Tập 2 – Chương 3

Tập 2 – Chương 3
4.7 (93.53%) 34 votes

THÔNG BÁO


Hiểu đúng về Trader Coin, Cách Trader Coin an toàn.

QÙA TẶNG DÀNH CHO NGƯỜI MẤT GỐC TIẾNG ANH HOẶC ĐANG CẦN HỌC TIẾNG ANH

“Tất cả gia súc đều đã chết hết rồi, và bao nhiêu dụng cụ không thể thay thế cũng đã bị phá hỏng cả.”

“Trời…”

Những người dân vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn kể cả sau khi đã chiếm lại được ngôi làng khỏi tay lũ quỷ. Họ đã mất rất nhiều vật nuôi cũng như dụng cụ lao động. Mọi người đều làm mặt nghiêm túc trong khi thảo luận về vấn đề theo nhiều khía cạnh. “Ta phải đến Buồm Trắng mua đồ tích trữ thôi…”

“Nhưng còn chuyện tiền bạc thì sao?”

“Với cả ta cũng cần người giúp nữa.”

Có một từ lạ lẫm xuất hiện trong cuộc trò chuyện của họ nên tôi hỏi Menel. “Buồm Trắng là gì vậy?”

Menel nhìn tôi cứ như thể đang nhìn một người ngoài hành tinh vậy. Không lẽ “Buồm Trắng” là tên một nơi mà bất cứ ai sống ở đây cũng phải biết sao?

“Đến bó tay mất thôi, ông bị sao vậy?” Menel hỏi. “Mới từ trên núi xuống hả?” Rồi cậu ta giải thích ngắn gọn qua cho tôi về lịch sử vùng này.

Có vẻ như thời đại của Blood và Mary giờ được gọi là Thời đại Liên minh, khi đủ tất cả giống loài đã cùng hợp sức lập nên một khối liên minh. Trừ những vùng ở biên giới như ở đây ra, thì đó là một thời đại hoàng kim bình yên không có nhiều xung đột.

Tuy nhiên, cuộc xâm lược của quỷ đã gây ra cuộc Đại Biến Động, và Liên minh tan rã. Southmark thất thủ trước cuộc tiến công của quỷ. Một Trăm Anh Hùng—đó là từ dùng để chỉ Blood và những người đã giúp đỡ ông ấy—đã giết được tên quỷ vương, nhưng đồng thời nhân loại cũng bị buộc phải từ bỏ lục địa này một thời gian.

Vượt qua kênh đào và vùng biển Trung Hải trong đất liền, loài người đã rút lui về Grassland ở phía bắc. Nhưng những tác động của cuộc Đại Biến Động đã khiến hệ thống chính quyền trung tâm của Grassland mất khả năng cai quản, và lục địa nhanh chóng phân chia thành nhiều vùng nhỏ hơn luôn tranh chấp quyền lực với nhau. Không có cách nào để nhanh chóng giải quyết mâu thuẫn giữa các phe phái quân sự, và trong khi cuộc đấu đá quyền lực vẫn đang diễn ra, chẳng có bên nào để tâm đến chuyện xử lý bóng đen đang bao trùm Southmark, một vùng đất xa xôi chứa đầy undead, quỷ, và goblin.

Phải đến sau khi Vương quốc Fertile thống nhất được phía tây nam của Grassland thì tình hình mới chuyển biến một chút. Trong suốt vài thập kỷ qua, họ đã thực hiện chính sách mở rộng và tái thiết để chiếm lại Southmark, và Buồm Trắng là tên một thành phố cảng hiện đang là trung tâm của những nỗ lực tái thiết đến từ phương bắc.

Thảo nào cậu ta lại sửng sốt nhìn tôi như vậy khi thấy tôi không biết nơi đó.

Mà nói tóm lại thì, Buồm Trắng, thành phố cảng ở phía bắc Southmark cũng như căn cứ cho kế hoạch tái thiết, là một nơi lúc nào cũng tấp nập thuyền chứa người nhập cư và hàng hoá để buôn bán. Và với nhiều thuyền bè đi qua lại như vậy, tất nhiên là những người đáng ngờ, những người có việc cần giấu diếm, cũng như những người bị buộc phải rời khỏi quê nhà mình cũng sẽ xuất hiện rồi.

Thời đại này vẫn gần như không có một quy định nhập cư tử tế nào, nên ta chẳng có cách gì đuổi những người ấy đi cả. Có những người lao đầu thẳng vào các tổ chức tội phạm thống trị thế giới ngầm ở Buồm Trắng, trong khi những người khác thì lẩn đi chỗ khác, rồi dựng nhà dựng cửa ở vùng ranh giới biên cương, nơi tầm ảnh hưởng của tầng lớp cai trị không thể với đến. Những khu định cư độc lập kiểu như vậy mọc lên rải rác khắp Rừng Mãnh Thú.

“Ngoài những dạng người kiểu vậy ra, còn có rất nhiều thám hiểm giả đến nữa. Dù cậu cũng có thể nói là hai loại người đó cũng chẳng khác nhau là bao…”

Theo như Menel bảo, “thám hiểm giả” là một nghề mà ta kiếm bánh mì sống qua ngày bằng cách thám hiểm những tàn tích từ Thời Liên Minh cũng như làm những việc giống như lính đánh thuê. Thám hiểm giả không phải là một tổ chức thống nhất; họ là những người lang thang mà gần như thị trấn lớn nào cũng có, bọn họ nhận việc ở một quán rượu riêng nào đó và sẽ hoàn thành chúng miễn là được trả tiền. Đại đa số bọn họ là những người không có vận may gì và không thể sống một cách tử tế, nhưng cũng chính vì vậy nên họ mới coi những tàn tích từ Thời Liên Minh là cơ hội để họ đạt được ước mơ của mình.

“Nếu ta mà vớ bở kiếm được một hũ vàng nào đó thì bùm, ta tự dưng giàu xụ ngay. Tự dưng được đổi đời chỉ trong nháy mắt như vậy. Những người mơ được như vậy tự gọi mình là thám hiểm giả và đổ về đây. Nhưng nói cho cùng thì cũng không chỉ có họ. Còn có những người muốn trở thành anh hùng, những người làm theo chỉ dẫn của thần mình giống như cậu—đủ loại người khác nữa.”

Vậy là ta không thể gộp chung bọn họ là những người sống trong cảnh nghèo đói được. Đây có vẻ là một nghề khá là phức tạp nhỉ.

“Cậu cũng có lý do của riêng mình phải không?” Menel hỏi. “Cậu được nghe chỉ dẫn và giờ đang đi giúp đỡ mọi người, nên chắc là cậu muốn truyền bá đức tin của mình, kiểu như vậy phải không? Vốn dĩ đức tin vào Gracefeel đã từng bén rễ sâu trong lục địa phía nam này mà.”

“Hừmm… Cậu nói thêm được không?”

Sau khi hỏi Menel thêm một chút, tôi biết được rằng thần của ngọn lửa hoá ra đã từng là nền móng của tôn giáo ở Southmark.

Tuy nhiên, sự bùng nổ của loài quỷ sau Đại Biến Động hai trăm năm trước đã làm Southmark trở nên hỗn loạn, khiến cho tín đồ của Gracefeel phải tản mác ra. Chỉ có một vài người may mắn đến được Grassland phía bắc và giữ cho tên của cô ấy tiếp tục được lưu truyền. Nhưng không giống như những vị thần lớn khác có số lượng tín đồ đông đảo và không chỉ tập trung trong một vùng nhất định nào đó, lòng tin vào Gracefeel đã bị giảm xuống đáng kể sau sự kiện này.

Quỷ và mãnh thú đang hoành hành khắp nơi. Có nhiều nơi dân làng chỉ có thể chật vật sống sót qua ngày, và đôi khi cùng cực đến nỗi phải đi làm trộm cướp. Đức tin thì đã tụt giảm đến mức sắp biến mất hoàn toàn. Tình hình đúng là chẳng khả quan chút nào. Và tôi cảm thấy còn tệ hơn nữa sau khi nhận ra mình đã được thần giao nhiệm vụ phải giải quyết nó.

Blood, Mary, Gus? Ngoài này đáng sợ quá. Tôi than vãn trong đầu. Rồi tôi chầm chậm hít vào và thở ra.

Nói thật thì, chuyện này quả thật đúng quá sức đối với tôi, tôi chỉ muốn có ai đó gánh vác nó hộ mình mà thôi. Nhưng tôi đã thề với vị thần của mình và hứa sẽ sống một cách tử tế rồi. Dưới danh nghĩa đức tin của mình, tôi sẽ làm tất cả những gì mình có thể làm. “Đầu tiên là phải giải quyết xong ngôi làng này đã.”

“Về chuyện đó. Cậu đã làm quá đủ rồi, nên tôi thấy rất áy náy vì phải nhờ điều này, nhưng những người ở đây không có tí tiền nào. Nếu được thì liệu họ có thể vay—”

“Menel, ta đi thám hiểm tàn tích đi! Rồi sau đó có gì chia nhau sau!”

“Hả?” Menel há mồm.

“Không thể tin là đến cả khoản thám hiểm tàn tích cậu cũng giỏi thế này…”

“Tôi quen rồi mà.”

Menel và tôi đã chinh phục những tàn tích xung quanh làng, và đồng thời cũng giúp dẫn lối cho linh hồn của những undead đang lang thang ở đó.

Tôi đã bị Blood và Gus quẳng vào hệ thống đường hầm ở thành phố của người chết để bắt luyện tập vất vả hằng ngày, nên tôi khá là giỏi khi làm mấy chuyện kiểu này. Kinh nghiệm hồi còn làm thám hiểm giả cũng đã giúp đỡ Menel rất nhiều; cậu ta đi lại cứ thoăn thoắt.

Bằng cách thu thập tiền và những dụng cụ phép thuật trong tàn tích, Menel đã kiếm được đủ số tiền cần để tái thiết làng, và tôi cũng thu hồi được khoản chi phí mình đã bỏ ra. Nghe nói quanh đây vẫn còn rất nhiều tàn tích chưa ai động đến, nên có vẻ như tôi sẽ có thể gom góp được số tiền mình cần, ít nhất là cho đến hiện giờ.

“Nói thật đấy, cậu là ai vậy…” Menel thắc mắc thành tiếng.

“Cậu đã bảo là sẽ không định tọc mạch còn gì?”

“Ừ, và tôi vẫn đang định làm vậy, nhưng mà… hầy.”

