, cơ mà…

“Nếu… cẩn thận, chúng ta có thể… cắt đuôi chúng.”

“Em có nghĩ mỗi thân cận có một mức độ năng lực khác nhau không?”

“Điều đó… chắc chắn có khả năng.”

Có lẽ họ được kết nối với thổ thần, nhưng nếu thân thể phàm nhân của vật tế vẫn còn hạn mức, thì dĩ nhiên kiểu gì họ cũng sẽ tới giới hạn thể chất của mình. Người già tập tễnh và trẻ con bé tí chỉ có thể chạy nhanh và nhảy xa, nếu có chung sức mạnh với thổ thần.

Nếu bằng cách nào đó chúng ta có thể cắt đuôi ba người vẫn còn đang đuổi, thì biết đâu sẽ thoát được…

Yukinari đặt lại Durandall đằng sau lưng, thay vào đó lôi ra vài viên .44 Magnum trong túi.

“Xin lỗi, Dasa. Phải bỏ em xuống rồi.”

“Dạ.”

Cậu dừng lại chỉ vừa đủ lâu để đặt cô nàng tự đứng, và rồi hai người có tiếp tục chạy. Yukinari cầm đạn trong lòng bàn tay và tập trung tinh thần.

Không cần phức tạp. Và ruột có thể được tái sử dụng. Một ống chứa đầy thuốc súng đen và kíp nổ, có gắn chất nổ để mồi lửa. Thứ nữa, hỗn hợp bột magiê và kim loại, thường dùng để nhóm lửa khi cắm trại. Ngòi có thể giống súng. Dây nối dài có thể chạy từ kíp để nó không nổ trong tay.

Cậu chỉ có thể xoay sở được một phiên bản thô của thứ vũ khí, nhưng đành phải vậy thôi. Bằng sức mạnh tái cấu trúc vật lí, Yukinari tạo ra một ống trụ chỉ lớn hơn cỡ chai nước quả 350mL một chút.

“Giờ thì…” Yukinari chọn một tòa nhà lớn gần đó và đạp đổ cánh cửa. “Xin lỗi vì đã tự tiện vào nhé!” cậu vừa nói vừa xông vào, nhưng không ai đáp lại. Có vẻ là cậu đã đoán đúng: đây không phải nhà, mà là một chỗ chứa. Chỉ có một hai cánh cửa sổ nhỏ, gần trên trần, có lẽ để giúp lưu thông khí; bên trong tối om, và có mấy đống rương gỗ.

Hoàn hảo.

Yukinari ngoái lại—và quẳng cái ống trụ đang cầm. Nó liệng trong không trung, kéo theo thứ trông như một sợi chỉ, cho tới khi ở ngay trên đầu Ulrike và các thân cận đang đuổi theo khác.

“Dasa, nhắm mắt lại!” Yukinari hét, và kéo sợi chỉ.

Ngòi đã hoạt động, và một giây sau, quả bom mù mà cậu vội vã tạo ra phát nổ.

Trong nháy mắt, bên trong nhà chứa tràn ngập ánh sáng tới mức như thể làm mờ đi mọi thứ khác. Bất cứ ai nhìn thẳng vào nó sẽ bị mù một thời gian ngắn. Và còn tệ hơn nếu như mắt đã quen dần với bóng tối.

“…Ổn rồi.”

Khi mở mắt ra, cậu thấy Ulrike và hai thân cận còn lại đang đứng đó, rõ là không nhìn được gì cả. Ít ra, họ không chạy thẳng về phía cậu và Dasa.

Đây là thời cơ của cậu. Yukinari tới bức tường gần nhất và đập tay phải vào nó.

Tái cấu trúc vật lí.

Ngay sau đó, có một tia sáng trắng xanh và một phần của bức tường biến thành bụi, để lại một lỗ hổng đủ lớn cho một người bước qua. Khi không phải tạo ra gì cả, mà chỉ đơn giản hấp thụ thông tin cấu trúc, cậu có khả năng thực hiện chiến thuật này.

“Dasa.”

“Mn.”

Cậu lại quắp cô nàng dưới tay trái. Lúc này, khi ngoái lại, cậu không thấy thân cận nào của Yggdra cả.

