Tập 2 – Chương 4

Tập 2 – Chương 4
4.9 (98.75%) 32 votes

THÔNG BÁO


Hiểu đúng về Trader Coin, Cách Trader Coin an toàn.

QÙA TẶNG DÀNH CHO NGƯỜI MẤT GỐC TIẾNG ANH HOẶC ĐANG CẦN HỌC TIẾNG ANH

Buồm Trắng là một thành phố giàu có. Những người đi lại dọc đường đều mặc quần áo nhuộm đủ loại màu sắc, và tôi có thể thấy kiểu tóc và phụ kiện trang trí của họ đều theo một kiểu nhất định.

Nói cách khác—nghe này—xu hướng có tồn tại ở đây! Họ có thời gian và tiền bạc để nghĩ tới những thứ như thời trang! Chỉ nhiêu đó cũng đủ để làm tôi bị sốc rồi.

Thật ra thì lần đầu tiên tôi bị sốc không phải là vì chuyện này, mà là lúc tôi vào thành phố. Ở đó không hề yêu cầu kiểm tra hàng hoá hay thu lệ phí qua cổng gì cả. Dựa trên những kiến thức về các thành phố thời trung cổ, tôi cứ đinh ninh rằng mình sẽ phải làm vậy, và cũng đã chuẩn bị tinh thần để đứng xếp hàng đợi rồi, nhưng cuối cùng họ lại dễ dàng cho bọn tôi đi qua.

“Đó là một trong những chính sách của Ngài Ethel. Ngài ấy là người cai quản thành phố này,” Tonio giải thích cho tôi.

Một khối lượng hàng hoá khổng lồ từ phía bắc đổ về đây qua đường biển, và lan toả ra khắp Southmark qua đường bộ và đường sông giống như những mạch máu trong cơ thể. Nếu một lượng hàng hoá nhiều như vậy mà bị chặn lại ở ngoài cổng thì sẽ xảy ra hỗn loạn ngay, thậm chí còn làm tăng cơ hội buôn lậu nữa.

Vậy nên Ngài Ethel đã thu kinh phí cần thiết để duy trì thành phố bằng cách đánh thuế tàu bè neo đậu trong cảng, phí thuê chỗ bán hàng trong chợ, cũng như thuế cho các công ty mở cửa hàng trong thành phố và tránh can thiệp vào dòng lưu thông của hàng hoá, con người và tiền bạc hết mức có thể. Theo như Tonio nói thì đó là chính sách hoạt động của ngài ấy, ít nhất là trong phạm vi Buồm Trắng.

Tôi ‘hừmm’ một tiếng tỏ sự ấn tượng. Tôi không giỏi về lĩnh vực kinh tế cho lắm, nhưng tôi có cảm giác đây là một chính sách khá là tiến bộ, cởi mở và tự do.

Có vẻ như Công tước Ethelbald là một người đúng như trong tin đồn nhỉ, tôi nghĩ trong khi đi bộ trong thành phố. “Hửm? Kia là gì vậy?”

Có những thứ hình trụ được đặt dọc đường. Mỗi cái đều có một thứ gì trông giống như… cái ô ở trên…?

“À, đấy là đèn đường.”

“Đèn đường?!”

Hả?!

“Cậu không biết đó là gì sao? Ôi trời ơi Will, bắt kịp thời đại đi chứ! Từ Ngữ Ánh Sáng đã được khắc lên chúng. Những học viên ở Học viện Hiền giả sẽ đến đây vào buổi chiều và thắp sáng chúng. Những học viên thì được thực tập liên kết mana với Ký Tự, còn người dân thành phố thì được hưởng ánh sáng vào ban đêm, đôi bên cùng có lợi.”

“Chính xác. Đây là bài luyện tập hữu ích cho những pháp sư tập sự, cũng như một nguồn thu chút tiền tiêu vặt. Tương tự như vậy,” Tonio nói và chỉ về một toà nhà lớn trước mặt chúng tôi, “kia cũng là một nguồn thu nhập lớn khác cho những pháp sư tập sự. Từ Ngữ Nhiệt Năng và Thanh Tẩy thường xuyên được dùng ở đó mà.”

“Đó có phải—”

“Hehe…” Bee nở một nụ cười tinh nghịch khác. “Chắc kể cả cậu cũng biết đó là gì phải không,” cô ấy nói và xoay một vòng. “Đúng rồi đấy, đó là balnea!”

Balnea…?

“Hửm? Sao vậy Will?”

“Có chuyện gì à?”

Đợi đã, tôi biết từ đó! Chẳng phải nó nghĩa là nhà tắm công cộng sao?! Tôi có thể tắm ở đây sao?!

“Đi thôi!” Tôi tuyên bố ngay lập tức. Ba người còn lại trông có vẻ rất bất ngờ.

Nói ngắn gọn thì, trải nghiệm của tôi khi lần đầu được tắm sau một thời gian dài phải nói là tuyệt vời.

Lúc đầu tôi đã tưởng rằng ở thời đại này, nước trong bể sẽ rất bẩn, mất vệ sinh và đem theo nhiều loại mầm bệnh, nhưng Từ Ngữ Thanh Tẩy đã được sử dụng để giữ cho nước được trong sạch. Việc cần nhiều nhiêu liệu để duy trì nhiệt độ nước cũng đã được giải quyết bằng Từ Ngữ Nhiệt Năng. Đây đã là lần thứ hai tôi nói điều này rồi, nhưng đúng là tuyệt vời thật đấy.

Nó không giống những nhà tắm theo phong cách Nhật Bản quen thuộc đối với tôi—ở đây có một bể tắm nóng giống kiểu như bể tắm hơi, cùng với một bể tắm nước lạnh—nhưng dù vậy vẫn tuyệt cú mèo. Bao nhiêu mệt mỏi sau khi đi đường đang tích tụ trong cơ bắp khắp người tôi đều đã tan chảy và biến mất hết theo dòng nước nóng. Quả là một giây phút hạnh phúc.

Sau khi rời khỏi nhà tắm công cộng, tôi cảm thấy như mình vừa mới được lột da, chẳng khác gì một quả trứng luộc được bóc vỏ vậy. Cả người tôi vẫn còn ấm áp, khiến cho làn gió mát càng thêm sảng khoái hơn. Lúc đi đường tôi cũng đã giữ người sạch sẽ bằng Từ Ngữ Thanh Tẩy rồi, nhưng được tắm một trận vẫn thích hơn nhiều.

Hội ba người đàn ông chúng tôi giết thời gian ở khoảng không gian ngoài trời bên ngoài nhà tắm, và một lúc sau…

“LA LA LA…♪” Bee bước ra trong khi đang ôm chỗ đồ đạc mà cô ấy đã nhờ chủ nhà tắm giữ hộ. Cô ấy vừa đi vừa ngân nga, rõ ràng là đang rất vui vẻ. “Thỉnh thoảng được tắm một bữa thế này thích quá nhỉ,” cô ấy nói.

“Đúng vậy.”

“Cũng không sai, nhưng tôi không thích mấy nơi đông đúc như thế này lắm.” Menel đã thu hút rất nhiều sự chú ý vì vẻ đẹp của mình cũng như vì bán elf rất hiếm khi xuất hiện. Thường thì cậu ấy có thể đối phó bằng cách đội mũ trùm đầu, nhưng cậu ta không có cách nào để giấu mình trong nhà tắm cả.

Hiện giờ, Menel đang kéo mũ trùm ngang mắt, mặt trông rất cau có, nên chúng tôi quyết định mau chóng đi ra chỗ khác. “Xem nào,” Bee nói, “hay là ta đến quán rượu kiếm cái gì bỏ bụng, và rồi…”

“Rồi gì nữa?”

“Hay là ta đến một ngôi đền đi,” Tonio đề xuất. “Will là tu sĩ, nên tôi nghĩ cậu ta sẽ muốn đến đó.”

“Ồ!” tôi lên tiếng. Từ nãy đến giờ tôi bị nhiều thứ làm phân tâm quá đến nỗi tí thì quên khuấy mất. Tôi cần phải đến thăm một ngôi đền tử tế. Về lý thuyết thì tôi là một tu sĩ chính hiệu đã nhận được sự bảo hộ của một vị thần, nên mong là họ sẽ giành thời gian gặp tôi, nhưng thực tế thì chưa biết thế nào.

Bốn người chúng tôi cùng đi đến một quán rượu và gọi đồ ăn. Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy họ nấu ăn có dùng gạo. Nó trông giống với loại gạo Ấn Độ mà tôi từng biết, chắc là được trồng trên đất cạn. Đầu tiên họ xào rau củ trong dầu ăn cùng với—đúng là một thành phố cảng có khác—nhiều loại hải sản khác nhau bao gồm tôm, trai sò, cá thịt trắng trong một chiếc chảo đáy nông và phẳng, rồi thêm gạo và nước vào và nấu tất cả cùng với nhau.

Những hạt gạo đã ngấm quyện hương vị của cá, và thức ăn cũng đã được nêm gia vị vừa đủ. Món này ngon đến nỗi tôi có ăn cả ngày cũng được. Cốc rượu nhẹ đi kèm với nó cũng rất tuyệt vời.

Đây chính là nền văn minh. Tôi chỉ biết miêu tả như vậy mà thôi. Đây là hương vị của nền văn minh.

Tonio và Bee đang nhận xét về bữa ăn.

“Vị cũng ngon đấy chứ, có phải không?”

“Hừm.” Cô ấy nghe có vẻ không đồng tình lắm. “Tôi thấy nó xào hơi bị khô quá.”

Đối với hai người bán hàng và hát rong này, thành phố này là căn cứ hoạt động của họ. Chắc hẳn họ đã khá là quen với nó rồi.

Còn Menel và tôi thì không quan tâm đến chuyện tán gẫu lắm, nên chúng tôi mặc kệ và chỉ tập chung ăn ngấu nghiến bữa ăn trước mặt mình mà thôi. Và rồi bọn tôi cùng gọi thêm đĩa thứ hai sau khi ăn xong.

Nền văn minh quả là một thứ tuyệt diệu và đẹp đẽ!

Cuối cùng chúng tôi cũng đến ngôi đền ở Buồm Trắng. Đó là một toà nhà tráng lệ được xây bằng đá trắng mịn, với những cây cột rộng lớn, hành lang thẳng tắp, những bức tượng của các vị thần, cùng với một khu vườn sân trước đầy những loại cây đã được tỉa tót cẩn thận. Tất cả đều trông mới tinh, nhưng đồng thời vẫn mang một phong cách riêng. Menel khẽ nhận xét rằng họ chắc hẳn đã dành bội tiền cho chỗ này.

Tôi bảo Menel, Tonio và Bee tạm đợi ở sân trước trong khi tôi đi vào trong đền. Sau khi vào trong rồi, tôi định đi tìm một tu sĩ và hỏi xin được gặp một người có chức vụ cao.

Tuy nhiên, phản ứng đầu tiên của cậu trợ tế trẻ mặc một bộ áo choàng trắng rộng đang đứng trước mặt tôi chỉ là một tiếng ‘ừmmm’ hờ hững. Nghe như thể tôi đang gây rắc rối cho cậu ta vậy.

“Anh nói là mình đã nhận được sự bảo hộ từ Gracefeel, thần của ngọn lửa sao?” cậu ta hỏi.

“Phải, đúng vậy.”

Cậu trợ tế trẻ lại ‘ừmm’ một lần nữa.

“Đó không phải là một vị thần hay xuất hiện… Theo như quy định thì trong trường hợp này bọn tôi sẽ cần phải dùng lời cầu nguyện Detect Faith để xác nhận lại…”

“Không có vấn đề gì.”

Cứ thử tưởng tượng mà xem, nếu có tu sĩ của một ác thần không thèm quan tâm đến hậu quả của việc mình làm thản nhiên đi vào và nói, “Tôi muốn gặp những tu sĩ cấp cao.” Không phải tu sĩ nào cũng được huấn luyện chiến đấu như tôi, nên cũng chẳng lạ gì khi họ đảm bảo an toàn bằng cách bổ sung thêm bước kiểm tra xem những người khả nghi—ví dụ như tôi, tu sĩ của một vị thần nhỏ—có đang làm việc cho một ác thần và che giấu thân phận của mình hay không.

“Phải,” cậu ta nói, “nhưng không may là những người đã được ban phước đủ để kiểm tra đức tin của người khác hiện đều đang bận việc không có ở đây…”

“Không có ở đây?” Trong một ngôi đền lớn đến thế này sao? Tôi khó có thể tin được là chuyện đó lại có thể xảy ra cơ đấy.

“Phải. Những cuộc tấn công từ lũ mãnh thú lớn nhỏ đang bắt đầu gia tăng gần đây. Tất cả mọi người từ ngài phó giám mục trở xuống đều đang rất bận rộn.”

Từ phó giám mục trở xuống… Cậu ta vừa nói phó giám mục sao?