Tôi đang đi về phương bắc cùng với Menel. Bọn tôi có cùng một đích đến—Buồm Trắng, thành phố thịnh vượng nhất Southmark—nhưng lý do bọn tôi đến đó thì lại khác nhau.

Menel thì đơn giản: cậu ta đến đó để mua động vật dùng để cày kéo, cũng như nhiều loại dụng cụ mà ngôi làng của Marple cần.

Còn tôi thì có nhiều lý do. Tôi muốn giúp Menel, tôi muốn điều tra hoạt động của lũ quỷ trong Rừng Mãnh Thú, và tôi muốn biết thêm về những lục địa và quốc gia trên thế giới này. Xử lý hoạt động đáng ngờ của lũ quỷ, giúp thần của ngọn lửa truyền bá đức tin, giúp đỡ các ngôi làng—tất cả những điều này đều cần tôi trước tiên phải đến một thành phố nơi con người và hàng hoá tụ hội đã.

Chúng tôi đang đi bộ qua Rừng Mãnh Thú. Cảnh vật quanh con đường mòn gần như chẳng thay đổi tí gì, và những tán cây dày đặc không để cho chút tia nắng nào chiếu qua cả. May thay, vì giờ đang là mùa đông nên những bụi cây không quá rậm rạp, nhưng dù vậy, chúng tôi đã đi lâu đến mức tôi có cảm giác như mình đang đi vòng tròn vậy. Suốt mấy ngày qua tôi chỉ thấy cùng một cảnh mà thôi.

Cả hôm nay cũng vậy, chúng tôi đã đi bộ được khoảng nửa ngày rồi, và trong khi những tia nắng mặt trời bắt đầu rọi được xuống, tôi không còn kìm được nữa. “Chúng ta vẫn đang đi đến nơi… phải không?”

“Tất nhiên rồi,” Menel nói. “Bắt đầu nản chí rồi à?”

“Kiểu vậy.”

“Mà… Cũng chẳng trách được. Tôi cũng muốn mau đến một ngôi làng nào đó, hoặc ít nhất cũng là một đồng bằng rộng rãi. Mấy bông lúa mì vụ đông chắc đang vẫy vẫy trong gió vào mùa này. Cảnh đẹp lắm đấy.”

“Ồ, nghe hay đó,” tôi nói, giọng trở nên hào hứng hơn trong khi tôi tưởng tượng ra khung cảnh đó.

Và rồi, một tiếng thét thất thanh chói tai vang vọng khắp rừng, rồi một giọng nói thứ hai phát lên. “Có ai không! C-Cứu với!!”

Menel và tôi nhìn nhau, rồi ngay lập tức chạy về hướng giọng nói phát ra.

Có một tiếng rống gầm vang.

Đó là tiếng gầm của một con vượn khổng lồ có lông màu nâu đen. Con vượn cao hơn hai mét, và tôi ước lượng cân nặng của nó cũng phải gần ba trăm kilogram.

Nó chắc phải được miêu tả bằng từ đồ sộ. Tay chân nó chắc nịch. Cả người nó, cổ nó, môi nó, mắt nó—tất cả đều bự và phồng to. Nó làm tôi liên tưởng đến cách miêu tả trong những chuyện võ thuật mà tôi từng được đọc ở kiếp trước.

Một tiếng thét thất thanh khác vang lên. Có hai người đang hoảng hốt chạy trốn khỏi con vượn, hướng về phía bọn tôi. Một người đàn ông gầy gò đeo ba lô trên lưng, trông giống như người bán hàng rong. Người còn lại thì đang đeo một loại nhạc cụ có dây nào đó trên lưng, đó là một cô bé—không—

“Hừm, halfling sao,” Menel lẩm bẩm.

Cô ấy đúng là rất thấp, và chạy khá là nhanh so với kích cỡ cơ thể của mình. Cô gái đó có hai tai nhọn như lá cây, và một mái tóc xoăn màu đỏ. Tôi đã từng được Gus dạy về halfling—họ là một tộc người tí hon vui vẻ luôn đi lang thang khắp nơi, ưa thích việc ca hát, nhảy múa cũng như ăn uống… Hừm, giờ không phải là lúc nghĩ về chuyện này nhỉ.

Hai người họ đang chạy bán sống bán chết về phía bọn tôi. Cô gái nhỏ nhắn chạy đuổi kịp người đàn ông đang cầm theo hàng hoá và bắt đầu vượt qua ông ta. “Anh làm cái gì vậy?!” cô ấy la lên. “Vứt hết! Vứt hết ngay, cái đồ đần thối này!”

Người bán rong mặt trông trắng nhợt và mồ hôi hổn hển vì phải chạy. “Nhưng—” anh ta bắt đầu nói.

“Không có nhưng nhị gì cả! Trời ơi, sao lại là mình chứ?!”

Trước khi kịp cãi cọ thêm thì con vượn đã lao về phía họ, và với hai tiếng la đồng loạt vang lên, họ bắt đầu chạy về hai phía ngược nhau. Tận dụng cơ thể nhỏ nhắn của mình, cô gái lăn vào một khu đất bị nhiều tán cây che phủ.

Có vẻ như cô ấy sẽ trốn thoát được.

Nhưng rồi cô gái nhìn về phía người bán rong, và thấy rằng bây giờ anh ta lại là người đang bị đuổi. Hai mắt cô ánh lên vẻ quyết tâm. Cô ấy hét lên “Này! Ở phía này nè!” rồi nhặt một cành cây lên và ném nó về phía con vượn. Rõ ràng là cô đang muốn thu hút sự chú ý của nó.

Nhưng tôi đã kịp đứng vào giữa cô ấy và con thú rồi.

“Nhìn đâ—aa?! A-Ai thế—Đ-Đợi đã-Cẩn thận…!”

Khi con vượn nhìn thấy tôi lao ra trước mặt, nó dừng chân lại. Hai con mặt bự chảng của nó xoay trong hốc mắt, nhìn chằm chằm vào tôi. Và rồi, với cái mồm mở to, nó rống lên và doạ tôi bằng cặp răng nanh nhọn hoắt trong mồm nó. Tiếng rống của con vượn làm không khí như bị rung chuyển.

Tôi nhìn thẳng vào mắt nó, không chớp mắt.

Nó lại rống lên một lần nữa, lấy tay vỗ vỗ vào ngực. Đó là một âm thang khá là đặc biệt, giống như tiếng một dàn trống khổng lồ vậy.

Tôi nhìn thẳng vào mắt nó, không chớp mắt.

Ở phía rìa tầm nhìn của tôi, Menel có vẻ như đang giúp người bán rong đứng dậy, nhưng tôi vẫn không có ý định rời mắt khỏi con vượn. Tôi vẫn tiếp tục nhìn. Con vượn nhìn lại tôi trong khi phát ra một tiếng gầm rất trầm. Blood đã bảo tôi rằng khi đối đầu với một con thú hoang, ta sẽ thua cuộc vào giây phút ta nhìn đi chỗ khác.

Sao nào. Mày muốn vật nhau à? Có giỏi thì nhào vô.

Tôi tiếp tục nhìn chằm chằm, cho con vượn biết rằng tôi rất sẵn lòng muốn đánh nhau với nó. Tiếng gầm của nó cứ bé đi dần, rồi nó bắt đầu lùi lại. Cuối cùng, cuộc đọ mắt kết thúc khi con thú nhìn đi chỗ khác, rồi nó xoay người và quay trở lại vào sâu trong rừng.

Tôi thở phào.

Tôi không cần phải đánh nhau. May quá, tôi nghĩ, rồi quay đầu lại.

“Hai người có ổn không?” tôi nói, và rồi cô gái halfling như nhảy chồm về phía tôi.

“Vừa rồi là sao vậy?! Vừa rồi là sao vậy, ảo quá ảo quá ảo quá! Nè nè, nói tôi nghe đi, cậu là ai vậy, thám hiểm giả à?! Vượn khổng lồ không có dừng lại chỉ bằng cách nhìn vào chúng đâu, cậu làm gì mà hay thế!”

Cặp mắt đầy hiếu kỳ của cô ấy như đang lấp lánh lên.

“Tôi là Robina! Robina Goodfellow! Tôi là một người hát rong, tôi hát, tôi múa, tôi nhảy, gió đưa tôi đi đâu thì tôi đi đó, cậu có thể gọi tôi là Bee! Còn cái tên đụt này là Antonio, một người bán hàng rong! Nhưng tôi gọi ảnh là Tonio! Thuyền bè của công ty buôn bán nơi anh ta từng làm việc đều lần lượt chìm hết, và rồi công ty phá sản. Nên giờ anh ta làm một người bán rong dọc đường ở vùng biên giới!”

Robina có một mái tóc xoăn màu đỏ và một cơ thể giống trẻ con. Một cô gái halfling—mà tôi gọi cô ấy là một cô gái được không? Hay là một “người phụ nữ trẻ” nhỉ? Trông thì nhỏ, nhưng cô ấy chắc có tuổi đời còn dài hơn cả con người, nên tôi cũng không biết giờ cô bao nhiêu tuổi rồi. Nhưng ít nhất thì tôi biết một điều: cổ nói nhiều thật đấy. Đây là lần đầu tiên tôi gặp một người như vậy.

“Hahaha… Tôi không nghĩ là mình còn điều gì để còn nói nữa. Xin chào, tên tôi là Antonio. Cứ gọi tôi là Tonio cũng được. Như Robina đã nói, tôi chỉ là một người bán rong thấp hèn mà thôi. Tôi đang trên đường trở về nơi mình làm việc ở Buồm Trắng thì… ôi chà, đúng là nguy hiểm thật đấy. Cảm ơn cậu rất nhiều.”

Antonio là một người đàn ông râu ria khoảng tầm ba mươi bốn mươi tuổi. Anh ta trông rất hiền hoà và thân thiện, nhưng hơi lù đù, không có chút khí sắc gì cả… Nên ừ, không có ý xúc phạm anh ta, nhưng tôi cũng hiểu vì sao Robina lại gọi anh ấy là “đụt.”

“Tôi là Meneldor. Tôi từng là thám hiểm giả, nhưng giờ tôi làm thợ săn ở vùng này. Tôi đang định vào thị trấn để mua chút đồ. Còn đây là—” Menel nhìn sang tôi.

Tôi chưa bao giờ giỏi khoản tự giới thiệu cả—cả ở thế giới trước lẫn ở đây. Lần nào làm vậy tôi cũng bị căng thẳng hết. “William. William G. Maryblood. Tôi là một thám hiểm giả, cũng như tu sĩ của thần của ngọn lửa, Gracefeel.” Tôi không quên nở một nụ cười. “Cứ gọi tôi là Will cũng được.” Chắc vậy ổn rồi nhỉ.