Justin Chambers lệnh cho mọi người ra khỏi phòng mình, nơi lão ta tiến hành tự nhốt mình lại. Lão chỉ cho phép một người lưu lại: nhà giả kim—và nghe đồn là tình nhân—Jaroslava Vernak. Họ đã thường xuyên ở hai mình với nhau trong phòng lão thậm chí trước khi lão trở thành Dominus Doctrinae, khiến nhiều người phải suy ngẫm về mối quan hệ của họ.

Nhưng nếu bất cứ ai có gan và cơ hội để nhìn trộm vào phòng Justin ngay lúc đó, hẳn là họ sẽ thất vọng. Và sau đó họ sẽ bị sốc bởi những gì nghe được.

Jaroslava ngồi trên băng ghế đối diện bàn làm việc của Justin. “Về vụ thiên thần mới,” ả nói. Nghe có vẻ chán nản. “Dạo này Giáo Hội cảm thấy thế nào?”

“Một chủ đề tế nhị đấy. Đã có rất nhiều sự phản kháng đối với việc tạo ra các thiên thần mới kể từ sự cố Thiên Thần Xanh. Có nỗi lo sợ rằng một con mới cũng sẽ có thể trốn thoát. Còn có cả những kẻ tin rằng chúng ta nên bỏ hết các thiên thần thuộc sở hữu đi,” Justin nói, lướt mắt qua vài giấy tờ trên bàn làm việc.

“Chúng sợ.” Jaroslava có vẻ đang thích thú. “Chúng đã nghĩ rằng những thứ đó chẳng là gì ngoài công cụ. Giờ thì chúng thao thức hằng đêm tự hỏi rằng bao giờ thì con tiếp theo quay ra cắn chúng. Dễ thương sợ. Mặc dù sẽ chẳng bao giờ có chuyện đó đâu.”

Sự kiện đã làm Giáo Hội lung lay tới mức làm dấy lên một số hiểu lầm—cụ thể là, sự hiểu sai về nguyên nhân và ảnh hưởng của vụ việc. “Thiên Thần Xanh” đã giết Dominus tiền nhiệm, cùng với năm thành viên cấp cao khác của Giáo Hội và không dưới ba mươi hiệp sĩ của Lệnh Thánh bảo vệ họ. Thế nhưng sinh vật này— “Bluesteel Blasphemer,” một tên gọi khác—là một trường hợp đặc biệt.

Thiên thần chưa bao giờ có nghĩa là tự nhận thức. Chúng được sinh ra để là những con búp bê sống. Các nhà giả kim sử dụng một “linh hồn” người—hoặc thứ gì đó có tên như vậy—để điều khiển sức mạnh tâm linh cho phép các thiết bị giả kim thuật sống này hoạt động. Nhưng vì Giáo Hội khó lòng có thể chịu được việc các dụng cụ, các thiên thần, hành động theo ý chúng, mọi yếu tố có thể khiến sinh vật thành người đã bị tước đi trước khi thiên thần được đánh thức. Đây là trường hợp với tất cả mười hai mẫu được tạo ra trước Bluesteel Blasphemer.

Nhưng vì những lí do không ai có thể hiểu được, một nhà giả kim—tên Jirina Urban—chịu trách nhiệm tạo ra thiên thần thứ mười ba dưới ủy quyền của Dominus tiền nhiệm, đã thất bại trong việc loại bỏ bản ngã gắn liền với linh hồn. Nói cách khác, cô ta đã bỏ qua một bước trong quá trình và tạo ra một thiên thần sở hữu sự tự ý thức.

Cô ta đã bị đẩy đến cái chết vì việc đó—và chỉ khi biết điều này thì Bluesteel Blasphemer mới phát điên. Tức là “Thiên Thần Xanh” đã không tự nhiên nổi khùng, mà đòi hỏi sự trả thù cho việc sát hại Jirina, “mẹ” của nó. Khả năng các thiên thần khác trở nên điên loạn, gần như hoàn toàn, là bằng không. Ấy vậy mà…

“Mặc dù vậy, ta không tin sự cảnh giác của chúng là hoàn toàn không có cơ sở.” Cuối cùng, Justin ngước nhìn Jaroslava. “Ngươi đề xuất rằng thiên thần thứ mười bốn—một con có bản ngã, giống như Blasphemer—nên được tạo ra, phải không?”