“Cậu làm cái gì mà đứng chắn cả hành lang vậy hả?” có ai đó phía sau tôi nói bằng một giọng nghiêm nghị như vang vọng khắp cả hành lang. Tôi quay lại và thấy một người đàn ông trung niên béo ục ịch, mặc một bộ áo choàng linh mục rộng được thêu bằng chỉ bạc và vàng. Nhưng nó vẫn không thể che đi được cái bụng căng tròn của ông, và cặp má béo phúng phính của của ông ấy cũng không làm cái biểu cảm kia kém nghiêm nghị đi chút nào. Ông ta đang đeo vài chiếc nhẫn bằng vàng và bạc trên những ngón tay căng tròn như xúc xích.

“G-Giám mục Bagley!” Cậu trợ tế giật mình ngạc nhiên và đứng thẳng người lại.

“Ta hỏi cậu đang làm gì,” Giám mục Bagley nhắc lại câu hỏi. Ông ta đang rất bực mình.

Cậu trợ tế trông có vẻ đang rất bối rối và không trả lời tử tế được. Dù có hơi vô lễ, nhưng tôi vẫn quyết định nói chen vào.

“Rất vui được gặp ngài. Tên tôi là William G. Maryblood. Tôi đã được nhận sự bảo hộ từ Gracefeel, vị thần của ngọn lửa, và tôi đã đến ngôi đền ở Buồm Trắng này để tự giới thiệu bản thân.” Tôi đặt tay phải lên phía ngực trái, lùi chân trái lại một chút và cúi đầu. Mary đã dạy tôi cách cúi chào này.

“Hừm. Bart Bagley. Ta là người quản lý ngôi đền này.” Giám mục Bagley cúi chào lại tôi một cách qua loa và rồi trừng mắt nói. “Gracefeel… Thần của ngọn lửa. Có thể coi là một vị thần đã bị lãng quên. Tuy nhiên, vẫn có khả năng cậu là một kẻ khả nghi đang lợi dụng tên của Gracefeel để làm chuyện xấu…”

“Cũng không khó hiểu khi ngài nghi ngờ như vậy. Liệu ngài có muốn tôi thực hiện một phước lành làm bằng chứng không?”

Giám mục Bagley khịt mũi. “Lũ lính mới toàn quay sang dùng phước lành mỗi khi gặp khó khăn. Sự bảo hộ của thần không phải là thứ có thể sử dụng bừa bãi và chắc chắn không phải là một thứ dùng để khoe khoang.”

Ồ. Đúng là một câu trả lời bất ngờ, nhưng nghĩ lại thì cũng đúng đấy chứ. Gus cũng đã nhận xét tương tự về phép thuật. Phước lành không đi kèm với nhiều rủi ro nên tôi đã dùng nó mà không để tâm mấy, nhưng ông ấy nói cũng đúng thật.

“Ngài nói đúng. Cảm ơn rất nhiều vì đã giúp tôi nhận ra sự ngây ngô của mình.”

Ông giám mục lại khịt mũi một lần nữa. “Cậu hiểu gì về lời dạy của thần của ngọn lửa?”

“Ánh sáng là hiện thân của bóng tối. Ngôn từ là hiện thân của tĩnh lặng. Và sự sống là hiện thân của cái chết.”

Ông giám mục lại thờ phì ra một lần nữa. “Cậu,” ông nói với cậu trợ tế. “Ghi tên này vào trong sổ đăng ký và dẫn hắn đi một vòng quanh đền.”

“Hở? Nhưng… Còn lời cầu nguyện Detect Faith và Detect Lie thì sao—”

Đồ ngu!” Tiếng quát vang lên như sấm nổ. “Tất cả cái đống kia không lọt được vào tai ngươi à, cái tên đầu đất này?!” Giọng ông ấy vang vọng khắp đền, dư âm lưu lại trong không khí như luồng tĩnh điện trong cơn dông. Những người khác giờ cũng quay sang nhìn chúng tôi.

“Ta phải đến bữa tiệc của Thương đoàn Thợ dệt—cứ thoải mái dành thời gian ở đây, đừng gây rắc rối gì, và nhớ quyên góp một chút,” Giám mục Bagley nói một tràng mà không cần lấy hơi rồi đi ra chỗ khác. Cậu trợ tế vẫn đang rụt cổ lại.

Sau khi giám mục đã hoàn toàn đi khuất rồi, cậu ta cuối cùng mới nói với tôi bằng một giọng rõ ràng là vẫn còn đang hơi run run. “Không thể tin là ta lại tự dưng gặp Giám mục Bagley như thế này.” Cậu ta nói. “Ổng gây khó dễ thật phải không? Mà cách anh xử trí đúng là ấn tượng thật đấy.”

Rồi cậu ta bắt đầu nói về ông giám mục, nào là ông ấy giờ là một kẻ hoan lạc dành phần lớn thời gian ở những bữa tiệc mà chẳng bao giờ đi ban phước lành, nào là một kẻ dễ nóng giận và luôn luôn phàn nàn về đủ thứ; còn mặt khác, phó giám mục thì lại là một người cao cả tuyệt vời, được mọi người hết lòng ca ngợi.

Tôi không muốn đứng về một bên nào và chỉ ‘ừm’ một tiếng trong lúc chúng tôi hoàn tất hồ sơ đăng ký. Sau khi gặp lại Menel, Bee và Tonio, tôi nhờ cậu trợ tế dẫn cả nhóm đi một vòng quanh đền và xếp cho bọn tôi một phòng nghỉ dành cho khách. Dù phòng có hơi đơn sơ quá, nhưng ít nhất thì bọn tôi vẫn được ngủ trên giường với chăn mền đầy đủ chứ không phải là một đống rơm.

“Này,” tôi hỏi, “về ông giám mục ở đây, ưm…”

“Hừm, tôi không được nghe nhiều điều tốt đẹp về ông ta lắm.” Bee nói. “Kiểu như tính ông ta hơi kiêu kỳ, với cả nặng về vật chất quá.”

“Có vẻ như ông ta cũng có ảnh hưởng ngầm với các thương hội buôn bán và sản xuất của thành phố,” Tonio bổ sung thêm.

Hử. Ông ấy có danh tiếng như vậy à? Trong khi kết hợp những thông tin này với cảm nhận của riêng mình về ông ấy, tôi nhận ra mình đang rất khó tập trung. Cái tiếng ồn ào bên ngoài là gì vậy? Nó cứ rung lên không ngớt, nghe như tiếng chuông vậy.

Bee lên tiếng, khiến tôi bối rối quay ra nhìn cô ấy.

“Đó… không phải là tiếng chuông điểm giờ…” cô ấy nói. “Họ đang gõ tới tấp… Không lẽ đang có hoả hoạn sao?!”

“Nghe như tiếng chuông báo động nhỉ,” Tonio nói.

Sự bất an bắt đầu lan khắp đền. Chúng tôi lao đến chỗ trang bị và đồ đạc để ở góc phòng. Tiếng bước chân chạy trong sảnh bắt đầu vang lên, và rồi tiếng hét.

“Wyvern! Wyvern! Mọi người, CHẠY ĐIIIII!!”

Ở bên ngoài bức tường và phía trên mái nhà, có một cái bóng lớn phóng vụt qua trong gió. Ngay sau đó, lực va chạm làm rung chuyển cả ngôi đền.

“Hnnngggggg!”

“Ow, oww, owwww!”

“Ai đó! Ai đó giúp với! Có người đang bị chôn vùi ở đây!”

“Chuyện gì thế này?!”

“Đừng có xô đẩy, đừng có xô đẩy!”

“Con tôi, có ai thấy con tôi đâu không?!”

“Hỡi thần linh…!”

Quang cảnh trong đền rất hỗn loạn. Trong khi vẫn đang mặc áo giáp, tôi chạy ra khu sân vườn được bao quanh bởi những lối đi. Tận dụng những cây cột và chi tiết trang trí của ngôi đền làm chỗ để chân, tôi nhảy lên mái nhà chỉ với vài bước.

Ngôi đền này bao gồm vô số toà nhà khác nhau, ví dụ như khu sinh sống, sảnh tập hợp, và nhiều nơi khác. Khi nhìn quanh, tôi nhận ra mái nhà ở sảnh đường chính đã bị sập.

Tôi nhìn vào bên trong. Dưới đó hiện đang hoàn toàn hỗn loạn; chắc hẳn có người đang bị kẹt dưới đống đổ nát. Thật là tai hại khi những tu sĩ cấp cao giờ lại không ở đây; cứ đà này thì sẽ phải mất một lúc mới kiểm soát được tình hình. Tôi vô thức cau mày lại.

Nhưng tôi không thể xuống đó giúp họ được.

Tôi quay đầu nhìn ra hướng khác, và thấy một cái bóng màu xám đang lượn vòng trên bầu trời của Buồm Trắng. Nó có một chiếc đuôi dài và cặp cánh lớn được tạo thành bởi các màng da. Cột sống của nó có một hàng gai nhọn như lưỡi dao, và cổ nó thì to đến nỗi đủ để ta vòng tay quanh. Tôi thậm chí còn thấy lửa thỉnh thoáng loé lên trong miệng nó.

Cái hình bóng thon dài đang lượn lờ đó trông tràn đầy năng lượng và sức mạnh, chắc hẳn bất cứ ai cũng sẽ phải ớn người khi nhìn thấy cái cảnh này.

Đó là một con wyvern.

Nó lấy chân bám lấy một toà nhà mái nhọn trong thành phố. Lực hạ cánh làm cho toà nhà vỡ nát. Khi những bức tường đá sụp đổ, con wyvern lại đạp chân, phóng lên trời và bay lượn lờ quanh thành phố một lần nữa.

Có một vài bóng người trên mặt đất trông giống như binh lính đang thỉnh thoảng giơ nỏ lên bắn nó, nhưng có vẻ như con wyvern không quan tâm. Nó đang bay lượn xung quanh nhanh quá. Dù những người lính cầm nỏ này có cố gắng đuổi theo nó đến mức nào đi nữa thì họ vẫn không thể giữ nó trong tầm bắn được. Và kể cả nếu họ có thể lại gần được đi nữa, những mũi tên đó vẫn không thể bắn trúng một con wyvern đang bay với tốc độ như vậy được; chúng sẽ chỉ bay chệch hướng hết mà thôi.

Lửa bùng lên trong miệng con wyvern—nó đang thở ra lửa. Những tiếng hét và than khóc ở chỗ bị ngọn lửa bao trùm lớn đến nỗi dù đang đứng ở đền mà tôi vẫn còn nghe thấy. Những ngôi nhà bắt lửa. Mọi người chạy toán loạn, cuống cuồng xô đẩy lẫn nhau để trốn thoát. Còn con wyvern thì kêu lên một tiếng đầy hào hứng rồi phi xuống.

Những mái ngói bị đánh bật lên bởi sức gió rơi lả tả xuống đường. Có những ngôi nhà đã sụp đổ hoàn toàn. Sự hỗn loạn đang lan rộng. Một vài người ngã xuống. Tôi chắc chắn có những người còn đang bị dẫm đạp lên nữa. Tôi có thể nghe thấy tiếng đổ vỡ. Con wyvern đã phá huỷ thêm một toà nhà khác.

Tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Tại sao con wyvern lại làm vậy? Nhưng dù lý do có là gì đi nữa, thực tại vẫn không hề thay đổi: thành phố này đang bị phá huỷ ngay trước mắt tôi. Nền văn minh—thứ mà ba người họ đã chiến đấu để bảo vệ—một nơi mà con người có thể sống như con người—đang bị phá huỷ.

Máu bắt đầu dồn lên đầu tôi.

“Verba volant…” Đây là một câu chú hơi dài—không phải thứ tôi thường sử dụng. Trong khi đang đọc chú bằng miệng, tôi cũng đồng thời chuyển động ngón tay để viết thêm một Từ Ngữ nữa giúp tăng phạm vi ảnh hưởng, và rồi—

“Tonitrus!!”

Trong khoảng khắc đó, một âm thanh chói tai vang lên, giống như tiếng một quả chuông hỏng bị gõ mạnh hết sức có thể, hoặc là tiếng một khẩu đại bác khai hoả. Tôi ngửi thấy mùi không khí bốc cháy khi một tia sét bay từ nóc đền nơi tôi đứng về phía con wyvern đang kiêu căng bay lượn trên thành phố.

Nhưng nó không đánh trúng! Khoảng cách xa quá. Không chỉ có vậy, một đòn tấn công theo đường thẳng sẽ không có tác dụng mấy với con wyvern khi nó có thể thoải mái di chuyển trong không gian ba chiều. Chưa kể tầm bắn của phép thuật cổ đại này cũng không xa lắm. Từ Ngữ vốn là vậy, chúng sẽ tiêu biến đi theo khoảng cách và trở nên kém hiệu quả hơn đối với những mục tiêu ở xa.

Tôi chuẩn bị cho phát bắn thứ hai. Trong số những Từ Ngữ tôi có thể sử dụng đủ ổn định, Từ Ngữ Sấm Sét có phạm vi tấn công xa nhất. Tôi có thể bắn bao nhiêu lần cũng được cho đến khi nào trúng thì thôi. Đó là những suy nghĩ duy nhất trong đầu tôi khi đó, và nó đến từ một nơi nào đó đầy tuyệt vọng, giận giữ và thiếu bình tĩnh—

“Cậu làm gì vậy hả, cái tên đần này?!” Gáy tôi đột nhiêu nhói đau. Tôi quay lại và thấy Menel đang đứng đó. Chắc hẳn cậu ấy đã đi theo tôi lên nóc nhà. “Đừng có dùng phép thuật liên tục vì tức giận như vậy! Cậu muốn làm người mình nổ tung à!” Cậu ấy đang trông rất tức giận. “Và lại còn là phép bậc cao nữa?! Cậu điên à?!”