“Cái tên quý tộc thật đấy, đợi đã, cậu vừa nói Gracefeel sao?! Là Gracefeel ‘đó’ phải không, ở phía nam ấy! Vị thần gần như không còn có tu sĩ nào nữa! Cậu là một phát hiện mới à nha! Và cậu không chỉ là tu sĩ mà còn là một chiến binh tài giỏi nữa? Chắc là vậy phải không, chứ không thì làm gì có ai đứng ngay trước một con vượn khổng lồ như vậy?! Thế tóm lại là đúng hay không nào?!”

“Đúng vậy đó,” Menel trả lời thay tôi. “Trông hơi lừ đừ vậy thôi chứ cậu ta giỏi lắm đấy. Suốt quãng đường tôi đi cùng cậu ta đến giờ, gần như chẳng có con thú nào tấn công bọn tôi cả.”

“Nghĩa là đến cả bọn thú cũng biết cậu ta mạnh đến thế nào và né tránh đi sao?! Ôi cha, tuyệt thật đấyyy!”

Hửm? “Bình thường có nhiều mãnh thú hơn thế này à?” tôi hỏi.

“Có thể nói là vậy… Thế nên nơi này mới được gọi là Rừng Mãnh Thú mà.” Kể cả Antonio cũng đang nhìn tôi như thể tôi có vấn đề gì vậy.

“Còn hai người thì sao, đi một mình à?” Menel hỏi và nhìn xung quanh. “Hai người không có vệ sĩ sao? Hay là họ bị giết hết rồi?”

“À thì, về chuyện đó… nói ra thế này có hơi xấu hổ, nhưng bọn họ đều bỏ chạy hết khi chúng tôi gặp con vượn khổng lồ…”

“Rồi mấy tên đó còn làm loạn lên đến nỗi đánh động con vượn, để rồi xem chuyện gì xảy ra này! Bình thường vượn khổng lồ không bao giờ tấn công người cả!” Robina nghe có vẻ đang rất bực mình. “Nhìn đáng sợ vậy thôi chứ thực ra chúng hiền lắm!”

Sau khi nghe vậy, Menel phá lên cười. “Vậy là mấy tên đó không có chuẩn bị gì, chém hai người tiền trả trước, và rồi cao chạy xa bay hả! Ông anh phải luyện mắt nhìn người tốt hơn nữa nếu muốn làm thương gia đấy!” Rồi cậu ta vừa cười khúc khích vừa vỗ vỗ vào vai Antonio vài cái, tỏ lòng cảm thông. Antonio trông rất xấu hổ và rụt rè.

Có vẻ đây là chuyện mà bất kỳ thám hiểm giả nào cũng phải trải qua một hoặc hai lần. Sốc thật đấy… Mà quan trọng hơn, vậy nghĩa là hai người này giờ không còn ai bảo vệ nữa.

“Thế giờ hai người định làm gì?” tôi hỏi. “Nếu muốn—”

“Nếu muốn thì bọn tôi đi cùng cũng được,” Menel chen vào. “Hai người có thể trả bọn tôi sau.” Ánh mắt cậu ấy như muốn nói rõ, Cứ để tôi lo chuyện thương lượng cho!, thế nên tôi buộc phải ngậm mồm lại.

“Hừmm. Thế cậu muốn bọn tôi giúp gì?”

“Tôi đang định mua vài con gia súc để kéo cày ở Buồm Trắng. Tôi mới giúp tên này đi săn tàn tích một chút và cũng kiếm được kha khá, thế nên tôi định dùng số tiền này để giảm bớt gánh nặng cho mấy người ở làng.”

“A, ra vậy! Vậy thì tôi sẽ rất sẵn lòng giúp đỡ rồi. Tôi có quen một thương lái khác, để tôi giới thiệu cậu cho ông ta.”

“Cảm ơn nhiều nhé. Xin lỗi vì đã nói chen vào. Tên này có hơi… kiến thức thực tiễn của ổng vẫn còn nhiều lỗ hổng.”

“Ồ, vậy là tôi đoán đúng về vụ xuất thân quý tộc hả? Đúng là cậu ta toát ra vẻ như vậy phải không?! Kiểu như được lớn lên trong sự che chở vậy, hoặc còn có thể gọi là, hơi ngờ nghệch chẳng hạn…”

“N-Nghe nè, không việc gì phải suy đoán về xuất thân của tôi như vậy, tôi có nói thì mọi người cũng chẳng tin đâu, mà với lại, đấy cũng không phải là thứ tôi có thể dễ dàng nói ra được…”

“Vậy cậu là một thám hiểm giả xuất thân quý tộc nhưng buộc phải giữ bí mật quá khứ của mình vì hoàn cảnh quý tộc nào đó?! Tôi hiểu mà! Và không chỉ có vậy, mà cậu còn là tu sĩ của một vị thần đã bị lãng quên nữa! Wahaa! Tuyệt vời thật đấy! Tâm hồn nghệ sĩ của tôi đang thích thú lắm rồi đây!”

Đợi đã… gì cơ? Có vẻ như dù bọn tôi có nói gì đi nữa thì cũng chỉ làm cô ấy hiểu lầm thêm mà thôi…

Sau bữa đó, chúng tôi dành thêm vài ngày nữa đi trên con đường mòn, ngắm nhìn cảnh sắc mùa đông không bao giờ thay đổi của Rừng Mãnh Thú.

Robina và Antonio nhanh chóng trở thành Bee và Tonio. Tonio rất hiền và giỏi việc rút ngắn khoảng cách giữa anh ấy và những người khác; còn Bee, cô ấy chẳng có kiêng nệ gì cả, đến nỗi tôi tự hỏi không biết trong đầu cô ấy còn có khái niệm không gian riêng tư không nữa.

Mỗi khi chúng tôi đến một ngôi làng, cô ấy sẽ lại hào hứng reo lên kiểu như “Woohoo! Tui đến rồi đây!” cũng như hớn hở cười to, và rồi giúp cho mọi người ở đó có một quãng thời gian vui vẻ. Sau khi cô ấy đã hát hò nhảy múa để làm sôi động bầu không khí cũng như được cho nhiều tiền bo rồi, Tonio sẽ bắt đầu dựng sạp bán hàng. Vào lúc đó, tất cả mọi người đều đang vui vẻ nên sẽ chi tiêu thoáng hơn.

Họ phối hợp với nhau khá là hiệu quả. Đến cả Menel cũng phải trầm trồ trước cách hai người họ kinh doanh. Theo như cậu ấy nói, cũng giống như tất cả mọi thứ khác, người bán hàng rong cũng có người tốt và người xấu. Không phải ai cũng như Tonio; có rất nhiều người bán hàng xông xáo cũng như những người bán chẳng khác mấy tên trộm vặt là bao. Nếu vậy thì có lẽ Tonio đúng là đã đến từ một công ty buôn bán có uy tín thật.

Tonio giờ đã có thêm tôi, và anh ấy cũng đang tận dụng hết mức có thể yếu tố mới này. Bee giúp mọi người tụ tập lại, rồi tôi sẽ hỏi xem trong số họ có ai bị thương hay ốm đau gì không và chữa trị cho họ, sau đó chúng tôi sẽ tổ chức một buổi ăn mừng họ lành bệnh và biến nó thành một buổi tiệc thật to. Nghe bảo nhớ phương pháp mới này mà hai người họ có thể tổ chức tiệc còn nhanh hơn cả trước kia.

“Được rồi,” tôi nói. “Mọi người có vấn đề gì thì để tôi xem cho.”

Tôi dùng phép màu Cure Illness (Chữa Bệnh) và Close Wounds (Liền Vết Thương) lên càng nhiều người càng tốt.

Cũng giống như bản chất của phép thuật là định hình lại sự hỗn mang bằng cách sử dụng Từ Ngữ, bản chất của giáng phước là viết lại thực tại bằng cách dùng sự ảnh hưởng và lòng nhân từ của những vị thần, những thực thể bậc cao trong thế giới này. Nhưng nói thật thì nhìn cảnh mọi người được chữa trị lành lặn như thể chưa bao giờ bị thương như thế này trông cũng hơi đáng sợ thật, chắc khác nào khi ta tẩy đi những chỗ sai và viết lại mọi thứ một cách dễ dàng vậy. Phép thuật của con người sẽ không bao giờ có thể sánh được với sự vĩ đại của thần.

Giáng phước khá là cứng ngắc—ta cần phải trở thành tín đồ của một trong nhiều vị thần, mỗi người đều có một chuyên môn riêng—vậy nên nó không phải là một phạm trù bao hàm cả phép thuật, mỗi lĩnh vực đều có vài điểm khác nhau, nhưng mỗi khi xem xét lại giáng phước, tôi lại một lần nữa nhận ra nó đáng kinh ngạc đến nhường nào.

Sức mạnh này là thứ tôi vay mượn từ Gracefeel. Tôi phải cẩn thận không được lầm tưởng rằng nó là sức mạnh của riêng mình. Nếu lỡ nghĩ như vậy thì tôi chắc chắn sẽ chẳng có chuyện tốt lành gì xảy ra đâu.

“X-Xin lỗi,” bà nội trợ được tôi chữa cho vết xẹo bỏng trên tay hỏi, “tôi nên trả cậu bao nhiêu tiền vậy…?”

“Ồ, bác không cần phải làm vậy đâu. Con vẫn chỉ đang tập sự mà thôi, bác nên cảm ơn thần của ngọn lửa chứ không phải con. Nếu bác vẫn thấy áy náy thì hãy mua gì đó từ Tonio cũng được.” Người phụ nữ cúi đầu cảm ơn tôi vài lần rồi đi ra chỗ Tonio đang bày bán đồ. Menel cau mày nhìn tôi khi nghe tôi nói mình đang “tập sự.”

Tôi đâu có lừa cô ấy đâu… Đúng là tôi vẫn đang tập sự mà…

Và thế là chúng tôi đi từ làng này đến làng khác, vừa chữa trị cho người dân, vừa ca hát buôn bán trong suốt cuộc hành trình mười ngày đi về phía bắc.

Tôi không biết liệu chúng tôi đã đi được bao xa; đường mòn trong rừng luôn luôn quanh co, và chúng tôi cũng đã nhiều lần đi vòng để dừng chân ở những ngôi làng mà Tonio biết. Theo cảm tính thì tôi thấy mình đã đi được khá xa rồi, nhưng chuyển đổi nó thành con số chiều dài cụ thể thì không phải là việc dễ dàng gì.