“Đúng. Và tôi vẫn giữ quan điểm đó.” Jaroslava mỉm cười và gật đầu. “Công cụ và những con rối thì tốt cho các nhà truyền giáp. Quá đủ để tạo ra một vài phép lạ. Nhưng giết Bluesteel Blasphemer ư? Các thiên thần chúng ta có sẽ còn hơn cả vô dụng. Rối thì chỉ là rối; chúng không thể di chuyển nhanh hơn kẻ kéo dây.” Ả nói thờ ơ, như thể đang nói những điều hoàn toàn hiển nhiên. “Một con rối cần sự chỉ dẫn chính xác từ người khiển rối thì chẳng có hy vọng gì đánh bại được Bluesteel Blasphemer. Thậm chí xét về tốc độ nó có thể đạt được tái cấu trúc vật lí, thì cũng không có cửa.”

Sự cố Bluesteel Blasphemer có thể được gọi là tệ nhất trong lịch sử Giáo Hội. Công chúng tuyệt đối phải được ngăn chặn không cho biết rằng một thiên thần đã nổi loạn và giết gần bốn mươi người, bao gồm đầu não của Giáo Hội cùng vài cộng sự thân cận nhất. Nếu các tín đồ có thứ bậc phát hiện ra, niềm tin của họ vào Giáo Hội sẽ bị lung lay đến tận gốc rễ.

Đương nhiên, một sự kiện tầm cỡ như vậy được nhiều người trong Giáo Hội biết đến. Nhưng về mặt công khai, chúng tuyên bố rằng Dominus Doctrinae đã qua đời khi một nhà thờ mới xây ngài đang thanh tra sụp đổ. Còn các chi tiết thật sự thì được giữ chặt trong vòng kiểm soát.

Điều này cũng đồng nghĩa là không thể thành lập một nhóm lớn, và còn công khai, để truy tìm và tiêu diệt Bluesteel Blasphemer. Nếu muốn thủ tiêu nó, chúng sẽ phải làm trong thầm lặng. Chúng sẽ phải ám sát nó.

Ngay cả Bluesteel Blasphemer cũng không bất tử; hẳn phải có cách để giết nó. Có khi là vài cách. Nhưng trong trận chiến một chọi một, gần như không thể có chuyện con người chiến thắng được thiên thần có bản ngã này. Và tuy các thiên thần của chúng có khả năng tương tự, rối thì không bao giờ có thể thắng.

Điều chúng cần là một nhóm nhỏ các cá nhân sở hữu sức mạnh của thiên thần và có thể sử dụng chúng một cách tự chủ. Càng ít người liên quan càng tốt, vì thế sẽ giúp ngăn chuyện lộ ra ngoài.

Justin gõ gõ ngón tay. “Ta sẽ giải quyết sự đối lập nội bộ bằng cách nào đó.” Ngón tay lão ta gõ vào mặt cứng của bàn, như thể đang nhẩm thời gian hay đếm gì đó. Ấy là thói quen mỗi khi lão đang cân nhắc một vấn đề. “Và ngươi, Jaroslava Vernak. Câu hỏi đặt ra là liệu ngươi có thể tạo ra một thiên thần sánh ngang với sản phẩm của Jirina Urban hay không. Ta có căn cứ để hiểu rằng cô ta cho tới nay là nhà giả kim thành công nhất của chúng ta về lĩnh vực homunculi.”

Jaroslava nhún vai. “Tôi sẽ giao cho ngài sự bảo đảm không chính thức của tôi,” ả nói. “Song Jirina Urban là một nhà giả kim cực kì có tài. Cô ta có kiến thức tích lũy từ các thế hệ của nhà Urban, và tôi chắc chắn cô ta là một thợ homuncili giỏi hơn tôi. Nhưng cô ta có để lại một vài ghi chú. Tôi không nghĩ việc dùng chúng để tạo ra thứ gì đó đánh được với Bluesteel Blasphemer khó khăn đến vậy.”