“Nhưng—”

“Không nhưng nhị gì cả!” Menel túm lấy cổ áo tôi. “Cậu đang chiến đấu với một con wyvern. Hãy làm sao cho hiệu quả vào! Dù là một tên có đầu óc tốt nhưng nhiều lúc cậu đần như lợn ấy biết không hả?! Có não thì phải dùng đi chứ!”

Tôi đột nhiên bình tĩnh lại khi bị lườm bởi đôi mắt màu ngọc bích đó.

— Hãy học cách dùng một lượng phép thuật nhỏ, sao cho thật hợp lý và chính xác.

Những lời Gus dạy hiện lên trong đầu tôi. Tôi có thể cảm thấy tâm trí mình minh mẫn trở lại. Gus sẽ không mất bình tĩnh trong một tình huống như thế này. Thật hiệu quả. Thật chính xác. Chỉ dùng khi cần thiết, và chỉ dùng một lượng vừa đủ.

“Hiểu rồi.”

“Tốt.”

Tôi bắt đầu nghĩ. Với những thứ mình hiện đang có, liệu tôi có thể làm gì con wyvern kia? Vô số ý nghĩ loé lên trong mạch suy nghĩ của tôi như những tia lửa điện, mỗi cái được cân nhắc một lúc trước khi phai mờ đi. “Được rồi.” Tôi gật đầu. “Menel, tôi sẽ cần cậu và tinh linh giúp đỡ.”

“Tất nhiên rồi.” Menel cũng gật đầu.

“Và Bee, Tonio!” Tôi gọi về phía sân vườn, nơi hai người họ đang đứng. Nhờ Từ Ngữ Sấm Sét mà rất nhiều người hiện đang tập trung vào bọn tôi trên mái nhà. “Mau nhờ ai đó giúp sơ tán mọi người khỏi khu vườn phía trước!” Tôi vẫy tay xung quanh và hô lên. “Đó là chỗ bọn tôi sẽ đánh hạ con wyvern!”

“Bắt đầu này. ‘Sylph, Sylph, hỡi những thiếu nữ gió. Bước chân của nàng là bước chân của gió, bài ca của nàng là bài ca của gió.’”

Giọng cậu ta vang lên một cách rõ ràng khi đọc câu chú. Những tinh linh bắt đầu tụ tập và nhảy nhót.

“‘Hãy cùng nhau hát, hãy cùng nhau ca, để tiếng vỗ tay bay cao bay xa. Âm vang của nàng đưa những Từ Ngữ nguyên thuỷ đi khắp tám phương mười hướng—”

Kể từ lúc Menel dùng phép, tôi bắt đầu nhìn thấy những thiếu nữ trắng tí hon ở khắp nơi, lấp ló dưới các cơn gió.

Sylph—những tinh linh gió. Sau khi chắc chắn mình đã thấy họ, tôi bắt đầu niệm chú.

“Verba volant…”

Đó là câu chú giống như lúc nãy, Từ Ngữ Sấm Sét, nhưng tôi thêm vào những Từ Ngữ mà Gus đã dùng để phá huỷ phân mảnh của thần undeath.

“…conciliat, sequitur…”

Những ngón tay của tôi cũng bắt đầu làm việc và vẽ lên một vài Từ Ngữ phức tạp trong không trung. Giống như một chiếc huy hiệu hoặc một vòng tròn phép, những ký tự phức tạp lan ra trong không khí. Và cuối cùng, tôi dang hai tay ra một cách trang nghiêm rồi hô—

“Tonitrus… Araneum!!”

Những Từ Ngữ ngay lập tức vang vọng khắp nơi. Các tinh linh sylph đang tụ tập cùng đồng thanh hát vang, tạo nên một bàn hoà âm. Tia sét bắt đầu phân nhánh ra liên tục như rễ cây, vừa phóng đi vừa lan toả trong không trung. Tấm lưới sét mở rộng ra, và cho dù nó đã yếu đi theo khoảng cách, tấm lưới vẫn rơi xuống và bao trùm lấy con wyvern đang bay lượn trên trời cao.

Con quái vật thét lên một tiếng đau đớn. Người nó co giật, không còn trong tư thế bay nữa. Nhưng nó mới chỉ bị đánh trúng bởi một tia sét đã bị chia nhỏ vô số lần, cũng như đã yếu đi sau một khoảng cách xa mà thôi; chừng đó vẫn chưa đủ để đánh hạ nó. Nó nhanh chóng lấy lại thăng bằng.

Đối với con wyvern, đòn sét đánh đó chỉ ở mức “đau đấy” mà thôi—nhưng vậy là đủ rồi. Nó nhìn về phía chúng tôi. Nó nhìn về chúng tôi, những kẻ đã làm nó đau—và rồi nó quay đầu lại và bắt đầu bay về phía bọn tôi. Con wyvern đã coi chúng tôi là kẻ thù.

Những loại quái vật kiểu này thường rất hung hăng. Gus đã bảo tôi rằng trong những trường hợp mà những sinh vật hoang dã khác chạy trốn, thì những loại quái vật như wyvern lại hành xử một cách hung hãn.

“Nó đến này.”

Giờ chỉ còn lại một vấn đề, một câu hỏi nữa, đó là khả năng hiện giờ của tôi so với ba người họ thời đó như thế nào.

Khi con wyvern bay lại gần, tôi nhanh chóng dùng phép thuật và giáng phước lên bản thân mình và Menel để tăng thể lực của chúng tôi. Tương tự, Menel cũng gọi các tinh linh và giúp tăng sức mạnh cho cả hai bọn tôi. Cứ từng giây phút trôi qua là cái hình dáng giống như chim đó lại lớn dần lên khi nó tiến tới gần bọn tôi.

Gracefeel, tôi nghĩ, giờ con sẽ chiến đấu theo lời thề của mình: đánh đuổi cái xấu xa và cứu rỗi những kiếp người buồn đau. Làm ơn, xin hãy ban cho con sự bảo hộ của Người!

“Dưới ngọn lửa của Gracefeel!” Tôi nắm ngọn giáo Trăng Mờ của mình bằng cả hai tay và cầu nguyện. Một bức tường ánh sáng khổng lồ dựng lên quanh ngôi đền. Đây là phước lành Sanctuary.

Có tiếng rì rầm phát lên từ những người đứng xem, nhưng tôi làm ngơ. Giờ tôi không có thì giờ để tâm đến những chuyện đó.

Con wyvern bay thẳng về phía chúng tôi và va vào bức tường ánh sáng. Một tiếng động mạnh mẽ vang lên.

Tôi cầu nguyện. Tôi cầu nguyện.

Trở nên vững bền như adamantine. Trở nên vĩnh hằng. Trở nên bất diệt. Bác bỏ tất cả những gì xấu xa!

Nhưng rồi tôi nghe thấy một tiếng hít sâu, theo sau là những tiếng nứt vỡ cộng hưởng với nhau, và cuối cùng là giọng nói điếng người, khô khốc của Menel và những người khác.

“Cái gì—”

Kể cả tôi cũng quên mất việc cầu nguyện trong giây lát, hai mắt mở to ra. Tôi đang thấy cái gì thế này?! Con wyvern đang vùng vẫy chống lại bức tường ánh sáng, những mạch máu trên người nó dần chuyển thành màu đen và toả ra khí độc. Luồng tà khí đen bám lấy bức tường thiêng, phá huỷ nó, và rồi—

Với một cái đạp chân, con wyvern đá lấy bức tường ánh sáng. Một âm thanh nghe như tiếng kính vỡ vang lên, và con wyvern xà xuống, người nó đã bám đầy tà khí đen đặc. Tôi nhìn thấy hình bóng mình hiện lên trong cặp mắt thằn lằn vô cảm đó.

Tôi lăn đi theo phản xạ, tránh được chiếc móng vuốt to bự trên chân nó chỉ trong gang tấc. Áp lực từ gió khiến cho những tấm gạch ngói bay đi khắp nơi. Tôi mất thăng bằng và tí nữa thì rơi xuống, chỉ vừa kịp đứng lại ngay bên mép mái nhà.

“‘Sylph! Những thiếu nữ tao nhã của gió, nàng công chúa khiêu vũ trong bão tố!’” Đó là giọng của Menel. Cậu ấy đã khéo léo giữ thăng bằng và vẫn đang đứng vững trên mái.

Con wyvern phóng qua rồi quay đầu lại, để lại một dải tà khí theo sau nó, và lại một lần nữa phóng về mái nhà nơi Menel đang đứng—

“‘Hãy cho những kẻ ngạo mạn tự coi mình là vũ công giỏi hơn—‘”Một câu chú khác phát lên. ‘”Phải nếm mùi mặt đất cay đắng!’”

Cùng lúc đó, một luồng gió mạnh mẽ xuất hiện, thổi từ trên xuống phía dưới. Dù bộ dạng và hành động của con wyvern có kỳ lạ đến thế nào đi nữa, nó vẫn không thể nào chống lại được một luồng gió mạnh đập vào cánh như vậy. Tư thế bay của nó bị phá hỏng, và rồi—

“Will!!”

“Ligatur, nodus, obligatio!” Tôi dùng Từ Ngữ Thắt Nút hết lần này đến lần khác. Cánh của con wyvern bị bó cứng lại.

Nó lao thẳng xuống, vẫn đang cố gắng chống cự trong lúc rơi, và rồi đập mạnh xuống đất. Một âm thanh gầm vang lên, và mặt đất rung chuyển dữ dội. Tôi nhìn xuống và thấy con wyvern đã rơi xuống đài phun nước ở sân vườn trước.

Tôi nhảy xuống từ trên mái nhà, hạ cánh an toàn, và phóng về phía nó.

Ở trong đầu mình, tôi có thể cảm thấy những sợi dây xích đang bị kéo căng ra, vết nứt bắt đầu xuất hiện trên những mắt xích. Con wyvern đang chống cự lại Từ Ngữ Thắt Nút. Sớm muộn gì nó cũng thoát ra được và lại một lần nữa bay lên trời. Tôi không hề có ý định cho phép nó làm vậy.

Đài phun nước đã bị đập vỡ, và nước bắn tung toé khắp sân vườn phía trước đền.

Với ngọn giáo trong tay, tôi lao về phía con wyvern. Mục tiêu của tôi rất đơn giản: đâm giáo trực diện vào tim hoặc khí quản của nó. Giống như Blood, người đã tiêu diệt một con wyvern chỉ bằng một đường kiếm, tôi cũng định kết liễu con quái vật chỉ bằng một đòn đánh vào điểm yếu của nó.

Con wyvern quay đầu lại khi cảm thấy tôi lại gần.

“Acceleratio!” Tôi phóng đi như một viên đạn. Tôi nhắm vào tim con wyvern, Trăng Mờ loé sáng trong tay. Cảnh vật hai bên thay đổi một cách chóng mặt, và cơ thể con wyvern trở nên khổng lồ chỉ trong phút chốc—ngay sau đó, một tiếng gầm giận giữ vang lên, và nó cũng lao về phía tôi.

Chúng tôi phóng qua nhau—và rồi—va chạm. Tôi đâm ngọn giáo sâu vào bộ ngực đang toả ra tà khí của nó. Và rồi sau khi luống cuống há hốc miệng, tôi ngay lập tức thả tay ra trước khi cổ và khuỷu tay mình bị đà chạy của con quái vật bẻ gãy, và lăn sang một bên. Lưỡi giáo đã đâm trúng rồi. Không còn nghi ngờ gì nữa.

Tiếng hò reo vang lên quanh tôi.

Tuy nhiên—

“Không thể nào…” Tôi nghe giọng Bee cất lên ở đâu đó.

Tôi quay đầu lại, cảm giác bất an bắt đầu bùng lên trong người. Con wyvern cũng đang chầm chậm quay đầu lại nhìn tôi. Liệu tôi đã bị lớp da như cao su của nó ngăn lại? Lớp cơ bắp rắn chắc? Hay đơn giản là vì tôi đã đâm lệch mục tiêu? Nhưng thực tế vẫn là—tôi đã không đâm trúng tim nó.

Tà khí lại bắt đầu toả ra thêm. Con wyvern nhìn tôi, ngọn lửa đỏ rực đang tích tụ trong miệng nó.

“Chạy đi! Nó sắp thở ra đấy!”

Phía sau tôi vẫn còn có những người chưa chạy kịp. Tôi không được phép để nó thở ra lửa. Nhưng tôi không có thời gian, không có thể hoạch. Tôi phải hành động. Hành động! Nhưng biết làm gì đây?!

Và rồi—ở đâu đó trong tim tôi—Blood cười. Ông ấy cười to. Rồi ông nói:

Đập nó một trận.

Acceleratio!” Tôi dùng Từ Ngữ và lao thẳng về phía con wyvern, áp sát lại gần để nó không thở ra lửa được. Để không làm chính bản thân bị thương, con quái vật để cho lửa thoát ra qua hai bên khoé miệng và chuyển sang dùng răng ngoạm lấy tôi. Tôi tránh đi trong gang tấc, rồi ôm hai tay quanh cái cổ khổng lồ của nó.