Nói tóm lại thì, hôm nay vẫn lại là một ngày khác trong khu rừng u ám này.

Sau khi dành bao nhiêu thời gian chẳng làm việc gì khác ngoài đi lại, đột nhiên có tiếng Bee lớn tiếng hò reo ở phía đầu nhóm. Trong khi chạy lại chỗ cô ấy để xem có chuyện gì, quang cảnh xung quanh tôi cứ sáng dần lên, và rồi tầm nhìn của tôi trở nên thông thoáng hẳn ra.

Cả hai bên đều không còn cây cối nữa, và xung quanh cũng hết tối tăm u ám.

Khi tôi ngước nhìn lên, ánh nắng đang chiếu rọi xuống, mặt trời giờ đã ngả về phía tây. Một bầu trời trong xanh báo hiệu mùa xuân đến đang trải ra trên đầu chúng tôi. Tôi hướng mắt nhìn xuống, con đường uốn lượn mềm mại về phía chân trời, hai bên là hai dãy cánh đồng, tạo nên một bức tranh sơn mài với những sắc màu tự nhiên. Một cơn gió thoảng qua, khiến cho những bông lúa mì non xanh mơn mởn lắc lư theo.

Dù tiết trời không còn lạnh nữa, nhưng tôi vẫn không khỏi nổi da gà.

“CON ĐƯỜNG LÚA MÌ!! YAHHOOOO!!”

Bee nhảy nhót xung quanh, rồi nắm lấy cả hai tay Tonio và xoay vòng vòng.

Menel trầm ngâm đứng nhìn cảnh lúa mì lắc lư theo chiều gió.

Quy mô của cánh đồng cũng làm tôi phải đứng lặng người một lúc—nhưng rồi Bee nắm lấy tay tôi, và thế là tôi cũng bị quay vòng vòng theo. Tôi không khỏi bật cười và bắt đầu đùa nghịch với cô ấy.

Tuy nhiên, vì chơi đùa quá lâu, nên lúc chúng tôi còn chưa kịp đến ngôi làng gần nhất thì mặt trời đã bắt đầu lặn rồi. Viếng thăm vào lúc đêm khuya và bị tưởng nhầm là trộm cướp thì sẽ chẳng hay ho gì, nên chúng tôi quyết định dựng trại nghỉ đêm trong một ngôi đền nhỏ mà mình tình cờ đi qua.

“Heheh, hôm nay tôi đang cao hứng đây!” Bee nói. “Hay là để tôi biểu diễn cho mọi người nhé? Miễn phí luôn!” Cô ấy lấy ra một nhạc cụ có ba dây trông giống như quả lê (thật ra nó được gọi là rebec) và đặt cây vĩ lên dây đàn một cách vô cùng bay bướm.

“Ồồồ!” Menel trầm trồ. “Hào phóng à nha.”

Bee cười hãnh diện. “À phải, giờ còn phải chọn bài nào để chơi nữa. Trong số các bài nhạc hiện nay… Reystov Kẻ xuyên thấu được chơi quá nhiều rồi, nhưng mà Chuyện về Berkeley Can Đảm thì lại cũ rích quá…” cô ấy trầm ngâm nghĩ một lúc. “A biết rồi! Tôi có thể chơi một thiên hùng ca về Ba Anh Hùng nổi tiếng trong chiến công tiêu diệt Thượng Vương. Hiền Giả Lang Thang, Chiến Tinh và Con Gái Yêu! Mọi người thấy thế nào?”

Tôi tưởng như tim mình vừa mới ngừng đập.

“Ồ, ý hay đó.” Tonio nói.

“Có vẻ là một lựa chọn hợp lý đấy.” Menel nhận xét.

“Mà nghĩ lại thì cũng lâu rồi tôi chưa chơi bài này. Ưm, sao vậy, Will?”

“À-Ư, không có gì, không có gì đâu! Cậu cứ chơi đi! Tôi cũng muốn nghe thử!”

“Ôhô! Được, được, vậy mới phải chứ! Tốt lắm, vậy ta bắt đầu nào!”

Những cung đàn bắt đầu cất tiếng hát. Đó là một giọng hát đượm buồn, gợi cho ta nhớ lại những ký ức về một mái nhà đã xa. Tim tôi đập loạn nhịp.

“Thời gian không bao giờ dừng chân, không, có lẽ chính chúng ta mới là những người đang bước đi.” Giọng nói bình thường lúc nào cũng hào hứng của Bee giờ đã trở nên tang tóc thê lương, từng lời từng lời một đều cất lên rõ ràng trong màn đêm. “Chàng chiến binh mạnh mẽ, vị hiền giả mưu trí, người thánh nữ tiết hạnh—kể cả họ cũng đã phai tàn theo những tuần trăng, cho đến khi chẳng còn gì sót lại ngoài tro tàn và cái tên còn sống mãi…”

Tiếng dây đàn vang vọng trong đêm tối.

Họ vẫn còn sống.

“Dẫu vậy, tiếng đàn vẫn sẽ mãi cất lên, cầu nguyện rằng những chiến công của họ sẽ trở thành vĩnh cửu, tên tuổi họ mãi mãi vang vọng trong những trang sử hào hùng.”

Giọng nói của cô ấy thắp lên một niềm hào hứng không diễn tả nổi trong lòng tôi.

Họ vẫn còn sống.

“Đêm nay, tôi kể về chiến tích Diệt Wyvern, một trong vô số chiến công của Ba Anh Hùng…” Bee cười với tôi, “Mọi người, xin hãy im lặng lắng nghe.”

Họ vẫn còn sống! Tên tuổi họ vẫn còn sống mãi đến tận bây giờ!

Trong một ngôi đền nhỏ tối tăm và bụi bặm, giai điệu đàn rebec vang vọng lên, quyện vào cùng với tiếng lửa trại lách tách.

Sau phần giới thiệu, Bee kể về những anh hùng trong chuyện một cách đầy tài tình. Tôi ngẩn ngơ, cảm giác cứ như thể mình đang trôi nổi trên không vậy. Niềm kiêu hãnh, niềm hạnh phúc cứ ngập tràn trong tôi… Những ký ức về chuỗi ngày đó thân thương đối với tôi đến vậy đó.

“Đầu tiên, một đứa trẻ sinh ra tại phương nam, trong một khu làng hẻo lánh của những người man di. Tương truyền khi cậu bé cất tiếng khóc chào đời, một ngôi sao từ chòm sao Sư Tử rơi xuống. Đứa trẻ lớn lên khoẻ mạnh, và lên đường hướng đến tương lai vô định với thanh quỷ kiếm được rèn bởi sao băng trong tay. Được biết đến với những cái tên Sư Tử, Thanh kiếm Sao, Lưỡi kiếm cho thuê, Món quà của Thần dành cho Chiến tranh… anh ta là Blood, Chiến Tinh. Con đường anh đi là con đường của máu và lửa, và tiếng thét chiến thắng của anh tựa như tiếng gầm của sư tử.”

Tim tôi đập liên hồi. Chết tiệt, Blood, sao cha chẳng chịu nói tí gì về mình hết vậy. Hoá ra đó là quá khứ của thanh kiếm đó…

“Ở một hòn đảo trong Trung Hải là một đứa trẻ sơ sinh với năng khiếu: khả năng tương đồng bẩm sinh với Từ Ngữ. Khi quê nhà của cậu bị quân cướp tấn công, cậu đã dùng sương mù để ngăn chặn và đánh đuổi chúng. Những nhà thông thái thời đó mời đứa trẻ thiên tài đến nơi họ để giáo dục. Ở đó, cậu bé liên tục học nhảy cấp, càng ngày càng lên cao. Nhưng không lâu sau cậu đã quyết định từ chức, và nói lên những lời bất hủ: ‘Trong học viện không hề có sự thật.’ Nhà Lang thang Phóng khoáng, Bộ óc vĩ đại không được công nhận, Triều cường, Người am hiểu văn hoá—đây là những cái tên của Gus, vị Hiền Giả Lang Thang. Tên thật của ông thế giới không ai biết, liệu có ai hay trái tim và trí não ông sâu thẳm đến nhường nào?”

Không ai biết cái tên Augustus sao? Mà nghĩ lại thì, Gus đã từng nói rằng có một vài pháp sư, những người sử dụng Từ Ngữ, nghĩ rằng cái tên của họ cũng là những Từ Ngữ chứa đựng sức mạnh nên đã che giấu chúng, chỉ tự gọi mình bằng biệt danh hoặc một ký tự viết tắt. Có lẽ lý do ông ấy dễ dàng nói tên thật của mình cho tôi là vì Gus đã không còn cẩn thận về chuyện đó nữa sau khi chết.

“Vậy người phụ nữ xuất thân từ đâu? Liệu nàng là một nữ quý tộc có tài dùng phép ở đất nước này; liệu nàng là công chúa của một vùng đất phương xa. Hay không lẽ, cặp mắt xanh lục bảo lấp lánh của nàng là do tinh linh tụ hội thành, còn mái tóc vàng óng mượt của nàng là tinh hoa của tất cả những gì lộng lẫy trên trời cao. Nhưng dù nàng có tới từ nơi đâu đi nữa, thế gian nào có ai không hay rằng linh hồn của một nữ thần đang ngụ trong tấm thân thiêng liêng đó. Thánh nữ của phương nam, Cô gái mộ đạo không vụ lợi, Sứ giả của Phước lành, Đoá hoa Thanh nhã… Mary, hay còn được biết đến là Con gái của Mater. Đôi bàn tay trắng trẻo và hiền từ, thậm chí còn có thể thuần hoá cả mãnh thú của cô tựa như vầng sáng chói lọi xoá tan bóng tối.”

Có vẻ như không ai biết về quá khứ của Mary, và cô ấy được cho là có xuất thân quý tộc. Tôi cũng phải công nhận là cách ứng xử có phẩm cách của cô ấy sẽ khiến ta nghĩ như vậy, nhưng nếu Mary mà nói với tôi, “Ồ, không phải vậy đâu. Thật ra ta được sinh ra trong một túp lều nghèo nàn thôi mà!” Thì tôi cũng sẽ dễ dàng tin vậy.

Bởi lẽ Mary rất thích loay hoay trong khu vườn để cày xới và gieo hạt hoa mà. Và rồi mỗi khi xuân về, hoa trong khu vườn cạnh ngôi đền lại đua nhau đâm trồi nẩy lộc…

“Những ngày đó đã đi xa rồi…”

Giọng nói, khuôn mặt, lời nói của họ—chúng lấp đầy lấy tâm trí tôi, khiến cho nước mắt bắt đầu trào ra.