“Còn linh hồn cho bộ máy điều khiển sức mạnh tâm linh?”

“Tất nhiên, tôi có ý tưởng rồi.”

“Tốt lắm.” Justin lại nhìn xuống đống giấy. “Đã vậy thì, ta muốn ngươi chuẩn bị, để có thể tạo ra thiên thần của chúng ta bất cứ lúc nào.”

“Vâng, thưa Đức Thánh.”

“Ta chẳng đặc biệt có hứng thú với điều gì cao cả như trả thù cho người tiền nhiệm của mình.” Justin lại bắt đầu gõ ngón tay. “Nhưng đây là một sinh vật ghét chúng ta, mà sự tồn tại của nó là sự tàn phá với Giáo Hội, và hơn thế nữa lại còn bất khả chiến bại. Để một sinh vật như vậy tiếp tục tồn tại chỉ tổ nguy hại cho chúng ta mà tôi. Chúng ta phải giải quyết triệt để vấn đề này.”

“Như ngài nói, hỡi Dominus Doctrinae thánh thượng.” Jaroslava làm cử chỉ giả tạo bằng một tay, như thể đang lập một lời thề long trọng—nhưng dường như không kém phần thích thú.

Chạy thẳng về chỗ Sleipnir đỗ thì đúng là quá ngu ngốc. Yukinari không biết liệu đám người tham gia đám rước có thấy cậu và Dasa tới bằng phương tiện cơ giới hay không, nhưng nếu có, thì rất có khả năng ở đó có mai phục. Nếu người dân thị trấn đã được huy động, và kết cục là hai người họ bị bao vây, thì sẽ chẳng còn đường nào thoát nữa—hoặc có lẽ sẽ có, nhưng sẽ dính dáng tới việc giết vài người Rostruch, và chắc chắn cả thân cận, Ulrike.

Yukianri rất muốn tránh điều đó hết sức có thể.

Phải thừa nhận rằng, một phần trong cậu nghĩ rằng ý tưởng đó quá ngây thơ, rằng đã quá muộn cho một giải pháp hòa bình, cơ mà—cứ gọi cậu là thằng ngu cuồng hòa bình đi—cậu không thể gạt bỏ sự kinh tởm khi nghĩ đến việc bắn phụ nữ và trẻ nhỏ. Cậu đã chết và được hồi sinh ở thế giới mới này, và cậu tin rằng nhân phẩm định hình danh tính Yukinari của cậu được tạo nên từ một hệ giống giá trị mà cậu đã có thể có được từ cuộc sống bình yên tại Nhật Bản hiện đại, ở thế giới trước.

“Yuki…”

“Suỵt.” Cậu đặt ngón tay lên môi Dasa, rồi luồn lách vào tòa nhà bỏ hoang vừa phát hiện. Nó được xây bằng gỗ, giống như mọi nhà khác, nhưng bị hư hại chỗ này chỗ nọ; không có vẻ là có ai vốn đang tu sửa nó.

Yukinari đang tính trốn trong này cho tới khi vụ Ulrike lắng xuống.

“Các người là ai?”

Yukinari chết lặng trước câu hỏi bất ngờ. Tệ rồi đây. Cậu đã cho rằng nới này bị bỏ hoang, song có vẻ là ở đây có người. Nếu hét lên, họ có thể dễ dàng khiến các thân cận hoặc người dân thị trấn ùn ùn kéo đến. Nên chạy không? Cố bịt miệng người sống trong nhà này? Nhưng ngay vào khoảnh khắc cậu đang cố gắng quyết định –

“Àà, vẻ bề ngoài khiến mấy người nghĩ nơi này bị bỏ hoang, phải không? Tôi không thể sửa sang gì cả, nên nó cứ nát dần vậy đấy. Xấu hổ quá.”

Giọng rất mỏng, nhưng tốt bụng; không có nét lo lắng. Yukinari và Dasa giữ tâm thế thận trọng, vẫn cẩn thận quan sát xunh quanh. Và tại đó, bên trong, người cất tiếng ngồi. Hoặc có lẽ đúng hơn là ngồi dậy.