Không nghĩ được phương án tốt nào? Bản chất của kẻ thù vẫn còn là một ẩn số? Ở trong đầu tôi, Blood giơ nắm đấm lên trời và hét to. Vậy thì CƠ BẮP! Bạo lực! Đập nó một trận!!

Luồng tà khí toả ra từ con wyvern bắt đầu ăn mòn tay tôi, nhưng những vết bỏng—thánh ấn của tôi—ở đó bắt đầu bùng lên một ngọn lửa trắng và ngăn chúng lại.

Tôi gằn lên một tiếng khi gồng cơ lên. Con wyvern chống cự. Tôi giữ chặt lấy cổ nó, siết nghẹt khí quản và mạch máu của con quái vật. Tôi dang rộng hai chân và hạ hông xuống để có một thế đứng thật vững. Và rồi, với hết sức bình sinh, tôi vặn người trong khi vẫn giữ chặt lấy con wyvern đang chống cự.

Toàn bộ cơ thể của con wyvern bay trong không trung.

Tôi vật nó xuống đài phun nước đã bị đập vỡ và bắn nước tung toé từ lâu. Mặt đất lại rung chuyển một lần nữa, nhưng tôi vẫn siết chặt tay quanh cổ nó. Tôi sẽ không thả tay ra.

“G… Ghì đầu vật sao…?!” có ai đó hỏi.

Phải, ghì đầu vật, tôi nghĩ bụng. Tôi đang nắm lấy đầu và vật ngã nó, tất nhiên đấy là đòn ghì đầu vật rồi. Vậy mà còn phải hỏi à?

Tôi leo lên người con wyvern đã bị vật ngã trong khi vẫn đang siết cổ nó chặt hết mức có thể. Ở sau lưng tôi, cơ thể con quái vật điên cuồng vùng vẫy, vừa đạp chân vừa co giật. Nó đang tuyệt vọng ngăn tôi siết cổ nó. Tôi gầm lên và dồn hết sức mạnh vào cơ bắp. Giờ là một cuộc đọ sức giữa con wyvern và tôi. Tôi ngăn không cho nó chống cự và đứng dậy; thật ra thì tôi thậm chí còn đang ghì chặt con wyvern xuống đất.

Đừng hòng trốn thoát, anh bạn à. Ta sẽ không để ngươi chạy trốn. Ta sẽ không để ngươi thở ra lửa từ cái miệng đó nữa.

Ta sẽ không để ngươi bay bằng đôi cánh kia nữa. Ta sẽ không để ngươi dùng những nanh vuốt kia làm hại người khác nữa!

Trong khi đám đông đang nín thở đứng nhìn, cùng với một tiếng ‘rặc’, cổ của con wyvern phát ra một âm thanh không hề tự nhiên chút nào.

Cái cổ của con quái vật chùng xuống trong tay tôi. Để cho chắc ăn và đảm bảo rằng nó đã chết, tôi tiếp tục siết cổ nó thêm một lúc nữa, và đó là lúc tôi nhận ra xung quanh mình đột nhiên trở nên im lặng.

Những người vốn đã ở trong đền ngay từ lúc đầu, những người sơ tán đến đây từ chỗ khác—vô số người đang nhìn tôi. Cảm xúc trong mắt họ trông rất rối bời, và tôi đột nhiên nhận ra mình đang gặp rắc rối.

Tôi vừa mới bẻ cổ một con wyvern nặng phải đến hai tấn (theo tôi nhớ thì một con cá sấu nước mặn dài sáu mét sẽ nặng khoảng một tấn), và tôi đã làm vậy ngay trước mặt họ. Lúc đó chẳng mấy chốc ngọn lửa của con wyvern sẽ thiêu rụi cả tôi lẫn những người xung quanh, nên để có thể chiến thắng mà không khiến ai bị giết, tôi không còn cách nào khác ngoài siết cổ con quái vật đến chết. Nhưng dù vậy, kể cả tôi cũng nhận ra rằng mình đã làm một việc hết sức điên rồ. Nếu như họ bắt đầu sợ tôi—

“Tuyệt vời! Đúng là ngoạn mục quá!” Tiếng vỗ tay vang lên. Tôi bối rối quay đầu lại và… Tonio đang đứng đó. “Cảm ơn thánh thần vì đã đưa một vị anh hùng như ngài tới nơi đây!”

Tonio vỗ tay một cách cường điệu và bước tới như thể anh ấy không biết tôi là ai. Rồi anh ấy nở một nụ cười cùng với một cái nháy mắt tinh nghịch sao cho những người đứng sau không thấy được. Tôi thả tay khỏi cổ con wyvern và đứng dậy. Tonio nắm lấy cả hai tay tôi và vừa bắt tay vừa bày tỏ lòng biết ơn của mình.

Phải đến lúc đó tôi mới nhận ra anh ta đang định làm gì.

“Không có gì đâu,” tôi cười và nói trong khi bắt tay anh ta.

Bee chắc hẳn cũng đã đoán được ý định của Tonio. Cô ấy lấy tay gẩy đàn rồi hét to, “Dũng sĩ Diệt Wyvern! Hôm nay, một vị anh hùng mới đã được sinh ra!” Giọng cô ấy vang xa. “Mọi người xin hãy cho vị anh hùng của chúng ta một tràng vỗ tay nào!”

Bee mở màn, và một vài tiếng vỗ tay lẻ tẻ vang theo—nhưng rồi chúng lớn dần lên. Theo sau đó là tiếng hò reo, và chẳng mấy chốc mọi người đều vây quanh lấy tôi. Họ sờ nắm cánh tay tôi và xin được bắt tay, miệng cứ luôn mồm nói “Cảm ơn” hết lần này đến lần khác.

Tôi có cảm giác mình vừa mới sống sót qua một tình huống khá là nguy hiểm. Menel và tôi chắc sẽ không thể tự nghĩ ra cách để đối phó với nó. Chỉ có Tonio và Bee nhanh trí, với bao nhiêu kinh nghiệm giao tiếp trong xã hội, mới có thể giải quyết tình hình một cách hoàn hảo như vậy. Tôi thấy thật biết ơn bọn họ.

Sau khi màn cảm ơn ca ngợi đã bắt đầu lắng xuống, tôi cất giọng và nói trước đám đông, “Chắc hẳn vẫn còn những người đang bị kẹt dưới đống đổ nát cũng như những người bị thương! Ta cùng giúp đỡ và giải cứu bọn họ nào!”

Đám đông đồng tình hô vang. Rồi bọn họ cùng đi đến sảnh chính và cùng nhau dọn dẹp chỗ đất đá đổ vỡ, cũng như chăm sóc cho những người bị thương. Tình đoàn kết đã bắt đầu nảy nở giữa biết bao con người khác hẳn nhau này.

Trong khi mọi người đang bận rộn làm việc, tôi khẽ cảm ơn Bee và Tonio.

“Ồ, không có gì đâu,” Tonio trả lời. “Tôi coi nó như một khoản đầu tư.”

“Hehe.” Bee cười chọc ghẹo. “Tí nữa tôi sẽ viết một bài hát về chuyện này đấy nhé?”

Trong khi giúp vác vài tảng đá đi, tôi cũng trò chuyện vài câu với Menel.

“Thiệt tình, có chuyện gì cậu không làm được không vậy, cái tên dị người này?” cậu ta nói.

“Ngạc nhiên à?” tôi hỏi.

“Tôi đã quen việc cậu lúc nào cũng làm mấy chuyện điên rồ rồi.”

“Còn chuyện này chỉ làm tôi cay đắng nhận ra mình vẫn còn kém cỏi đến nhường nào.”

“Gì cơ?”

Mạch máu khắp người con wyvern đã chuyển thành màu đen và toả ra một luồng khí độc kỳ quái. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với nó. Có thể là do đột biến, hoặc là nó bị nguyền rủa sau khi kích hoạt bẫy ở một tàn tích nào đó, hoặc có người đã thực hiện thí nghiệm gì độc ác với nó. Nhưng dù thế nào đi nữa, tôi vẫn không khỏi nghĩ rằng có sự liên quan nào đó giữa cái bộ dạng bất thường kia và lý do nó tấn công nơi này.

Tất nhiên, vẫn có khả năng là hai chuyện đó không hề có liên quan gì đến nhau, và con wyvern chỉ hành động theo bản năng của nó mà thôi. Tuy nhiên, dù wyvern có hung hăng đến thế nào đi nữa, tôi vẫn thấy hành động tấn công một thành phố to cỡ này chẳng khác nào tự sát cả. Đúng là con wyvern đã áp đảo tất cả mọi người thật, nhưng đó đơn giản là vì nó có lợi thế vì đã tấn công bất ngờ mà thôi. Lúc tôi hành động thì tình hình vẫn chưa như vậy, nhưng một khi thành phố đã bắt đầu hết hoảng loạn và lập kế hoạch, rồi điều động những binh đoàn gồm binh lính chính cống, pháp sư và tu sĩ, thì con wyvern chắc chắn sẽ bị tiêu diệt.

Với lại, dù nó đúng là một con wyvern bất thường, và chắc hẳn mạnh hơn bình thường thật, nhưng trận chiến vừa rồi đúng là lộn xộn quá. Nếu Menel mà không có ở đó thì tôi có thể đã chết rồi. Chưa kể, nếu không nhờ Tonio và Bee thì có lẽ đời sống xã hội của tôi cũng đã đi tong rồi.

Bao nhiêu lời chỉ trích đang vang lên trong đầu tôi, rà soát lại tất cả những lần ngây ngô, tất cả lỗi lầm, tất cả những điểm còn yếu kém của tôi.

“Will. Người anh em.” Menel gọi tôi. Tôi cắt đứt dòng suy nghĩ của mình và nhìn cậu ấy. “Tôi không biết là cậu tự đặt mục tiêu cho mình cao đến đâu, nhưng thôi nào. Cậu vừa hạ gục một con quái vật đấy. Tự kiểm điểm lại bản thân đúng là không có gì sai, nhưng ít nhất thì cũng tự hào một tí đi chứ. Tôi đang phải mừng thay cho cậu đây này.”

Tôi chưa nghĩ theo chiều hướng đó thật. Đúng là có nhiều điều tôi ước mình đã làm khác đi, nhưng giờ tôi đã một “Người diệt Wyvern,” giống như ba người họ trước kia.

“Phải…” Cậu ta nói đúng. Đúng là tôi cũng thấy vui về điều đó thật. “Phải… Phải. Cảm ơn nhé Menel! Nếu không có cậu thì tôi đã không làm được rồi!”

“Ya. Làm tốt lắm. Và cậu mới là cái đứa làm gần hết mọi việc cơ mà, cái tên đần này!”

Cậu ta đấm tay với tôi một cái. Cử chỉ đơn giản đó làm tôi cảm thấy như bọn tôi có một mối liên kết nào đó.

Chúng tôi làm việc được bao lâu rồi nhỉ?

Bọn tôi để cho những binh lính chạy đến hiện trường sau đó xử lý cái xác của con wyvern. Tôi chỉ lo không biết liệu tất cả những người bị chôn vùi dưới đống đổ nát đã được cứu hết chưa mà thôi. Ngay lúc tôi nghĩ bụng có lẽ tất cả đều đã được cứu hết rồi thì cổng trước của đền đột nhiên trở nên ồn ào.

Một vài tu sĩ chạy đến chỗ chúng tôi. “Người giết Wyvern! Người giết Wyvern có ở đây không?!”

“Ồ! Đó là tôi, có chuyện gì vậy?!” Tôi vẫy tay gọi bọn họ.

Bọn họ trông có vẻ đang rất vội vã. Các tu sĩ vừa thở hổn hển vừa nói những chuyện còn lại đã có người khác lo, còn tôi thì nên đi theo họ ngay, có chuyện khẩn.

“Đ-Đức ngài…”

“Đức ngài, em trai của Nhà Vua, muốn nói chuyện với cậu!”

Tôi chớp chớp mắt.

Căn phòng tràn ngập những sắc màu sặc sỡ. Những bức tường được trang trí bằng những tấm vải đủ màu sắc, và tất cả nội thất trong phòng đều có thể được tóm gọm lại bằng một từ: quyền thế. Nó làm ta cảm thấy được sức mạnh quyền lực nhưng lại không hề gợi cảm giác lố bịch. Căn phòng chắc hẳn đã được thiết kế dành riêng cho mục đích này.

Menel và tôi đã được mời đến căn biệt thự của người cai quản Buồm Trắng, và chúng tôi vừa mới được dẫn vào phòng nơi ông ấy tiếp khách.

“Các anh hùng, chào mừng đến căn biệt thự của ta.” Đang đứng ở phía bên kia chiếc bàn lớn bằng gỗ mun, Công tước Ethelbald Rex Fertile dang rộng tay chào đón chúng tôi. Em trai của Vua Vương quốc Fertile, ông ấy vừa là lãnh chúa của Buồm Trắng vừa là người cai quản Southmark.