“Ahh, hỡi những ký ức và xúc cảm nhiều như sao trên trời: nếu bạn không còn có thể trở về nhà nữa, thì hãy để tôi cất tiếng hát to, và chắp cánh cho bạn đi theo cơn gió đến phương trời xa…”

Câu chuyện bắt đầu.

Blood hoá ra đã từng là một lính đánh thuê lang thang. Thời đại Liên minh vốn rất yên bình, nhưng dù vậy, ở những vùng hẻo lánh như thế này vẫn có rất nhiều cuộc xung đột nổ ra chống lại goblin, mãnh thú, cũng như con người. Blood là một trong những côn đồ chuyên đi đánh nhau, kiếm tiền bằng cách nhúng mũi vào đủ loại xung đột khác nhau.

Mà nghĩ lại thì, tôi nhớ là ông ấy đã từng một lần dạy cho tôi một bài học rất chi là đáng ngờ về các mẹo để không vướng vào rắc rối khi kiếm tiền bằng kỹ năng chiến đấu của mình. Chắc là nó có liên quan đến việc này.

Và rồi một ngày, một vụ việc nọ đã khiến cho Blood gặp Gus, và thế là hai người họ cùng nhau giải quyết nó. Người kiếm sĩ nóng nảy đã học hỏi được từ vị hiền giả, và tìm được cách kiềm chế bản tính hoang dã của mình cũng như truyền trí thông minh vào từng nhát kiếm—ít nhất thì đó là theo chuyện Bee kể. Nhưng nếu tính tình của họ khi đó vẫn như hồi tôi biết họ, thì tôi thấy Gus mới là cái người thông minh nhưng tính khí thất thường, còn Blood thì ngạc nhiên thay lại là người tính tình bình thường luôn đi theo ông ấy, sững sờ những vẫn quen với bản tính của vị pháp sư.

Cuộc hành trình lang thang khắp nơi của họ tiếp tục, và rồi một ngày, Mary xuất hiện. Địa điểm và hoàn cảnh đưa họ đến với nhau vẫn là một ẩn số, nhưng thực tế vẫn là Mary đã giúp cả nhóm có thêm sức mạnh và sự quyết đoán—ừ, tôi có thể tưởng tượng ra điều đó—và thế là ba người họ, với năng lực và tính cách giờ đã được cân bằng, bắt đầu gây dựng tên tuổi cho mình và được biết đến là những anh hùng vùng hoang dã.

Sau khi giới thiệu xong rồi, Bee bắt đầu kể vào phần chuyện chính, nói rằng đây chỉ là một trong rất nhiều chiến công của họ. Câu chuyện lần này xảy ra ở gần vài ngôi làng hẻo lánh, ở đó có một con quái vật đang sống trong những dãy núi lân cận: một con wyvern.

Wyvern là những sinh vật bán long có cánh biết bay. Tuy nhiên, nếu như tôi vẫn còn nhớ đúng những điều Gus giảng, thì cộng đồng hàn lâm vẫn đang tranh luận xem nên liệt nó là bán long hay mãnh thú. Dù wyvern cũng có thể thở ra lửa giống như rồng, nhưng chúng lại không có hai chân trước cũng như nhỏ hơn, yếu hơn, và không thông minh bằng loài rồng.

Nhưng dù vậy, chúng vẫn rất nguy hiểm. Nếu muốn săn wyvern thì ta sẽ cần phải có một đội hình tinh nhuệ gồm nhiều người để tấn công tổ của nó. Nếu phải đối đầu với wyvern trên mặt đất thì ta sẽ rất khó chiến thắng vì chúng có thể hoàn toàn thống trị bầu trời.

Nghe nói vài con wyvern hiếm còn có khả năng nói được ngôn ngữ của loài rồng. Những cá thể như vậy đều phục vụ dưới trướng loài rồng và được những người thằn lằn (Trans: lizardmen) thờ cúng. Nhưng con wyvern sống trong những dãy núi đó thì lại không được như vậy mà giống một con thú hơn: nó chỉ có một trí thông minh nghèo nàn cũng như không biết nói.

Cứ mỗi lần con wyvern thấy đói bụng là nó lại tấn công những ngôi làng, phá huỷ chuồng trại, và quắp mất gia súc đi.

Những người dân làng cùng bàn bạc với nhau, và quyết định mỗi năm sẽ hiến tế một người cho con thú. Ở những vùng hẻo lánh như thế này, mạng sống của gia súc nhiều khi còn đáng giá hơn cả mạng người.

Người được chọn vào năm đó là một cô gái bán elf xinh đẹp đến từ một ngôi làng gần đó. Dòng máu elf của cô đến từ ông bà của cô; cả cha lẫn mẹ cô gái đều là con người. Và tất nhiên, người cha đã nghi ngờ vợ mình không trung thuỷ, khiến cho hai người luôn cãi nhau không ngớt.

Sau khi lớn lên, cô gái trở thành nguồn gốc của nhiều cuộc cãi vã chính bởi vì vẻ đẹp của mình. Có người đánh nhau để tranh giành cô, trong khi những người khác thì nhìn cô với ánh mắt ganh ghét đố kị. Những cuộc xích mích đó đã khiến cho mọi người giữ khoảng cách với cô, và không sớm thì muộn cô gái cũng bị chọn làm người hiến tế.

Tôi từng nghe cha mẹ mình nói rằng bán elf rất khó được đối xử công bằng trong khi sống với người, hoặc thậm chí là elf. Những đứa con bán elf đều luôn xinh đẹp, giỏi giang, và sống thọ, nhưng lại không sống lâu được như elf. Vậy nên họ chỉ còn cách đứng trên đỉnh hoặc dưới đáy xã hội, hoặc tách biệt hoàn toàn với nhân loại và sống một cuộc đời ẩn sĩ. Quá giỏi giang để làm người những lại trưởng thành quá nhanh để làm elf, ở xã hội nào cũng vậy, họ đều khó có thể được đối xử một cách công bằng. Không may là quá khứ của Menel cũng đã diễn ra giống như vậy.

Khi Mary, Blood và Gus ghé thăm ngôi làng và nghe được chuyện này, mỗi người đều có ý kiến khác nhau. Sau khi nghe chuyện, Mary tỏ ý muốn cứu cô gái, Blood hỏi chẳng nhẽ Mary cũng định nuôi nấng cô ấy luôn sao, tiền bạc chi tiêu thì sao, còn Gus thì im lặng suy nghĩ.

Tôi nghĩ là cuộc nói chuyện thật ra cũng giống vậy, nhưng hơi khác một chút. Tính cách của các nhân vật trong chuyện này có hơi khác so với thực tế, nhất là Gus và Blood, cũng như cái tính yêu tiền của Gus.

Dù thực tế có là gì đi nữa, kết quả vẫn là Blood gọi dân làng lại một chỗ vào hỏi, “Chúng tôi có thể giết con wyvern. Ở đây ai có thể trả công được? Mọi người có muốn trả tiền để giết nó không?”

Đám đông bắt đầu rì rầm, nhưng vẫn không một ai lên tiếng. Hiện giờ ngôi làng vẫn đang hoạt động bình thường. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như việc này thất bại và khiến cho con wyvern nổi giận vì bị thương? Và giả sử nếu họ thành công, những người có khả năng giết wyvern hẳn sẽ đòi một khoản tiền thưởng kếch xù. Làm gì có ai muốn làm đến vậy chỉ để cứu những người bị hiến tế?

Sau khi sự im lặng kéo dài một lúc, Blood tặc lưỡi và quay trở về chỗ trọ của họ, để lại Mary ở lại đó sau khi nói, “Thấy chưa? Thực tế là như vậy đó.”

Nhưng đêm hôm đó, ba người họ được một cậu bé nông dân nghèo tới thăm. Cậu bé trông không có vẻ gì là đã được dạy dỗ tử tế đó, thô lỗ giơ ra vài đồng xu để cho họ cầm lấy: những đồng xu bằng đồng bám đầy rỉ sét, những đồng xu bạc với cạnh đã mòn và mặt xu đen xì lại. Dù cậu không nói gì, nhưng đó rõ ràng là tất cả tài sản cậu bé tích góp được.

Blood nói, “Nhóc muốn chúng ta chiến đấu với wyvern chỉ với từng này thôi sao?”

Nhưng Gus đã giật lấy những đồng tiền từ tay cậu bé, rồi nhìn kĩ thật lâu vào những đồng xu bẩn chẳng có lấy một vết sáng bóng đó và nói, “Ồồồ, đúng thật, đây là tiền tốt đó. Nhìn nó lấp lánh chưa này.”

Tôi chắc chắn đó chính xác là những lời ông ấy đã nói, vì tôi có thể tưởng tượng ra cảnh tượng đó rõ như ban ngày.

“Cô có đồng ý không Mary?”

“Ồ, tất nhiên rồi Gus. Chúng ta đã nhận được một thứ đặc biệt biết bao.”

“Ừm. Và ta thấy, nếu chúng ta đã được nhận một thứ quý giá đến thế này…”

“Thì chúng ta sẽ phải hoàn thành nhiệm vụ của mình, có phải không?” Mary nhẹ nhàng nở một nụ cười ấm áp.

Blood bực dọc gãi đầu. “Mấy tên dễ mềm lòng này. Tự dưng đi làm việc không công,” ông ấy lẩm bẩm.

Thế là cậu bé đến bên Blood và tuyên bố, “Nếu vậy vẫn chưa đủ, thì tôi sẽ trả bằng chính người mình. Ông thấy mấy người kia rồi đấy. Sẽ chẳng ai có gan đòi lại tôi nếu ông đem tôi đi đâu. Ông muốn bán tôi cho thương lái nô lệ hay gì cũng được.”

“Nhóc còn chẳng đáng một xu,” Blood nói và lườm đanh thép.

Cậu bé vẫn không nhìn đi chỗ khác.

Blood nhe răng cười to. “Hể. Vậy là nhóc cũng có gan đấy chứ. Có vẻ như kể cả mấy đứa oắt cũng có thể làm chiến binh.” Ông nhìn cậu bé một lượt. “Ta cũng là chiến binh. Và khi một chiến binh đã cắn răng chịu vứt bỏ lòng tự trọng để xin giúp đỡ, thì chúng ta phải hỗ trợ lẫn nhau. Thế nên… còn chờ gì nữa.” Ông vò tóc cậu bé, nụ cười vẫn đang nở rộ trên môi. “Ta làm thôi nhỉ.”

“Phải.”

“Ừm.”

Và thế là ba người họ đối đầu với con wyvern.