Một người được chống lưng ở trên giường. Anh ta lúc nãy có lẽ đang nằm xuống. Giọng anh yếu như người già cả, nhưng khuôn mặt—đặc biệt là đôi mắt—cho thấy anh vẫn còn trẻ. Nhưng má thì hóp, tay thì toàn da bọc xương. Hẳn là anh bị bệnh. Và bệnh gì đó nghiêm trọng, ở vào giai đoạn cuối. Chỉ nhìn qua là thấy rồi.

“Xin lỗi,” Yukinari nói. “Chúng tôi đang kiểu như là bị truy đuổi…” Nếu anh ta không định la lên, thì tốt hơn hết là đối xử hòa nhã.

“Truy đuổi?”

“À, ừm…”

“Không cần phải đứng đâu. Cứ ngồi xuống.” Anh chàng ra hiệu cho Yukinari, không hề tỏ ra chút nghi ngờ.

Yukinari không phản ứng lại ngay. Cậu nhận thấy Dasa đã lôi “đôi tai” của cô ra và đeo chúng lên đầu. Một thiết bị thu thập âm thanh có hình dáng giống tai động vật. Cô nàng đã trải qua khoảng thời gian bị mù quá lâu tới mức thính giác cũng gần tốt bằng thị giác, và đôi khi còn tốt hơn, trong việc nắm bắt những gì diễn ra xung quanh. Thiết bị này tận dụng khả năng đó.

Dasa, lúc đầu cũng không nói năng gì, nhưng cô gật đầu với cậu. Miễn là cô còn đang nghe, đám thân cận sẽ không thể đánh lén họ. Nhưng rồi cô đã nghiêng người và thì thầm với Yukinari:

“Bên trong. Ai đó đang thở.” Có vẻ là người kia không một mình trong căn nhà này.

“Được rồi, cảm ơn,” Yukinari nói, ngồi xuống một băng ghế gỗ. Dasa ngồi kế bên cậu.

“Mẹ,” thanh niên nói. “Mẹ, chúng ta có khách.” Vì lí do nào đó, anh ta vừa nói vừa ngước lên trần nhà.

Căn nhà này, cũng như những căn khác, chỉ có một tầng. Anh ta không thể đang gọi lên tầng hai. Vậy tức là…

“Có vẻ như là họ đang gặp chút rắc rối. Con định là để họ nghỉ ở đây một lát. Như vậy được chứ?”

Không có câu trả lời thành tiếng. Yukinari và Dasa lặng lẽ quan sát. Anh chàng cười ngượng ngịu.

“Mẹ tôi đã khá già rồi. Còn tôi thì bệnh tật, như các bạn thấy, và chẳng mấy chốc nữa. Dạo này tôi không còn thấy gì nữa rồi.”

“Không… thấy… gì…?”

Chi tiết đó nhận được phản ứng từ Dasa, có lẽ vì bản thân cô nàng vốn dĩ mù bẩm sinh. Nghe cô nói có vẻ thờ ở, nhưng chứa đựng sự cảm thông trong lời lẽ—mà không, sự đồng cảm. Như mọi khi, một nét rất mờ nhạt đến mức chỉ mình Yukinari nhận ra, cơ mà…

“Phải, ít nhiều.” Anh chàng nói mình bị mù có vẻ cũng nhận ra điều đó. Hẳn là, giống Dasa, thính giác của anh chàng đã cải thiện để bù đắp cho việc mất đi thị lực. Một nụ cười mỏng nở trên mặt anh. “Tôi thừa nhận rằng nó có thể bất tiện, nhưng tôi chẳng sợ. Bởi điều đó tức là sớm thôi tôi có thề về với Lãnh Chúa Yggdra.”

Dasa hết nhìn anh chàng rồi Yukinari với gương mặt thảng thốt. Yukinari khẽ gật đầu với cô, rồi hỏi nhẹ nhàng hết mức có thể, “Lãnh Chúa Yggdra… Ngài ấy là thổ thần của khu vực này, phải không?”

“Ủa, bất thường… Các người là người lạ phải không?”

“Phải. Ờm, những người du hành.”