Đôi mắt sắc bén thật đấy, tôi nghĩ bụng. Chúng có màu xám đậm, và tưởng chừng như có thể xuyên thấu đến tận linh hồn tôi. Chúng làm tôi liên tưởng đến đôi mắt sắc lẹm của những loài chim săn mồi.

Ngài Công tước có một mái tóc xám mỏng đã được cắt ngắn, ánh mắt nghiêm nghị, cùng với một thân hình trông có vẻ như đã luyện tập thể lực nhiều. Ông ấy đang mặc một bộ quần áo may đo cao cấp, cùng với một thanh kiếm bên hông. Bao kiếm không được trang trí nhiều và trông có vẻ rất dễ rút ra, chứng tỏ đây không chỉ là một thứ vũ khí dùng để trang trí đơn thuần.

Sau lưng ông là hai lính gác mặc đầy đủ áo giáp mặt trông rất nghiêm trang.

“Thần thật không xứng đáng với niềm vinh dự được gặp mặt ngài. Tên thần là William G. Maryblood, xin được diện kiến Đức Ngài.” Tôi đặt tay phải lên ngực trái, hơi lùi chân trái lại một chút và cúi đầu.

“Ồ?” Công tước của Southmark khẽ nói. Tôi đã làm gì sai à? “Không ngờ cậu lại biết một lễ nghi cổ như vậy. Liệu cậu có phải là một người mang dòng máu xanh không?” Ông ấy hỏi, rồi chào lại tôi bằng một cử chỉ tương tự.

(Trans: Dòng máu xanh được dùng để ám chỉ dòng máu quý tộc)

Có vẻ như tôi không làm sai gì, nhưng ông ấy đã hơi hiểu lầm rồi. “Không hẳn vậy, ưm… thần sẽ rất cảm kích nếu Đức Ngài không hỏi về xuất thân của thần.”

Cũng chẳng trách được. Tại tôi không chịu giải thích rõ ràng mà.

“Ha ha ha. Vậy là cậu có vài hoàn cảnh riêng phải không. Cũng được thôi. Mời ngồi.”

Ngài Công tước chỉ vào một chiếc ghế khác rồi ngồi xuống ghế của ông ấy. Tôi cũng cúi đầu nhẹ một cái và ngồi xuống.

Tôi nhanh chóng nhận ra mà không cần nhìn rằng Menel đã không ngồi xuống ghế mà vẫn tiếp tục đứng đằng sau tôi, hơi lệch về bên phải một chút. Tôi bất ngờ khi thấy vậy. Sao cậu ta lại hành xử như thể người hầu của tôi vậy?

Đợi đã… Cậu ta vừa mới đùn hết việc trò chuyện với cái ông tay to mặt lớn này cho tôi sao?!

Tôi hơi quay đầu lại và lườm Menel một cái sắc lẹm. Khoé miệng cậu ta nhếch lên. Đồ đểu, tôi nghĩ thầm, và quay lại nhìn công tước. Ngay trước mặt người đã mời tôi đến mà cứ nhìn ngang nhìn dọc mãi thế này thì sẽ vô lễ quá.

“Ta ngạc nhiên khi thấy chỉ có người đại diện mới đến đây…” ông ấy nói. “Ta đã ra lệnh đưa tất cả đến cơ mà.”

“Hở?” Tôi nói, đầy bất ngờ. Liệu tôi còn phải đưa cả Bee và Tonio đến nữa sao? Thật ra thì Bee cũng tò mò muốn xem bên trong biệt thự của lãnh chúa trông như thế nào, nhưng cô ấy không đóng vai trò gì trong trận chiến với con wyvern, nên chúng tôi đã bảo cô ấy và Tonio đứng đợi chỗ ngôi đền.

“William, theo như ta đoán, thì cậu đang đi trong một nhóm gồm bốn hoặc năm người phải không.”

“A, phải. Chúng thần có bốn người.” Sao ông ấy lại biết vậy?

“Một pháp sư, một tu sĩ, một nguyên tố thuật sư và một chiến binh sao. Bố trí khá là cân bằng đấy.”

“Hở?”

“Hửm?”

Xem nào, ưm… “Chúng thần gồm một tu sĩ, một thợ săn, một thương gia và một nhà thơ…”

“Hửm…?”

Liệu một trong hai bọn tôi… đang hiểu nhầm gì sao?

“Một người phóng sét về phía con wyvern, một người dựng bức tường ánh sáng quanh đền, một người điều khiển gió, và cuối cùng là người mà ta đã được nghe kể về rất nhiều, vị chiến binh đã tay không đối đầu với con wyvern và bẻ gãy cổ nó. Bốn người. Có phải không?”

“Ô-Ồ.” Giờ tôi hiểu rồi. “Thưa Đức Ngài, thần vô cùng hối lỗi vì sự hiểu lầm này, nhưng nếu như ý ngài là vậy thì thần chắc chắn không có gì sai khi chỉ có hai người chúng thần tới đây.”

“Hửm? Vậy ý cậu là—”

Tôi gật đầu. “Meneldor, bạn của thần đã gọi các tinh linh tới, phân tán Từ Ngữ ra, và khiến cho con wyvern đâm đầu xuống đất bằng cách điều khiển gió.”

“Vậy cậu ta là nguyên tố thuật sư. Ta hiểu rồi. Còn những người khác thì sao?”

“Họ là thần.”

“Xin lỗi, cậu có thể giải thích chính xác những gì cậu đã làm không?”

“Đầu tiên, thần đã tự một mình phóng tia sét đến con wyvern. Kết quả là thất bại. Rồi sau khi được sức mạnh của Meneldor giúp đỡ, thần thử lại lần thứ hai. Lần này thì thần đã thành công, chọc tức con wyvern và dụ nó bay đến chỗ bọn thần. Sau đó, thần định dùng lời cầu nguyện Sanctuary để ngăn nó sà xuống cũng như làm tiêu biến đà bay của nó, nhưng không may là sau khi con wyvern toả ra một loại khí ăn mòn bí ẩn, thần đã để nó lọt qua…”

Tự miêu tả lại những sai lầm của mình thành tiếng như thế này làm tôi thấy mình thảm hại quá. Mary chắc chắn đã có thể dễ dàng ngăn lại được đòn tấn công đó rồi.

“Lúc đó tình hình đã trở nên nguy cấp, nhưng nhờ các tinh linh của Meneldor giúp đỡ bằng cách tạo một luồng gió thổi hướng xuống dưới, thần đã ép con wyvern phải rơi xuống khu vườn phía trước bằng cách dùng Từ Ngữ Thắt Nút. Vào lúc này ở đó vẫn còn rất đông người, nên thần không định tiêu diệt con wyvern bằng một phép thuật có độ huỷ diệt cao, mà bằng cách đâm giáo vào tim nó. Tuy nhiên, thần đã thất bại.”

Blood chắc hẳn sẽ cau mày khi thấy tôi mắc một sai lầm như vậy. Đúng là tôi phải quay về luyện tập lại từ căn bản thôi.

“Con wyvern đang sắp thở ra lửa và gây thương vong cho mọi người đến nơi, nên thần không còn cách nào khác ngoài tiếp tục tấn công, lần này là bằng tay không. Nó định cắn thần. Thần né ra. Rồi thần túm lấy cổ và vật nó ngã xuống đất, ghì chặt nó xuống và siết cổ để ngăn không cho nó thở ra lửa. Trước đó thần đã tự cường hoá thể lực của mình bằng phép thuật, nên thần giữ nguyên tư thế đó và để cho cơ bắp của mình làm nốt việc còn lại. Cuối cùng, trận chiến kết thúc khi thần bẻ cổ con wyvern.”

Đúng là một trận đấu dơ dúa. Sau khi tôi tóm tắt lại trận đấu—một trận đấu mà, đối với tôi, đã để lại rất nhiều nỗi hối hận—khoé miệng công tước cong lên. “Vậy là cậu đã giết một con wyvern mà thậm chí còn chẳng thấy tự hào. Ta rất vui khi thấy những chiến binh thực sự dũng cảm không chỉ tồn tại ở trong truyền thuyết.” Và rồi ông ấy cười khúc khích.

“Nếu Đức Ngài không phiền thần hỏi điều này, ngài có chắc là ngài có thể dành thời gian trò chuyện với thần như thế này không?” Tôi hỏi. “Chẳng phải ngài cần giúp thành phố đối phó với những thiệt hại do con wyvern gây ra sao?” Ở ngoài biệt thự, rất nhiều công chức và những người trông giống như sĩ quan quân đội đang tất bật chạy đi chạy lại.

“Tất nhiên. Ta đã lo liệu một vài chuyện rồi, và ta cũng còn rất nhiều việc phải làm sau khi tiễn cậu đi nữa. Báo cáo, hướng dẫn, đích thân đến hiện trường và động viên mọi người, nghe thỉnh cầu của dân chúng…” Công tước hóm hỉnh lấy ngón tay đếm từng việc một. “Những vẫn có những chuyện quan trọng hơn.” Ông ấy nhìn tôi. “Ví dụ như… nói lời cảm ơn với vị anh hùng đã giải quyết gốc rễ của vấn đề.” Rồi ông nở một nụ cười láu cá.

“Ôi, không, ngài không cần phải…”

“Đừng tự hạ thấp mình như vậy. Ta không muốn bị dân chúng nói xấu và gọi ta là một kẻ không biết coi trọng ân nghĩa đâu.” Công tước ngồi thẳng người rồi nhìn về phía tôi và Menel. “Thay mặt cho Buồm Trắng, ta muốn bày tỏ lòng cảm kích với hai cậu. Cảm ơn hai cậu rất nhiều vì đã ngăn chặn đáng kể thiệt hại của cuộc tấn công bất ngờ này.” Rồi ông ấy còn hơi cúi đầu nữa.

Kể cả tôi cũng nhận ra là không phải lúc nào một người quyền lực như thế này cũng cúi đầu như vậy. Có những người nghĩ rằng cúi đầu một cái thì có mất gì đâu, những khi ta trở nên quyền lực như thế này, việc cúi đầu trước người khác sẽ có thể làm ta mất uy quyền ngay.

“Thần thật không xứng với lời khen của ngài.” Tôi cúi đầu lại.

Nhưng mà… Ôi trời. Cứ nghĩ về những chuyện sắp xảy ra mà bụng tôi cứ thắt lại. Nhưng tôi không được bỏ phí mất cơ hội này.

“Ta sẽ rất vui lòng nếu cậu chấp nhận một phần thưởng,” ông ấy nói. “Giờ cậu có mong muốn điều gì không?”

“Thần có.” Việc này sẽ gây nhiều rắc rối cho tôi lắm đây, nhưng tôi không thể không làm được. Được rồi, tôi nghĩ. Đánh liều nào. “Hôm nay thần đã từ Rừng Mãnh Thú ở phía nam đến đây. Những ngôi làng ở khu vực đó hiện đang phải chịu sự đe doạ từ mãnh thú được dẫn đầu bởi lũ quỷ.”

“Ra vậy.”

“Đầu tiên, thần muốn xác nhận lại điều này—Đức Ngài có sức mạnh để điều động binh linh đi săn quỷ không? Liệu điều đó có thể không?”

Mặt ông ấy chuyển sang vẻ nghiêm túc. “Nếu nói về tiềm lực quân đội, thì không phải là không thể. Không phải là không thể, nhưng chắc chắn sẽ rất khó khăn. Cậu cũng thấy con wyvern đó rồi đấy,” ông ấy nói trong khi lay lay thái dương. “Dù chúng ta không bao giờ ngờ một con quái vật cỡ như vậy sẽ tấn công thẳng vào Buồm Trắng, nhưng đã có nhiều vụ quái vật tấn công tương tự xảy ra thường xuyên trong phạm vi Southmark được cai trị bởi Vương quốc Fertile.”

Tôi hoang mang hỏi. “Khi ngài bảo ‘những vụ tấn công tương tự’…”

“Phải, ta đang nói đến cái loại tà khí độc kỳ lạ đó. Những ai chạm vào nó sẽ bị chất độc huỷ hoại và làm cho hoá điên.” Ông ấy giải thích rằng hiện những loại thú chứa đầy chất đó trong người đang hoành hành khắp nơi. “Còn cậu thì sao, William? Cậu đã vòng tay quanh cổ con wyvern khi khí độc toả ra từ nó. Nó không ảnh hưởng cậu sao?”

“Thần không dễ bị trúng độc như vậy đâu, thưa Đức Ngài.”

“Vậy thì tốt quá. Binh lính thường đổ gục sau khi chiến đấu với những con mãnh thú như vậy.”

Khi nghĩ lại những chuyện đã xảy ra với thần undeath, có vẻ như sau khi được nuôi sống bằng bánh mỳ thánh, cơ thể tôi đã không còn bị ảnh hưởng bởi mấy loại chất độc kiểu này nữa. Vậy ra những người bình thường sẽ bị như vậy khi tiếp xúc với luồng tà khí đó… Và có nhiều loại quái vật kiểu như vậy sao…? Đây có lẽ, không, đây chắc chắn là do bọn quỷ gây ra.

“Vì chính sách mở rộng của vị Vua đời trước mà giờ chúng ta đang phải dàn trải quá thưa thớt. Chúng ta thậm chí còn không thể bảo vệ tử tế được những ngôi làng dưới quyền cai quản của mình. Mong rằng cậu có thể hiểu được ý ta.”