Con wyvern bay vút lên. Nó phóng qua làn gió, hành xử như thể cả bầu trời đều thuộc về nó vậy. Nó đang nghĩ rằng hôm nay sẽ là ngày thức ăn của nó được đặt trên cánh đồng ở chân núi. Dù suy nghĩ đơn giản, nhưng nó vẫn đủ thông minh để nhận biết thời gian một cách đại khái.

Có một bệ thờ thô sơ được đặt trên cánh đồng, bên cạnh nó là vật hiến tế đang đeo khăn che mặt và cúi đầu nhìn xuống đất. Con quái thú sà xuống định ăn thịt cô.

Vào đúng lúc đó, con wyvern bị một bức tường ánh sáng đánh bật lại. Mái tóc vàng óng mượt rủ xuống khỏi chiếc khăn che mặt của người bị hiến tế.

Đó là Mary.

Không cho phép con wyvern có dù chỉ một giây để hồi phục, Gus xuất hiện phía sau bệ thờ và dùng Từ Ngữ Thắt Nút. Con wyvern ngay lập tức cố rút lui trước tình huống bất ngờ này, nhưng nó không có cách nào chống cự. Chỉ trong nháy mắt, cánh nó đã bị phép thuật chói lại, và nó đâm đầu xuống đất.

Tiếng con wyvern đập xuống mặt đất vang rội, nhưng người nó rất cứng cáp. Nó hít một hơi sâu, chuẩn bị để phòng thủ trước những kẻ địch bất ngờ xuất hiện này. Blood cất một tiếng hô xung trận rồi lao đến, thanh kiếm vẫn đang nắm chắc trong tay, sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào.

Con wyvern thở ra lửa.

Ở phía sau Blood, Mary đang cầu nguyện. Phước lành của cô ấy bảo vệ ông và làm ngọn lửa tản đi. Những ngón tay của Gus vẽ Từ Ngữ Thắt Nút hết lần này đến lần khác. Không còn có thể bay lên trời nữa, con wyvern nhe nanh và mổ đầu về phía những kẻ tấn công. Một nhát chém từ thanh song cự kiếm của Blood khiến đầu nó bay khỏi cơ thể.

Trong khoảng khắc đó, liệu cái đầu của con wyvern có nhận ra điều gì đã xảy đến đối với nó không? Ba “bữa ăn” tí hon—chỉ có vậy mà thôi. Vậy nhưng ba bữa ăn tí hon đó lại là thứ đã giết nó. Tất nhiên, chắc hẳn ý thức của nó đã phai mờ chỉ sau một hoặc hai giây bị chém đầu, những tia máu bắn ra nhuộm đỏ cả mặt đất.

Ngày hôm sau, những người dân làng đến kiểm tra bệ thờ hiến tế và thấy cái xác đã bị chặt đầu của con wyvern, với tất cả những bộ phận có thể bán lấy tiền đều đã bị lột đi hết.

Sau đó, Mary, Gus và Blood đưa cậu bé nghèo và cô gái bán elf đi cùng họ về phía một thành phố. Ngôi làng kia không còn có chỗ dành cho hai người họ nữa.

Blood hỏi xem họ định làm gì, và cậu bé trả lời rằng rồi cậu sẽ nghĩ ra cách. Nghe vậy, Blood đưa cho cậu một con dao để cầm theo. Đó là một con dao găm đã được khắc Từ Ngữ.

“Già Gus đã yểm Từ Ngữ vào đó. Nó sẽ hữu dụng hơn nhiều thứ bùa chú nhiều. Chiến binh nào cũng cần phải có một thanh kiếm ngắn hoặc dao găm phòng thân. Một trong những thứ thiết yếu đó.”

“Hai đứa cầm theo cả cái này nữa,” Mary nói và đưa cho cô gái một chiếc túi. “Cả hai nhớ phải giữ gìn sức khoẻ của mình đấy. Cô chắc quãng thời gian tới của các con sẽ rất khó khăn, nhưng làm ơn, đừng quên tầm quan trọng của lòng kiên trì quyết tâm nhé.”

Họ nhìn vào trong chiếc túi. Trong đó chứa đầy xu bạc xu đồng.

Cả hai đều từ chối nhanh hết mức có thể. Chừng này nhiều hơn hẳn phần thưởng cậu bé đã trả cho ba người họ! Cả cô gái cũng phản đối—làm sao mà họ có thể chấp nhận nó chứ. Nhưng Gus nhún vai và nói, “Hừ. Ai bảo ta không cho mấy đứa? Đây là một khoản đầu tư. Ta chỉ đang cho vay mà thôi.”

Hai người nghiên đầu bối rối. Cho vay sao?

“Bọn ta muốn hai đứa làm việc này,” Gus nói. “Hãy sống mạnh khoẻ, gia tăng của cải, và gây dựng tên tuổi cho riêng mình. Hãy khiến cho tên mình lan toả khắp bốn phương, để mỗi khi nó cất lên là lại đi kèm với một tràng vỗ tay như sấm. Và rồi khi tên hai đứa đến tai bọn ta, đó là lúc chúng ta hoặc một người đại diện được chúng ta cử ra sẽ đến và thu lại những gì mình đã cho vay, cộng với tiền lãi.”

Rồi Gus nói rằng ông sẽ nói cho họ biết tên thật của mình, đó sẽ là mật mã giữa hai bên. Và thế là cậu bé và cô gái đã biết được tên của vị Hiền Giả Lang Thang, vốn không ai trên đời hay biết.

Cậu bé và cô gái cùng nắm tay nhau và đi vào thành phố, còn Ba Anh Hùng thì đi theo con đường chính để tìm kiếm những cuộc phiêu lưu mới. Và thế là, dưới một bầu trời trong xanh, câu chuyện Ba Anh Hùng Tiêu Diệt Wyvern đã khép lại.

“Câu chuyện này còn đi kèm với một tin đồn nữa…” Bee tinh nghịch cười. “Bá tước Dagger của Vương quốc Fertile… Nghe đồn rằng họ đầy đủ của ông ấy là Wizardsdagger.” (Trans: nghĩa là dao găm pháp sư) Dây đàn rung lên, để lại những thanh âm và câu chuyện lắng đọng trong tim người nghe. “Đến tận bây giờ, trong biệt thự của ngài bá tước, có một quý bà bán elf già vẫn đang chờ đợi người đại diện của vị Hiền Giả đến.”

Vậy là…

“Vị Hiền Giả đã mất, nhưng bà vẫn tin rằng một ngày nào đó, một người đại diện biết tên thật của ông sẽ tới.”

Tên họ…

“Và rồi bà sẽ trả lại con dao găm, số tiền bà được cho vay lẫn tiền lãi, cũng như số tiền đã được gửi gắm cho chồng bà.”

Tên họ vẫn đang vang vọng.

“Và nói lời cảm ơn sự giúp đỡ của họ.”

Sau hơn hai trăm năm, chúng vẫn đang tiếp tục vang vọng, cho tới tận bây giờ.

“Và thế là câu chuyện kết thúc. Một câu chuyện về các vị anh hùng vĩ đại vang vọng suốt các trang sử, cho tới tận hôm nay… Hở? Will? Will, sao cậu lại khóc vậy?”

Khi bị cô ấy nghiêng đầu ngó nhìn mặt mình, tôi bắt đầu hốt hoảng. Mặt tôi đỏ ửng, hai mắt rơm rớm nước mắt. Tôi đã sắp vỡ oà đến nơi. “K-Khóc sao?! Đâu, tôi có khóc đâu!”

“Ồ có chứ! Mắt cậu đỏ hết cả lên rồi kìa!” Bee cười một cách hài lòng. “Cậu bị lay động vì kỹ năng kể chuyện của tôi rồi phải không?”

“K-Không, đâu có đâu!”

“Hehehe, cứ thú nhận đi!”

Chúng tôi trêu trọc và đùa nghịch với nhau rất nhiều chiều hôm đó. Trong khi cười đùa với nhau, tôi cảm giác có thứ gì đó ấm áp đang bừng lên trong lồng ngực mình.

Blood, Mary, Gus.

Trên thế giới này ngoài con ra vẫn còn rất nhiều người còn nhớ mọi người.

Vẫn còn rất nhiều người.

Đến nỗi con có thể bật khóc vì hạnh phúc.

Ngày hôm sau, tôi đã ra ngoài ngôi đền từ trước khi mặt trời ló rạng, luyện tập đâm giáo và rút giáo. Một phần là vì tôi đến phiên thức canh vào lúc tối muộn, và một phần cũng là vì tôi vẫn còn hơi hào hứng.

Giờ tôi đã biết về “Vương quốc Fertile.” Đó là một đất nước đã mở rộng từ Grassland xuống Southmark này. Bá tước Dagger là quý tộc, và dự án mở rộng xuống Southmark của Vương quốc Fertile chỉ mới bắt đầu vài thập kỷ gần đây, nên người phụ nữ bán elf trong chuyện hẳn đã quay về phía lục địa bên kia rồi. Vậy nghĩa là nếu vượt biển, thì tôi sẽ có thể tìm được một người tôi có thể trò chuyện cùng về Blood, Mary và Gus.

Hiện giờ tôi vẫn còn rất nhiều chuyện phải giải quyết, nên tôi không thể bỏ dở tất cả mọi thứ được. Nhưng một ngày nào đó tôi muốn được vượt biển và đến thăm bà ấy. Trong khi gằn giọng đâm giáo về phía trước, tôi nghĩ về việc mình đã có quyền hãnh diện tuyên bố, tôi là một thành viên trong gia đình họ.

Đôi khi thêm vào vài động tác chân, tôi lại một lần nữa đâm giáo một cách sắc bén. Và lại sắc bén hơn nữa.

Trong ngôn ngữ của kỹ thuật chiến đấu, “sắc bén” không chỉ nói về tốc độ đơn thuần. Nó chỉ sự nhanh nhẹn khi chuyển đổi giữa trạng thái bất động và hành động.

Bất động…

Chuyển động bùng nổ.

Bất động…

Chuyển động bùng nổ.

Sắc bén hơn. Sắc bén hơn. Sắc bén hơn nữa—

“Yo. Mới sáng ra mà cậu đã luyện tập chăm chỉ nhỉ.”

Một giọng nói phá tan sự tập trung của tôi. Tôi đã luyện đâm giáo bao nhiêu lần rồi? Giờ tôi đang bắt đầu thở dốc, nên chắc cũng phải được ít nhất một trăm lần rồi.

“Tonio.”