“Vậy sao? Ngạc nhiên thật đấy. Đúng, như các bạn nói, Lãnh Chúa Yggdra là thổ thần của chúng tôi. Chúa Tể là mẹ, là người bảo hộ của chúng tôi.”

“Mẹ…?” Yukinari nheo mắt khi từ này xuất hiện.

“Chúng tôi được sinh ra tại mảnh đất Lãnh Chúa Yggdra trị vì, bú sữa từ phước lành của Lãnh Chúa Yggdra, và rồi một ngày sẽ về với Chúa Tể. Một vài trong số chúng tôi, như tôi và mẹ tôi, thì sớm hơn những người khác.”

Vậy tức là trở thành vật tế? Nhưng chẳng hề có sự sợ hãi trong giọng anh chàng. Có vẻ là, người dân ở thị trấn này thực sự coi việc bị tế cho Yggdra như một cái chết dễ dàng. Vậy mà…

“Anh thực sự không sợ bị tế cho thổ thần chút nào ư?” Yukinari hỏi.

“Bị tế…?” Anh chàng dường như tỏ ra bối rối. “Vật tế… À, ra vậy. Ý anh là vật tế sống. Tôi cho rằng nói theo cách đó nghe đáng sợ thật đấy. Nhưng trở về với Lãnh Chúa Yggdra là một niềm vui. Đặc biệt với những người già cả, hoặc những ai không có hy vọng khỏi bệnh như tôi. Sống như một phần của Lãnh Chúa Yggdra—như Cô Ulrike.

Vậy ra thân cận mang tên Ulrike ban đầu cũng là vật tế.

“Chúng tôi đơn giản là trở về với Lãnh Chúa Yggdra.”

Một dạng lá rụng về cội, hử?

Khi còn ở trong bụng mẹ, con người không cảm thấy lo lắng hay sợ hãi, được bao quanh và cung cấp bởi nước ối. “Trở về với Lãnh Chúa Yggdra” đại diện cho khát khao về quãng thời gian đó. Nhiều người cảm thấy bình tĩnh hơn khi ở một nơi tối và ấm áp, được vây quanh—chẳng hạn, một nơi như tử cung hoặc dạ con—và kiến trúc noi theo mong muốn này là phổ biến trong các tòa nhà tôn giáo.

Điều này cũng liên quan đến ý niệm tái sinh, quan niệm rằng có một cuộc sống khác ở mặt xa của cái chết. Theo cách hiểu này, cuộc sống con người khởi đầu từ bụng mẹ và cuối cùng trở lại với nó, hết lần này đến lần khác, phần linh hồn của một chu kì vĩnh cửu.

“Yuki.” Dasa kéo mạnh tay áo Yukinari.

“Ừm. Anh ta…”

Nụ cười của anh chàng không có vẻ gì là giả tạo hay làm bộ. Anh ta thực sự tin vào điều mình nói, từ tận đáy lòng.

Yukinari ban đầu đã nghĩ rằng sự hiến tế cho Yggdra là về việc phó mặc người già cho số phận của họ—những hy sinh nhỏ để bảo vệ trước một thảm kịch lớn. Ít ra, đó là điều người ta có thể nói để an ủi bản thân.

Nhưng việc được dâng lên Yggdra rõ ràng không được người này xem như là một tấn bi kịch. Còn chẳng phải là trợ tử. Đó thực sự là sự cứu rỗi cho những người quá yếu ớt để có bất kì hy vọng nào khác.

“Yggdra, hử…”

Nhìn người đàn ông đang mỉm cười, Yukinari dần bị thuyết phục rằng điều họ làm kế tiếp, sẽ phải liên quan đến gặp mặt—không phải các thân cận của Yggdra, mà chính bản thân vị thần.


Xin chào! Đây là website chính thức của nhóm dịch truyện ValvrareTeam. Mấy đứa cùng sở thích cùng làm với nhau thôi. Light Novel trên đây được chúng tôi dịch hoàn toàn miễn phí ra phiên bản tiếng việt, tuy nhiên chúng tôi không khuyến khích các bạn sao chép lên website khác. Cảm ơn vì đã quan tâm."
© 2017 ValvrareTeam. Mã nguồn sử dụng Wordpress. Máy chủ sử dụng Vultr
Made with in Novel