Tất nhiên, và tôi cũng hiểu được cả những ý không được nói ra nữa. Trong hoàn cảnh như vậy, ông ấy sẽ không thể điều động binh linh đến những khu định cư độc lập ngoài tiền tuyến, vốn là những nơi vừa không nộp thuế cho Vương quốc Fertile vừa không nằm trong sự bảo hộ của nó. Nếu làm vậy thì công tước sẽ vấp phải sự chỉ trích từ những ngôi làng nằm dưới quyền cai quản. Ông ấy không thể rút lực lượng từ những nơi có nộp thuế để đưa tới những nơi không nộp một đồng nào cả. Về lý thuyết thì ông ấy có khả năng làm vậy, nhưng trên thực tế thì chắc chắn là không thể.

“Nếu vậy thì—” Tôi đã biết được những gì mình cần biết rồi. Giờ mới đến vấn đề chính này. “Liệu Đức Ngài có thể cho phép thần bỏ chi phí để tổ chức và kêu gọi thám hiểm giả cùng lính đánh thuê đi săn quỷ không?”

Tôi đã nghĩ về điều này được một thời gian rồi. Một mình tôi không thể nào tiêu diệt được hết số lượng quỷ đang hoành hành khắp Rừng Mãnh Thú được. Vậy nên, nếu không làm được một mình, thì tôi chỉ việc bỏ tiền ra và thuê người để tăng nhân lực là xong.

Nhưng ngay lúc hỏi vậy, tôi thấy thái dương của Công tước vùng Southmark đột nhiên giật giật. Ông ấy chầm chậm đưa tay lên ngang mắt và lay lay thái dương, rồi lại chầm chậm nhìn về phía tôi.

“William, cậu có hiểu ý nghĩa điều cậu vừa nói không?” Ông ấy nhìn tôi chằm chằm. Bầu không khí trong phòng dần thay đổi.

“Thần hiểu tầm quan trọng của việc mình vừa nói.”

“Vậy nhưng cậu vẫn làm vậy?”

“Phải.”

Công tước nhìn tôi chằm chằm thêm một lúc nữa. Tôi có cảm giác như mình vừa mới hiểu được ý nghĩa thực sự của cụm từ “đôi mắt mạnh mẽ.” Chỉ riêng một cái nhìn chằm chằm đó cũng đã là quá đủ để khiến một người yếu bóng vía run bần bật và rút lời lại rồi. Nhưng tôi cần phải hoàn thành lời thề của mình.

“Xin ngài hãy nghĩ xem liệu sẽ có bao nhiêu ngôi làng bị thiêu rụi, có bao nhiêu con người sẽ phải mất mạng trong cái đói khổ, đau đớn và bạo lực.”

“Nhưng cứu tất cả bọn họ sẽ là một kỳ công lớn lao đến nỗi cả thánh thần cũng không thực hiện được.”

Chúng tôi nhìn thẳng vào nhau, không bên nào chịu nhường bên nào.

Công tước là người đầu tiên nhìn đi chỗ khác. Rồi ông ấy nhún vai. “Đúng là xui xẻo mà,” ông lẩm bẩm. “Chuyện này sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu cậu chỉ là một người không có danh tiếng gì.”

“Thần cũng đồng tình với điều đó, thưa Đức Ngài. Tuy nhiên, nếu không giết được con wyvern thì thần đã không được mời đến đây rồi.”

Công tước lại một lần nữa giơ tay lên lay lay thái dương. Đây chắc đã thành thói quen của ông ấy rồi. “Đúng vậy. Tuy nhiên…” Rồi ông im lặng.

Người giết Wyvern nổi tiếng chưa gì đã bắt đầu hành động trái ý muốn rồi.

Đúng như ông ấy nói: nếu tôi chỉ là một người bình thường không thể cam lòng khi nhìn thực trạng ở vùng biên giới và muốn bỏ tiền ra kêu gọi vài người để đi săn quỷ, thì không có vấn đề gì. Ông ấy sẽ có thể bỏ qua chuyện đó. Thế giới này vốn có nhiều giống loài tà ác, nên việc thuê thám hiểm giả khi người cai trị không phản ứng kịp cũng không phải là hiếm hoi gì, vẫn trong phạm vi chấp nhận được.

Nhưng tôi lại là người anh hùng Diệt Wyvern, chưa kể còn bị hiểu nhầm là xuất thân từ dòng dõi quý tộc nữa; và giờ tôi đang tuyên bố là mình có ý định tập hợp một lực lượng có khả năng trở thành quân đội của riêng mình, và hoạt động ở Rừng Mãnh Thú, một khu vực không nằm trong tầm quản lý của lãnh chúa.

Bạn hỏi chuyện này có gì mà nguy hiểm sao? Đúng hơn là trường hợp này có quá nhiều rủi ro tiềm tàng đến nỗi không thể nói ra hết được. Ví dụ như, tôi có thể trở thành thủ lĩnh của một nhóm phản loạn này. Tôi có thể đang làm việc cho một quốc gia khác này. Hoặc tôi có thể làm quá tay và khiêu khích mãnh thú và các giống loài độc ác trong rừng chẳng hạn.

Vậy nên điều khôn ngoan cần làm lúc này sẽ là:

“Giờ ta sẽ phải cân nhắc đến việc giết cậu.”

Công tước đột nhiên trông đáng sợ đến bội phần.

“Đáng sợ quá. Liệu ngài sẽ công bố là thần đã chết như thế nào?”

“Ta hứa là mình ít nhất cũng sẽ giữ lại chút danh dự cho cậu. Hay là thế này đi: cậu đột nhiên ho ra máu, có lẽ là vì trúng độc lúc chiến đấu với con wyvern. Chúng ta đã cố cứu chữa cậu nhưng không thành.”

Những binh lính uy nghiêm đứng sau em trai nhà Vua hơi nghiêng người. Vào khoảnh khắc ông ấy ra lệnh, tôi chắc chắn hai người họ sẽ đá cái bàn xuống và lao về phía tôi.

Tôi chắc có thể xử lý được hai người đó, nhưng tôi vẫn cảm nhận được có binh lính đang ẩn trốn trong các căn phòng bí mật ở hai bên, bọn họ thể nào cũng sẽ lao ra chém hạ tôi. Tôi cũng phải cẩn thận không bị tên bắn nữa. Cả công tước trông cũng khá là thiện chiến. Nếu ông ấy mà ra lệnh thì những người lính gác sẽ tập trung phòng thủ trong khi ông ta rút lui, nên tôi sẽ khó có thể bắt ông ta làm con tin…

Để đề phòng tình hình chuyển biến thành một trận chiến, tôi đã phán đoán xem nó sẽ xảy ra như thế nào, nhưng thực sự thì có nghĩ về nó cũng vô ích. Kể cả nếu tôi có giết được tất cả mọi người trong căn biệt thự này đi nữa, địa vị xã hội của tôi cũng sẽ đi tong. Chuyện đó không bao giờ được phép xảy ra.

“Ồ?” Ánh mắt công tước hướng về phía Menel. “Ôi chà… Đáng sợ thật đấy.” Rồi ông ấy nhún vai một cái thấy rõ. Tôi thắc mắc không biết chuyện gì vừa xảy ra và quay lại nhìn phía sau, nhưng chỉ thấy Menel đang đứng đó, mặt không có cảm xúc gì.

“Sao?” cậu ta hỏi.

“Tôi tưởng… Thôi không có gì.”

Hừm. Vậy là sao vậy? Tôi không thể cứ mãi nhìn Menel như vậy được, nên tôi quay đầu lại về phía công tước.

Dù đây là chuyện tôi tự rước vào người, nhưng dù vậy, tình hình vẫn không khả quan cho lắm. Tôi phải vượt qua chuyện này mới được. Tay tôi ở dưới bàn đang bắt đầu đổ mồ hôi rồi. Tôi không hề chắc chắn chuyện này sẽ thành công…

“Thưa Đức Ngài.”

“Sao vậy?”

“Nếu muối của đất mà mất mặn đi, thì ta sẽ lấy gì mà làm cho mặn lại?”

“Hửm?” Công tước tỏ vẻ nghi ngờ trước câu hỏi đường đột đó.

Tôi tiếp tục. “Nếu tất cả những người cầm đuốc trên thế gian đều đứng dưới ánh mặt trời, thì liệu ánh đuốc của họ sẽ rọi sáng được gì?”

Công tước không nói gì. Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt sắc bén của ông ấy. Ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Tôi không nhìn đi chỗ khác, tôi không nao núng. Tôi tiếp tục nhìn thẳng vào đó.

“Thần đã được ban tặng một phần ánh sáng của Gracefeel, vị thần của ngọn lửa.”

Nhìn vào mắt ông ấy, tôi tự nhủ với bản thân.

“Thần tin rằng những ai cầm ngọn đuốc của Gracefeel sẽ cần phải bước bước đầu tiên vào trong bóng tối, trước tất thảy những người khác. Họ phải rọi sáng cho những con người đang chịu đau khổ trong bóng tối, và dẫn đường cho những người đã đi theo mình. Thần tin rằng đó là nhiệm vụ của mình.”

Ngẩng đầu về phía trước. Thuyết phục ông ấy bằng những lời đến từ trái tim mình. Đó là cách duy nhất, và là cách đúng đắn nhất. Sự dối trá và lừa lọc sẽ không có tác dụng với người đàn ông này.

“Nên làm ơn. Liệu ngài có thể cho phép thần làm vậy không?” Tôi ngồi dậy, quỳ xuống, và cúi đầu thật sâu. Tôi không hề làm gì khôn ngoan hay xảo trá cả. Tôi chỉ đang nói thẳng với ông ấy. Dù đúng là ngây thơ thật, nhưng tôi nghĩ rằng nếu ta đã định nhờ người khác một điều gì quá đáng, thì ta ít nhất cũng phải thực lòng với họ.

Công tước không nói gì.

“William,” ông ấy nói sau khi im lặng một lúc lâu. “Gần như trường hợp nào cũng vậy, con đường đó sẽ chỉ đưa cậu đến nỗi tuyệt vọng mà thôi. Nó rất hiếm khi dẫn đến kết quả mà cậu mong muốn, và kể cả nếu có đi nữa, thì cậu cũng sẽ phải trả một cái giá đắt.”

Sau khi nghe những lời đó, tôi chầm chậm ngẩng đầu lên và cười với ông ấy. Thần biết, tôi nghĩ. Nhưng dù vậy—

“Ngài biết không, thần có một chuyện cần phải làm với nỗi tuyệt vọng,” tôi lên tiếng.

“Ồ? Chuyện gì vậy?”

“À thì, thần không thích cái bản mặt của nó lắm, nên thần định đá đít nó một trận cho nó biết điều,” tôi nhún vai nói.

Công tước điếng người một lúc trước câu trả lời của tôi… và rồi ông ấy phá lên cười. “Hahahah! Đá đít nó sao. Được đấy. Ha ha ha!”

Vậy là suôn sẻ rồi. Công tước đang ôm bụng cười và đập đập tay xuống bàn. Thậm chí khoé mắt ông ấy còn đang rơm rớm nước mắt.

“Haha. Phải… Đó đúng là một lời cảnh tỉnh tốt đấy. Dù sao thì cậu cũng là một tu sĩ cấp cao có thể dùng được cả lời cầu nguyện Sanctuary mà. Chưa kể anh bạn tốt của cậu nữa!”

“Hở? Ư…”

“Hừm? Cậu không nhận ra sao? Ngay lúc ta nhắc đến chuyện giết cậu, cậu bán elf đằng kia dám nhìn ta một cách đầy sát khí. Đó là ánh mắt của một người lính sẵn sàng chết vì lý tưởng của mình. Cậu ta sẵn sàng giết tất cả mọi người ở đây và hi sinh trong khi bảo vệ cậu! Đáng khâm phục, đáng khâm phục thật…” Công tước cười.

Tôi chầm chậm quay đầu nhìn Menel.

“L-Lấy đâu ra! Tôi chỉ đang… chuẩn bị tinh thần, vì nghĩ rằng ông ta cũng sẽ giết tôi, chỉ vậy mà thôi… Chết tiệt, đừng có ngồi cười như một thằng đần như vậy nữa!”

Tôi còn không nhận ra là mình đang cười, nhưng có vẻ nó đã làm Menel còn bực mình hơn trước.

Đột nhiên, ở đâu đó trong hành lang, tôi nghe thấy tiếng bước chân dậm thình thình cũng như nhiều tiếng la ố.

“X-Xin hãy dừng lại đi ngài Giám mục, Đức Ngài hiện đang có khách—”

“Đợi đã! Cha, đợi đã!”

“Buông ta ra! Ta nói là buông ta ra cơ mà!”

Tôi có thể nghe thấy đủ loại giọng nói.

“Đừng có ngăn cản nữa, bọn đần độn này!”

Cánh cửa mở uỳnh ra.