Người vừa mới bước ra khỏi ngôi đền là một người đàn ông có râu cùng với một nụ cười hiền lành. Tôi cất giáo đi.

“Ấy, không, tôi không định làm gián đoạn đâu. Xin hãy tiếp tục đi.”

“A, cảm ơn…”

Nhưng dù vậy, tôi đã quá tập trung luyện tập. Hôm nay tôi vẫn còn cần phải đi lại nhiều, nên tôi không được tự làm người mình kiệt sức bằng cách đẩy cơ thể đến giới hạn như thế này. Vì đằng nào cũng phải tập vài bài tập hạ nhiệt, nên tôi quyết định luyện tập tư thế. Tonio ngồi xuống trên một gốc cây gần đó và nhìn tôi.

“Phải nói là cậu mạnh thật đấy, Will.”

“Thật sao? Anh nghĩ vậy à?”

“À thì, tôi không biết là ý kiến của mình đáng tin đến đâu, nếu xét từ việc người nói nó đã bị lừa bởi một nhóm thám hiểm giả…” Tonio cười như để che dấu sự xấu hổ của mình.

Tôi tiếp tục nghe trong khi luyện tập tư thế với những chuyển động chậm rãi, nhẹ nhàng. Đánh bật vũ khí của đối thủ, hạ người, đâm lên từ phía dưới…

“Nhưng ít nhất thì tôi cũng có thể thấy chuyển động của cậu rất điêu luyện. Và còn một điều nữa, nếu tôi phải cho ý kiến với tư cách là một thương gia…”

“Gì vậy?”

“Tôi tin rằng cây giáo đó là một kiệt tác của người dwarf, và cậu trông hoàn toàn hoà hợp với nó. Một người hoàn toàn xứng đôi với một viên ngọc như vậy ắt hẳn cũng phải là một viên ngọc.” Anh ấy nhún vai. “Tuy nhiên, có một điều tôi vẫn không hiểu được.”

“Một điều anh không hiểu được?”

“Phải,” anh ta nói. Tôi đột nhiên nhận ra rằng ẩn dưới cặp mắt hiền lành kia là cặp mắt sắc bén của một người thương lái đang cẩn thận đánh giá một món hàng. “Điều cậu thực sự muốn là gì?”

Tôi dừng tay và nghiên đầu sang bên. “Thực sự muốn sao? Hừm, xem nào, tôi muốn thần của ngọn lửa được—”

“Đó là những khát vọng của cậu với tư cách là một tu sĩ. À, có lẽ khi đã trở thành một thánh tu sĩ, thì nó cũng trở thành phương châm sống của họ, nhưng chắc cậu cũng hiểu ý tôi rồi… Cá nhân cậu không có khao khát nào sao?”

“Tại sao anh lại hỏi vậy?”

“Vì tôi là một thương gia.” Tonio cười. “Những thứ gì có nhiều ở xa, tôi sẽ đem bán ở gần, và những thứ gì có nhiều ở gần, tôi sẽ đem bán ở xa. Một thương lái là vậy. Nghề của chúng tôi là vận chuyển hàng hoá, ban điều ước cho mọi người, và giúp cho họ thoả mãn để đổi lấy một cái giá hợp lý.”

Anh ta nói một cách cởi mở và chân thật, nhưng giọng điệu thì nghe rất nghiêm túc. Tôi chợt nhận ra rằng đây chính là phương châm sống của anh ấy.

“Vậy nhưng… Tôi không thể tưởng tượng được điều gì sẽ có thể làm cậu thoả mãn,” Tonio nói tiếp. “Bản thân cậu rất bí ẩn. Cậu có thân thể cơ bắp cũng như lòng quả cảm. Xét từ việc cậu có thể hồi phục được những vết thương và bệnh tật khó chữa, thì chắc hẳn cậu đã nhận được sự bảo hộ của thần rồi. Tôi có thể cảm nhận được nề nếp và học thức trong cách cậu ứng xử, và có vẻ như cậu cũng đã gây dựng được một khoản tài chính kha khá. Vậy nhưng, cậu lại nhạy cảm đến nỗi rơi nước mắt trước một câu chuyện nổi tiếng, cứ như thể cậu chưa trải nghiệm cuộc sống bao giờ vậy. Tôi chưa bao giờ thấy một người nào như cậu. Tôi nghĩ là chỉ lý do “quý tộc” cũng không đủ giải thích những điều đó. Cậu chẳng khác nào những hiệp sĩ thần thánh được kể trong chuyện vậy.”

Tonio cười tươi. “Vậy nên để giải đáp điều mình đang thắc mắc, tôi muốn hỏi thẳng cậu điều này khi còn có cơ hội. Cậu, với tư cách là một cá nhân, mong muốn điều gì? Hay cậu thực sự hoàn toàn là đại diện của Thần?”

Tôi phải nghĩ kỹ câu trả lời. Tôi muốn gì từ thế giới bên ngoài—từ thế giới này? Mà vốn dĩ…

“Tonio, tôi, ưm… mới chỉ gần đây thôi, tôi vẫn còn sống trong một nơi nhỏ bé và hạnh phúc cùng với những người… xem nào, họ là những người đã nuôi nấng tôi, họ là giáo viên của tôi, và tôi cũng coi họ là gia đình của mình nữa. Nhưng ngay trước khi tôi phải tự bước ra đời và sống độc lập, tôi đột nhiên bị mất những người đó và buộc phải ra đi. Tôi đã nhận được sự bảo hộ của thần của ngọn lửa thế chỗ cho họ.”

Những chuyện với thần undeath—tất cả đều thật khó tin, nhưng chúng chỉ vừa mới xảy ra vài tuần trước mà thôi.

“Tôi vẫn còn biết quá ít về thế giới này—về tất cả mọi thứ—thế nên giờ tôi chỉ đang vô thức làm theo nhiệm vụ mà thần của mình đã đặt ra mà thôi, chắc vậy.”

Tôi vẫn chưa hề biết tí gì về nơi này, nên làm sao mà tôi có thể biết được mình muốn gì từ nó chứ? Tôi nghĩ mình đầu tiên cần phải học hỏi về thế giới này, thế giới mà Blood, Mary và Gus chiến đấu để bảo vệ đã. Tôi bảo với anh ta. “Vậy nên, điều đầu tiên tôi muốn làm là học hỏi về thế giới. Tôi nghĩ tôi sẽ tìm ra điều mình mong muốn sau khi sống và trải nghiệm cuộc đời.”

Trong khi tôi nói vậy, hình ảnh Blood, Mary và Gus đang cười hiện lên trong tâm trí tôi, và tôi mường tượng ra những chiến công họ cùng thực hiện với nhau.

Tôi hơi cúi nhìn xuống một chút, ngượng ngùng. “Với lại, tôi… tôi cũng muốn có vài người bạn nữa… chắc vậy.”

Đây là thứ mà tôi đã không có được trong kiếp trước. Một nhóm bạn giống như Mary và Gus đối với Blood. Ba người họ đã là gia đình và giáo viên của tôi, nhưng đây là một thứ họ không thể cho tôi được, đây là thứ tôi phải tự bước ra thế giới và giành lấy.

“Vậy Menel không phải là bạn sao?” Tonio hỏi.

Đột nhiên bị hỏi vậy, tôi cười một tiếng trong khi nghĩ câu trả lời. “Tôi nghĩ là chúng tôi khá thân với nhau, nhưng anh biết không, cậu ấy không nhìn tôi với tư cách là một người bạn? Và tất cả những người khác đều tôn thờ tôi quá đà, gọi tôi là ‘ngài’ hoặc ‘Cha’ các kiểu…” Tôi không thể quen được với chúng, và tôi cũng thấy không thoải mái khi được ngưỡng mộ như vậy trong khi mình vẫn còn mù tịt về biết bao điều. Nếu Menel nói chúng tôi là bạn, thì tôi có cảm giác mình sẽ rất vui khi nghe vậy.

“Ừ,” tôi nói. “Bạn bè nghe có vẻ hay đó…”

Phải nói ra mới thấy. Tôi đang nói rằng mình muốn có bạn vì dù đã ở tuổi mười lăm (tính theo hệ thống đông chí), tôi vẫn chưa có nổi một người bạn nào. Chính tôi cũng phải công nhận là điều đó khá là tệ. Tệ đến nỗi bắt đầu thành buồn cười rồi. Con người ta đúng là chẳng dễ gì thay đổi thật.

“Ra vậy.” Sau khi nghe câu trả lời của tôi, Tonio vui vẻ cười. “Nếu vậy thì tôi sẽ tự ứng cử vị trí số ba vậy.”

“Hở?”

“Tôi sợ làm Menel và Robina nổi giận nếu hẫng tay trên của họ mất.”

Khi nhìn tôi nghiêng đầu lúng túng, Tonio cười to và đứng dậy khỏi gốc cây. Mặt trời đã lên cao tự lúc nào. “Được rồi. Ta đi lấy nước và bắt đầu chuẩn bị bữa sáng thôi nhỉ.”

Tonio rất giỏi nấu nướng. Bữa sáng nay, anh ta làm bánh mì bằng cách trộn bột với nước rồi nhào bột lại, cuốn nó quanh một cây gậy và nướng trên lửa trại. Đây chỉ là một món ăn đơn giản, nhưng khi ăn bánh mì nóng hổi cùng với phô mai, một chút thịt xông khói nướng qua vẫn còn đang chảy mỡ, cũng như rắc thêm chút muối lên trên, thì phải nói là ngon vô cùng.

Theo lời Bee nói, thì kỹ năng nấu nướng của Tonio chính là lý do khiến cô ấy đi theo anh. Có vẻ như cô ấy là một halfling rất thích việc ăn uống.

Còn tôi, tôi cũng đã học cách nấu nướng, nhưng những nguyên liệu có trong thành phố của người chết lại rất hạn chế, nên tôi cũng không biết nấu nhiều món lắm. Còn Menel thì, trái ngược với vẻ ngoài của mình, lại là một người không quan tâm đến múi vị miễn là có cái bỏ bụng, điều đó cũng hiện rõ trong cách cậu ấy nấu ăn. Tonio đã giúp cho những bữa ăn hàng ngày của chúng tôi thêm đậm đà mùi vị hơn nhiều.

Chúng tôi để dành chỗ bánh mì thánh tôi được ban sau khi cầu nguyện mỗi sáng làm đồ ăn vặt dọc đường. Ở thế giới này, mọi người một ngày ăn từ hai đến ba bữa. Những người lao động chân tay thường sẽ có thêm một bữa giữa ngày, và hiện giờ chúng tôi đang trong một cuộc hành trình. Việc đi lại mỗi ngày tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Tôi muốn có thêm một bữa giữa ngày nếu có thể, nhưng mặt khác, tôi lại không muốn phải dừng chân lại. Tonio là người đã đề xuất chúng tôi thắp lửa để nấu bữa sáng và để dành bánh mì thánh để ăn trưa, tôi thấy đó là một đề xuất khá là hợp lý.