Đó là Giám mục Bagley. Theo sau ông ấy là một hàng người hầu trong biệt thự, một người phụ nữ trẻ tôi đoán là trợ tế, cũng như nhiều người khác nữa. Trong khi vẫn còn đang thở hồng hộc, ông ấy bước vào trong phòng, kéo theo những người đang ôm lấy người ông để ngăn cản. Và rồi ông đứng trước mặt công tước mà không thèm đếm xỉa gì.

Ánh mắt ông giám mục sáng lên theo một cách khác với mắt của Ethelbald, và ông ấy lườm công tước một lúc trước khi mở miệng. “Tôi sẽ rất biết ơn nếu như Đức Ngài đừng làm những việc ấu trĩ như thế này nữa.”

“Ồ? Việc ấu trĩ sao? Ý ông là gì vậy, Giám mục Bagley?” Công tước nhún vai hỏi, trông có vẻ đang rất thích thú.

“Đừng có coi tôi là một trò đùa!” Giám mục dẫm mạnh chân xuống đất. “Cậu thanh niên này,” ông ấy chỉ vào tôi và hét, “đã được đăng ký ở đền thờ của tôi! Dù có là tạm thời hay gì đi nữa, cậu ta vẫn là một thành viên của đền! Vậy nhưng ông đã gọi cậu ta đến đây mà không thông báo một lời nào! Việc này nghĩa là sao hả?! Không lẽ Đức Ngài định hoàn toàn phớt lờ quyền hành của đền sao?!” Ông ấy tức giận đến nỗi nói một hồi mà chẳng thèm lấy hơi.

“Ồ, ra vậy… Ta không biết chuyện này. Có phải vậy không?”

“Ưm… đúng vậy.” Đúng là tôi đã ghi trên trong sổ đăng ký thật. Nhưng đó rõ ràng không phải là một tài liệu gì quan trọng lắm… Nó giống kiểu như sổ ghi tên khách thì đúng hơn…

“Dù có không biết đi nữa cũng không thể chấp nhận được! Chỉ bởi vì tôi đang đi vắng thì ông cũng không có quyền bỏ qua hết tất cả thủ tục xác minh!”

“Có lẽ vậy, nhưng mấy người ở đền của ông trông rất vui vẻ khi đưa cậu ta đến đây.”

“Đơn giản là vì chưa được huấn luyện đến nơi đến chốn! Tí nữa tôi sẽ mắng bọn chúng một trận sau!!” ông ấy nói và đập bàn tay béo húp đeo đầy nhẫn bạc nhẫn vàng xuống mặt bàn. Cái cách mỡ trên người ông ta rung lắc như sóng đánh trông khá là nực cười. “Nói tóm lại thì, cậu ta thuộc về đền! Đức Ngài không thể tự ý—”

“Ông nhầm rồi, Giám mục. Cậu ta hơn vậy.”

“Gì cơ…?”

“Cậu ta đã xin tôi cho phép thành lập một đội quân tư nhân. Cậu ta nói mình muốn cứu những người đáng thương ở Rừng Mãnh Thú.”

“Gì cơ?!” Lần này ông giám mục quay ngoắt đầu về phía tôi. “N-N-Ngươi…” Ông ấy lắp bắp, mắt trố ra.

“Thật sự thì, tôi không thể không nói là mình chưa nghĩ đến chuyện giết cậu ta.”

Ông giám mục giờ không còn nói gì được nữa, miệng cứ há ra rồi đóng lại như con cá vàng.

“Nhưng cậu ta đã nói lên suy nghĩ của mình thẳng thắn quá,” công tước tiếp tục nói, “đến nỗi tôi cũng thấy khá thú vị.”

“Gì—?!”

“Tôi định phong tước hiệp sĩ cho cậu ta. Ông nghĩ thế nào, Giám mục, về việc để bên đền thờ ban phước cho cậu ta?”

“G-Gì cơ?!”

“Ông biết đó, một hiệp sĩ thần thánh. Một thánh binh. Cả tôi và bên đền thờ sẽ cùng gánh vác trách nhiệm cũng như hưởng lợi như nhau… Ông thấy thế nào?”

“GÌ CƠƠƠƠ?!”

Ông ấy hét to quá. Cả căn phòng cũng đang rung động theo rồi này.

“Cậu ta sẽ nằm dưới quyền của cả hai bên chúng ta, và nếu có chuyện gì xảy ra thì ông vẫn có thể khai trừ cậu ta.”

“Vấn đề không phải là chuyện đó!”

“Phía đền thờ có thể chứng thực cho tính cách tốt của cậu ta, và chưa kể cậu ta còn là Người Diệt Wyvern nữa… Tôi nghĩ rồi mọi chuyện sẽ suôn sẻ thôi mà.”

“Vấn đề không phải là chuyện đó!”

“Vậy thì là chuyện gì?”

“Thế này đột ngột quá!” Ông ấy lại đập tay xuống bàn một lần nữa. “Tôi sẽ đưa cậu ta về và thảo luận sau! Thế này có được không?”

“Hừm, vậy cũng được. Hai người cứ thoải mái thảo luận. Nhưng tôi sẽ rất vui nếu chuyện này thành hiện thực, Bagley. Tôi thấy thích thú với cậu thanh niên này rồi.”

“Ông cũng đã nói vậy lúc tỏ ý ủng hộ tôi. Làm ơn đừng kéo tôi vào mấy trò chơi lố bịch của ông nữa!” ông ấy la to, rồi quắc mắt về phía tôi và Menel. “Còn ngươi! Lính mới! Đi theo ta! Chúng ta rời khỏi đây!”

“R-Rõ!” Tôi vội vã ngồi dậy.

Cơn lốc Bagley rời đi cũng nhanh chóng hệt như lúc đến, và thế là, cuộc gặp mặt giữa tôi và Ngài Ethelbald, Lãnh chúa của Buồm Trắng, đã kết thúc.

“Tên nào cũng vậy, toàn gây rắc rối cho ta…”

Trên đường quay về, Giám mục Bagley cứ cằn nhằn luôn mồm. Menel đang giả vờ nghe, nhưng tôi có thể thấy cậu ta đã bắt đầu thấy khó chịu với người giáo sĩ này rồi. Hai người họ kiểu gì cũng chẳng ưa nhau cho mà xem.

“Ưm—” Tôi định xen vào và nói gì đó, nhưng…

“Nhất là ngươi đó, lính mới! Ngươi không nghĩ đến chuyện hỏi ý kiến ta trước khi tự ý đi đâu sao…?!”

Khi những lời cằn nhằn của Giám mục Bagley càng ngày càng kịch liệt, Menel cuối cùng cũng bắt đầu cãi lại. “Hỏi ý kiến? Còn lâu nhé. Bọn tôi không phải là thuộc hạ của ông.”

“Ngươi nói cái gì cơ?! Ta là người đứng đầu đền thờ đấy!”

“Vậy thì sao?!” Bọn họ bắt đầu cãi vã, và thế là tôi không còn có thể chen vào được nữa. Trời ạ, hai người đó cứ như lửa với nước ấy…

Khi tôi đang nhìn họ cãi vã, cô trợ tế đã từng cố gắng ngăn ông giám mục lại lúc còn ở biệt thự nói với tôi. “Xin lỗi về Papa nhé. Gần đây ông ấy đang gặp nhiều chuyện nên có hơi nóng tính một chút…” Cô ấy có một mái tóc màu nâu vàng nhạt đã được buộc qua loa và đang mặc áo khoác, áo gilê cùng với một chiếc váy dài trông rất chỉnh tề.

“Không sao đâu, tôi cũng xin lỗi thay mặt cho bạn đồng hành của mình. Vậy cô là con gái của Giám mục Bagley sao?” Tôi vẫn đang thắc mắc chuyện đó. Theo như được biết thì đúng là giáo sĩ ở thế giới này không bị ngăn cấm kết hôn gì cả, nhưng không lẽ ông giám mục đã kết hôn thật sao?

“Phải, tôi là con gái ông ấy. Nhưng bọn tôi không cùng huyết thống.”

“Vậy…”

“Trước khi được điều đến đây, cha tôi đã từng ở kinh đô. Ông ấy được giao việc điều hành một ngôi đền có trại mồ côi lớn.”

“A, tôi hiểu rồi.”

Tôi không biết ông ấy đã lọt vào tầm mắt của công tước kiểu gì, nhưng tóm lại là chuyện đó đã xảy ra, và thế là công tước lôi ông ấy khỏi thủ đô và đưa đến đây. Tôi chưa quen Giám mục Bagley được bao lâu, nhưng vụ việc vừa rồi ở căn biệt thự đã cho tôi thấy rằng ông ấy có khả năng trở nên rất hùng hổ. Có lẽ công tước đã nghĩ ông ấy sẽ rất hợp để điều hành ngôi đền ở một vùng xa xôi như thế này.

“Nhiều bạn bè và đàn anh đàn chị của tôi sau khi rời khỏi trại mồ côi đã tìm được việc ở trên đại lục. Papa giúp họ tìm việc ở nhiều nơi, nhưng tôi và khoảng hơn một chục người khác đã đi theo ông ấy đến đây.”

Vậy là ông ấy không chỉ có mối quan hệ rộng, mà còn có những người trung thành đi theo mình nữa. Cho đến bây giờ tôi vẫn luôn giữ thái độ trung lập không thành kiến về ông ấy, nhưng có lẽ đã đến lúc tôi hình thành ý kiến của riêng mình rồi.

Nhìn bề ngoài thì ông ấy trông khá là thối nát, gắt gỏng và gây ấn tượng xấu—nhưng dù vậy, có vẻ như Giám mục Bagley lại khá là giỏi giang.

“Giám mục Bagley.” Tôi gọi trong khi ông ấy vẫn còn đang cãi nhau với Menel về chuyện gì đó. “Cảm ơn ngài rất nhiều. Tất cả là nhờ ngài can thiệp vào.”

“Cậu nghĩ ta làm vậy vì cậu sao?! Ta chỉ đang bảo vệ quyền hạn của đền khỏi những hành động ích kỷ của ông ta. Còn cậu chỉ là lý do phụ mà thôi!” Rồi ông ấy lại tiếp tục cằn nhằn về công tước cũng như những việc kỳ quái ông ấy làm mỗi khi thấy hứng thú với điều gì.

Giám mục Bagley đúng là hay cằn nhằn thật đấy. Dù việc giải toả tất cả nỗi bực dọc trong lòng như thế này chắc là cách để ông ấy giữ tâm lý ổn định, tôi cũng hiểu được vì sao ông lại không được yêu quý lắm ở trong đền.

“Nhưng mà, tạm gác lại chuyện đó,” ông ấy nói với tôi, “quyền lợi của người dân cũng cần phải được tôn trọng. Hãy nán lại ở nhà nguyện sau buổi Cầu nguyện Chiều tối. Chúng ta sẽ cùng bàn về đề xuất của ông ta.”

“Đã rõ. A, nhưng mà… ưm…”

“Lại gì nữa đây?!”

“Xin lỗi… Buổi Cầu nguyện Chiều tối là gì vậy?”

Một mạch máu nổi lên trên thái dương của giám mục. Ông ấy ngừng lại một lúc, rồi xổ ra một tràng chửi bới không ngớt.

Vâng, thành thật xin lỗi, tôi đúng là không biết gì cả…

Có vẻ như các nghi lễ tôn giáo đã được thay đổi rất nhiều trong hai trăm năm qua. Tất cả những nghi lễ trong ngày, bao gồm Vespers, Compline, cũng như nhiều thứ khác ở thời đại của Mary giờ đã được gộp lại thành một nghi lễ gọi là buổi Cầu nguyện Chiều tối.

Xét từ việc nhiều nghi lễ đã được gộp lại làm một cũng như việc ngôn ngữ dùng trong những nghi lễ đó đã được đơn giản hoá, có vẻ như sự sụp đổ của Thời đại Liên minh đã khiến cho nhiều nơi không còn có khả năng duy trì hệ thống lễ nghi phức tạp như vậy nữa. Với lại, cả giám mục và trợ tế đều trông rất sốc khi tôi bảo họ rằng tôi có biết về Vespers và Compline, nên có vẻ như kể cả những từ đó cũng không còn xuất hiện nhiều nữa.

“Cậu đã học cùng những người quen với hệ thống giáo lễ cổ sao?” ông ấy hỏi tôi. “Một bộ tộc nhà sư trường thọ hay gì à?”

“Ưmm, phải. Kiểu vậy.” Tôi không chắc undead có được coi là “trường thọ” hay không, nhưng đúng là Mary rất quen thuộc với hệ thống thờ cúng cổ.

“Vậy nghĩa là cậu không hoàn toàn mù tịt không biết gì.” Giám mục Bagley ầm ừ suy nghĩ. “Anna, trong thư viện chắc vẫn còn một hai cuốn sách ghi chép những sửa đổi về hệ thống giáo lễ. Lấy nó cho ta, và tiện thể sắp xếp một giáo viên thích hợp cho cậu ta luôn. Tên này không chỉ là lính mới, mà hắn còn là một cổ vật từ tận hai thế kỷ trước nữa. Sẽ mất nhiều công sức đây.”

Tôi có cảm giác ông ấy lại đang cố tình lăng mạ tôi một lần nữa, nhưng tôi không có cách nào phàn nàn được—ông ta nói trúng phóc rồi. Ở sau lưng giám mục, cô trợ tế mang tên Anna liên tục cúi đầu với tôi, trông vô cùng hối lỗi.