“Em hỏi anh khi nào mới trở về / Anh ước mình cũng biết câu trả lời.”

Bee thường hát trong lúc chúng tôi đi.

“Vũng nước nhỏ mở ra một bầu trời / Đôi ta lặng yên nghe tiếng mưa rơi.”

Cô ấy chẳng cần quan tâm liệu nó có hợp với tâm trạng bây giờ hay không.

“Nếu không biết, chi bằng hãy nói ‘ngày nào đó’ / Ngày nào đó, ta sẽ về bên nhau / Cùng cười vui sau chuỗi ngày nhớ mong.”

Ồ, tôi cứ tưởng đây sẽ là một bài tình ca buồn, nhưng phần kết của nó thì lại đầy hy vọng. Khéo léo đấy.

“Hehe.” Bee nghe có vẻ đang rất tự hào. “Bài hát hay lắm phải không?”

“Những lời cuối cứ như một tia nắng chiếu xuyên qua làn mây vậy.”

“Đúng rồi đó!” Bee trầm trồ, cũng bị ấn tượng bởi lời nhạc giống như tôi. “Bài này hay là ở chỗ đấy.”

Đúng là cô ấy thích thơ ca nhạc hoạ thật.

Trong khi trò chuyện như vậy, chúng tôi đi qua vài ngôi làng, càng đi về phía bắc thì các làng càng thêm trù phú.

Đôi lúc chúng tôi còn đi qua những chỗ đủ lớn để coi là một thị trấn, với phải đến hơn một nghìn người sống trong đó. Ở những nơi như vậy, Tonio sẽ nhanh chóng mua bán và thu thập tin tức, rồi chúng tôi sẽ lại tiếp tục cuộc hành trình. Anh ấy trông có vẻ đã quá quen với quy trình này rồi. Một lần nữa tôi lại thầm nghĩ chắc hẳn anh đã từng là một thương gia tài giỏi.

“À phải rồi, tí nữa thì quên hỏi,” Menel nói. “Buồm Trắng giờ thế nào rồi?”

Tôi đột nhiên nhận ra rằng cậu ta đã từng sống trong một ngôi làng hẻo lánh, nên chắc cũng đã rất lâu rồi Menel mới ghé thăm thành phố cảng.

“Vương quốc Fertile giờ đang trong giai đoạn chuyển giao với vị vua mới,” Tonio nói.

“Đợi đã, vậy nghĩa là Egbert Đệ Nhị đã…?”

“Ừ,” Bee nói. “Nghe nói thuỵ hiệu (Trans: tên hiệu sau khi mất) của ông ấy là ‘Egbert Táo Bạo.’ Ông ấy chắc hẳn đã từng là một vị vua tốt…”

“Vậy là ổng chết rồi…” Menel nhắm mắt. Không hiểu sao, tôi cảm thấy bầu không khí chững chạc của một bán elf nhiều tuổi phát ra từ cậu ấy.

Theo như Tonio và Bee nói, vua của Vương quốc Fertile vừa mới mất gần đây, và đã có một vị vua khác kế vị ông ta.

Người đã phát triển đất nước cho đến bây giờ cũng như tỏ ý hăm hở muốn mở rộng xuống vùng đất phía nam là Vua Egbert Đệ Nhị, hay còn được biết đến là Egbert Táo Bạo. Sau khi mất, ông ấy được kế vị bởi con trai và người thừa kế của mình, Hoàng tử Owen. Từ những gì họ nói, tôi có cảm tưởng rằng Vua Egbert Đệ Nhị đã từng là một con người lỗi lạc, cũng như loại người có thể tự mình điều hành mọi thứ.

Dù Vua Egbert Đệ Nhị đã cai quản vương quốc rất tốt và khiến nó trở nên thịnh vượng, những lãnh chúa địa chủ thì lại không hề vui chút nào vì quyền hạn và lợi ích của họ ngày càng bị thu hẹp trước những chiến lược độc đoán của đức vua và những quý tộc làm cố vấn cho ông. Tuy nhiên, vì những việc ông ấy làm đều cho ra kết quả tốt, nên họ không thể công khai chỉ trích ông được.

Và đó là lúc Egbert Đệ Nhị đã tự làm hại bản thân bởi tính thích uống rượu của mình. Cái chết của ông đến đột ngột và được cho là do một cơn đột quỵ gây ra. Dù đã giữ nhiều tu sĩ có khả năng ban phúc lành mạnh mẽ ở xung quanh, nhưng họ vẫn không thể giúp gì ông ấy khi ông cứ thoắt ẩn thoắt hiện như vậy.

Vua Owen, người kế vị ngai vàng, giờ đang trong tuổi thanh xuân, nhưng lại bị coi là một người khá là tầm thường. Anh ta không phải là một kẻ biến chất hay suy nghĩ ngang ngạnh, nhưng anh lại không được tài năng hay khôn ngoan như cha mình. Nếu phải xét theo thang điểm như ở trường học ở kiếp trước của tôi, thì anh ta chỉ được điểm B hoặc C mà thôi, chứ không được điểm A, dù có tính thêm điểm cộng vì thái độ tốt đi nữa.

Về tính cách, anh cũng không có sự quyết đoán của cha mình, và những lãnh chúa bị vị vua trước kiểm soát đã nắm lấy cơ hội này để phản đối. Họ kiên quyết cho rằng việc mở rộng xuống phương nam là một ý tưởng tồi. Vua Owen phản đối, và nói rằng kế hoạch vẫn sẽ tiếp tục. Thế là những lãnh chúa bắt đầu phàn nàn về đủ thứ, nào là “kinh phí” này, “lực lượng” nọ, “ảnh hưởng đến khả năng phòng thủ của đất nước,” và đủ thứ trên đời khác.

“Chẳng phải vậy… khá là tệ sao?”

“Đúng vậy. Có vẻ như tình hình chính trị trong lục địa đang hơi bất ổn. Tuy nhiên, may là Southmark đến giờ vẫn chưa bị ảnh hưởng nhiều. Đó là vì em trai của Owen đã được điều đến đây. Đức ngài là một người cực kỳ có tài.”

Em trai của nhà vua, Ethelbald Rex Fertile, là một thanh niên trẻ trong tầm tuổi ba mươi. Anh là con trai của Egbert Đệ Nhị và người vợ thứ hai của ông, không có cùng một mẹ với Vua Owen; tuy nhiên, nghe nói anh được thừa hưởng từ cha mình, xuất xắc trong cả khả năng cầm kiếm lẫn cầm bút.

Vua Owen, vì lo ngại sự bất ổn chính trị nên đã ra quyết định giáng em trai mình xuống địa vị dân thường. Rồi anh phục hồi lại một gia đình quý tộc đã tuyệt diệt ở Southmark, và phong cho em trai mình tước hiệu Công tước Ethelbald Rex Southmark. Nói cách khác, anh đã bổ nhiệm em mình nắm toàn quyền điều hành công cuộc mở rộng Southmark.

Sau khi Công tước Ethel nhận tước hiệu, anh đã thu gọi một nhóm chư hầu gồm cả người giỏi về quân sự lẫn người không, hoàn tất những việc chuẩn bị cần thiết, và ngay lập tức vượt biển về phía nam. Trong khi sự hỗn loạn trên lục địa vẫn đang tiếp diễn—

“Việc tất cả những ban ngành quản lý cần thiết vẫn còn đang hoạt động quanh Buồm Trắng chính là nhờ sự cai quản tài tình của Ngài.”

Tình hình có vẻ khá là kịch tính nhỉ.

Trong khi nói về những chuyện như vậy, chúng tôi đi trên một con đường hai bên là hai cánh đồng. Những bông lúa mì bay phấp phới theo chiều gió. Bầu không khí se lạnh; hiện giờ vẫn đang là mùa đông, nhưng tôi đã có thể cảm thấy được chút khí trời mùa xuân.

Khi lên đến đỉnh đồi, tôi bắt đầu ngửi thấy mùi biển mằn mặn. Cả một chân trời biển mở ra trước mắt chúng tôi.

Đây là một khu vịnh.

Những dải đất trải dài ra ở cả hai bên, cứ như thể đang ôm lấy đại dương. Biển xanh rộn rực với hàng đoàn thuyền có buồm trắng qua lại nườm nượp, và ở giữa vịnh là một thành phố lớn. Đập vào mắt tôi đầu tiên là những mái ngói màu đỏ và nâu rực rỡ, rồi đến hàng dãy nhà trắng đứng san sát nhau dọc con dốc dẫn xuống biển, những toà nhà mái nhọn, và một tháp chuông. Và dãy kiến trúc gồm nhiều khung vòm chạy dọc phía rìa thành phố kia là một đường dẫn nước sao?

Đây là một thành phố, một thành phố vẫn đang sống. Nơi này là chỗ sinh sống của phải đến hàng ngàn người—có khi còn gần mười ngàn người. Những đường phố khắp nơi đều ngập tràn người đi lại nườm nượp. Ở đây có biết bao hoạt động của những con người đang bận rộn với cuộc sống hàng ngày của họ. Dù chỉ đang đứng nhìn từ đằng xa, nhưng tôi vẫn có thể cảm thấy được sức sống của thành phố, cứ như thể tôi đang đứng giữa đó vậy.

Một thành phố. Nơi tụ hội những hoạt động của con người. Đó là biểu tượng của thứ mà Blood, Mary và Gus đã mạo hiểm chính mạng sống của mình để bảo vệ.

Trong khi ánh mặt trời toả sáng lấp lánh trên biển, tôi tiếp tục đứng nhìn khung cảnh nhộn nhịp của thành phố cho đến khi được Menel và Bee gọi tên.

Có thể bạn muốn xem


Xin chào! Đây là website chính thức của nhóm dịch truyện ValvrareTeam. Mấy đứa cùng sở thích cùng làm với nhau thôi. Light Novel trên đây được chúng tôi dịch hoàn toàn miễn phí ra phiên bản tiếng việt, tuy nhiên chúng tôi không khuyến khích các bạn sao chép lên website khác. Cảm ơn vì đã quan tâm."
© 2017 ValvrareTeam. Mã nguồn sử dụng Wordpress. Máy chủ sử dụng Vultr
Made with in Novel