Sau đó chúng tôi quay trở lại ngôi đền, gặp lại nhóm Bee và Tonio, chịu đựng một núi câu hỏi (chủ yếu là từ Bee), và rồi sau khi xử lý vô số công việc linh tinh khác cần phải giải quyết, tôi tham gia vào buổi Cầu nguyện Chiều tối.

Dù những người trong đền vẫn đang phải bận rộn dọn dẹp chỗ gạch đá cũng như chữa trị cho những người bị thương, có vẻ như không ai trong số họ có ý định sao lãng buổi cầu nguyện hàng ngày của mình. Rõ ràng họ cảm thấy những thời khắc khó khăn chính là những lúc quan trọng nhất cần phải cầu nguyện. Tôi thấy đó là một thái độ rất đáng ngưỡng mộ.

Nghi lễ rất trang nghiêm và đầy ấn tượng, nhưng tôi cảm thấy không được thoải mái cho lắm. Mọi người ai cũng dành chỗ đẹp cho tôi, và tất cả đều cứ thỉnh thoảng liếc mắt về phía tôi. Tôi không quen với việc được chăm sóc tận tuỵ như thế này hay là trở thành trung tâm của sự chú ý lắm, nên suốt cả nghi lễ tôi cứ thấy bồn chồn trong người.

Sau khi làm lễ xong, mọi người rời khỏi nhà nguyện trong khi tôi vẫn nán lại, tiếp tục cầu nguyện. Không lâu sau, giám mục tới. Có vẻ như ông ấy có hẹn nên không tham gia buổi lễ hôm nay được.

“Đợi một chút,” ông ấy nói. Rồi ông quỳ xuống, chắp hai tay lại với nhau và cầu nguyện.

Chỉ trong chớp mắt, bầu không khí trong nhà nguyện không có ai khác ngoài tôi và giám mục đã hoàn toàn thay đổi.

Tư thế cầu nguyện của giám mục trông tự nhiên đến đáng kinh ngạc. Đó là một cảnh tượng vô cùng đẹp đẽ, dù bản thân giám mục trông chẳng như vậy chút nào. Tôi chưa bao giờ thấy người nào trông hoà hợp khi cầu nguyện như vậy—không ai, trừ Mary ra. Tôi nhận ra mình cũng đang chắp hai tay lại tự bao giờ.

“Giờ thì.” Giám mục cầu nguyện xong nhanh hơn tôi tưởng nhiều.

“Ư-ưm…”

“Làm sao?”

“Giám mục Bagley, tôi đã thắc mắc điều này được một lúc rồi, ư…” Tôi ngừng một lúc để lựa chọn lời nói. “Tôi thấy ông rõ ràng đã được thần ban cho một sự bảo hộ cấp cao.”

Sau khi nhìn thấy cảnh tượng kia, tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi đã lờ mờ cảm nhận được khi lần đầu gặp giám mục rồi, nhưng giờ tôi chắc chắn: sự bảo hộ được ban cho ông ấy có lẽ phải ngang với tôi, hay chậm chí còn cao hơn cả vậy.

“Nhưng tôi nghe những người trong đền nói rằng ông không ban phước lành. Nhưng nếu ông có thể cầu nguyện như vậy, thì tôi đoán hoặc ông đã làm mà không để người khác nhìn thấy, hoặc ông đã cố tình làm qua loa đi khi cầu nguyện trước mặt họ. Tại sao vậy?”

“Hầy. Tên lính mới đần độn.”

Ổng vừa lăng mạ tôi nữa kìa…

“Nhóc hiểu giáng phước là gì?”

“Sự bảo hộ nhận được từ thần.”

“Vậy nói ta nghe, tại sao thần linh lại ban sự bảo hộ cho cậu? Để đối xử tốt với cậu sao? Ta không nghĩ vậy, có phải không?”

Tôi im lặng.

“Đó là vì thông qua cậu—cậu hiểu không? Thông qua cậu, vị thần muốn thực hiện một điều gì đó. Và chúng ta phải luôn luôn nghĩ cách sử dụng phước lành của mình sao cho đúng với mong muốn của vị thần đã ban sự bảo hộ cho chúng ta. Những kẻ coi chúng như những công cụ có thể thoải mái dùng lúc nào cũng được sẽ chỉ làm giảm đi quyền uy của thánh thần mà thôi; bọn chúng không làm nó tăng thêm. Sự bảo hộ của những kẻ khờ dại đó sẽ chỉ giảm đi theo thời gian mà thôi. Những kẻ đần độn như vậy đa phần đều không hiểu được điều đó. Và vì chúng không hiểu được, chúng sẽ mãi mãi chỉ là lính mới, và cuối cùng mất đi sự bảo hộ của mình.”

Giám mục nói vô cùng hùng hồn.

“Ta là người lãnh đạo ngôi đền này. Đây chỉ là một mảnh đất hoang sơ mới bắt đầu được phát triển gần đây. Để có được tiền bạc và quyền lợi, chúng ta cần phải la hét và hăm doạ; để được người khác ủng hộ, chúng ta phải giúp đỡ và hối lộ. Cứ thử tưởng tượng nếu trong hoàn cảnh đó mà ta còn thoải mái sử dụng phước lành bậc cao thì sao. Dân chúng sẽ nghĩ, ‘Các vị thần nghĩ gì mà lại ban bảo hộ cho một kẻ như hắn vậy?’”

Ông ấy lườm tôi. “Nói ta nghe, liệu cậu có nghĩ điều đó đúng với những gì vệ thần của ta muốn không? Cậu nghĩ liệu nó có giúp nâng cao thanh thế cho Volt, thần của sấm sét và phán quyết không?”

“Không.”

“Chính xác. Không. Nếu vậy thì, điều ta cần làm đối với phước lành và cầu nguyện trong trường hợp này là che dấu chúng đi. Ta đã để mấy việc như ban phước và nâng cao thanh danh của các vị thần trong bàn tay tài năng của ông phó giám mục rồi. Ông ta rất giỏi việc chiếm được cảm tình của mọi người. Mấy việc rắc rối và mệt nhọc đó đã có ông ta lo.”

Và rồi Giám mục Bagley xoay cuộc nói chuyện về lại tôi. “Vậy còn cậu thì sao, lính mới? Cậu nghĩ mình là ‘anh hùng’ chỉ vì cậu đã giết được một con wyvern ư?”

Tôi không thể đáp lại được lời nào.

“Thánh binh,” ông ấy nói và khịt mũi chế giễu. “Thánh binh sao?! Một tên non nớt thậm chí còn chẳng hiểu được ý nghĩa của phước lành mình đã được ban mà lại được gọi là thánh binh sao?! Ngài Công tước đúng là thích đùa thật đấy!”

Ông giám mục vung vẩy tay khắp nơi, thể hiện sự kinh ngạc của mình. Và tôi chỉ im lặng lắng nghe, vì thực tình tôi cũng chẳng biết mình phải đáp lại như thế nào nữa.

“Này nhóc, nếu cần thì ta có thể nói với ông ta cho. Nếu ta mà thẳng thừng từ chối, thì kể cả Ngài Công tước cũng sẽ từ bỏ việc này. Thấy thế nào…?” Ông ấy hỏi với một giọng độc đoán.

Cái nhìn chằm chằm cũng như cơ thể to lớn khiến cho ông ấy đáng sợ chẳng khác nào Công tước vùng Southmark cả.

“Thôi nghĩ về nó đi, lính mới,” ông ấy nói. “Chuyện này chẳng có tốt đẹp gì đâu.”

“Kể cả vậy…” Tôi không nhìn đi chỗ khác. Tôi nhìn thẳng vào mắt giám mục.” Kể cả vậy đi nữa, thông qua tôi, vị thần của tôi có chuyện muốn thực hiện.”

Ông giám mục cau mày nhìn tôi, trông rất nghiêm nghị.

“Cậu sẽ không đổi ý sao?”

“Không.”

“Đồ đần.”

“Có lẽ vậy.”

“Cậu đã thề gì với thần của dòng chảy?”

“Tôi đã thề sẽ dâng hiến cuộc đời mình cho cô ấy, đánh đuổi cái ác và cứu rỗi những kiếp người buồn đau.”

“Xin chúc mừng. Suốt bao năm qua ta đã gặp nhiều tên đần độn, nhưng cậu đã đứng đầu trong số tất cả bọn chúng.” Rồi ông ấy thở dài thườn thượt. “Để ta kiếm vài người cho cậu. Những việc còn lại cậu phải tự lo.”

Tôi cúi đầu thật sâu và cảm ơn ông ấy. Dù cho người khác có nói gì về ông ấy đi nữa, tôi quyết định rằng Giám mục Bagley đã giành được lòng kính trọng của tôi.

Sau đó, cứ như một chiếc xe mất phanh, mọi chuyện chuyển biến với một tốc độ kinh hồn.

Ở phía rìa tầm nhìn của mình, tôi có thể thấy giám mục đang liên hệ với công tước để thông báo rằng chúng tôi đã chấp nhận lời đề nghị của ông ấy, trong khi vị tu sĩ trông nghiêm nghị mà Anna đã mời đến đang dạy tôi về những phép tắc và các thủ tục lễ nghi của tu sĩ hiện giờ.

Và thế là việc phong tước cho tôi đã được duyệt. Mọi chuyện xảy ra nhanh quá. Liệu nhận tước hiệu hiệp sĩ dễ đến thế này sao? Chẳng hiểu điều gì đã khiến họ làm việc với tốc độ nhanh chóng mặt như thế này.

Nhưng dù vậy, những thiệt hại do con wyvern gây ra cũng không hề nhỏ chút nào; có những người đã mất nhà cửa và việc làm, và tôi cũng đã nghe vài người thì thầm rằng họ mong có lễ ăn mừng nào đó xảy ra để tạo thêm việc làm tạm thời. À mà nghĩ lại thì, kể cả trong lịch sử cổ đại và trung cổ ở thế giới cũ của tôi, những ngôi đền và miếu thờ mới cũng được dựng lên mỗi khi có thảm hoạ nào đó. Chắc hẳn việc tái phân bố tài sản cũng là một trong những lý do khiến điều đó xảy ra.

Nói tóm lại, nếu tôi được phong hiệp sĩ thì tất cả mọi thứ sẽ lưu thông nhanh chóng hơn. Con người, tiền bạc, hàng hoá—tất cả sẽ dễ kiểm soát hơn nếu có quyền lực và sức mạnh quản lý. Khi nghĩ theo chiều hướng như vậy, tôi thấy việc mình chịu sự kiểm soát của công tước và giám mục cũng không đến nỗi tệ lắm. Tôi không nghĩ hai người họ sẽ đối xử tệ với tôi đâu… chắc vậy.

“Liệu chàng đến từ đâu? Và liệu chàng đã luyện tập, học tập ở đâu? Chúng ta biết rất ít về chàng, ngoại trừ việc chàng là tín đồ của vị thần dòng chảy đã bị lãng quên, và mang trong mình ngọn đuốc thánh.”

Đây có lẽ là một bước cần thiết.

“Đức tin của chàng sánh ngang với giám mục, học thức của chàng không thua một hiền giả. Và ngụ trong cánh tay chàng là một sức mạnh không ai sáng bằng có thể nghiền nát cả wyvern. Qua cơ thể chàng trai này, hỡi Linh hồn của ba Anh hùng, liệu ba người định một lần nữa khiến tên mình vang vọng khắp thế gian hay sao?!”

Đ-Đây là… chuyện cần thiết.

“Tín đồ của Ngọn đuốc, Người giết Wyvern, Sức mạnh Vô song—Thánh binh Phương xa, William G. Maryblood. Nào mọi người, hãy nhớ đến cái tên của vị Anh hùng mới xuất hiện trong thành phố của những cánh buồm trắng nào! Hừm, nghe có vẻ ổn đấy!”

Thôi nào, cho dù nó cần thiết đi nữa!

“Bee, cậu làm ơn đừng có tập kể chuyện ngay trước mặt tôi như vậy được không?!”

“Thôi nàoooo. Đừng có cau có như vậy chứ.”

“Xấu hổ ghê luôn đó!”

“Thì đúng là ông đã làm vậy còn gì, cằn nhằn gì nữa! Nếu không thì cô ấy phải nói gì đây?”

“Nhưng vậy không có nghĩa là nó không xấu hổ!”

Chúng tôi đang ở trong căn phòng của mình ở ngôi đền. Trong khi ba người chúng tôi đang trò chuyện và tranh luận với nhau, Tonio im lặng ngồi gẩy gẩy chiếc bàn tính. “Hừm.”

“Sao vậy Tonio?”

“Không may thay, tôi đã kết luận rằng dù mình có làm gì đi nữa thì giá tiền khi mua một số lượng lớn động vật cày kéo cũng sẽ rất cao.”

“À, về chuyện đó…”

Mọi chuyện đã rối bung lên vì vụ phong tước hiệp sĩ sau khi tôi giết con wyvern, nhưng tôi vẫn không quên mục đích chính của mình. Mục tiêu của tôi vẫn như cũ, xử lý tình trạng kinh tế của vùng đất đó và giúp tăng danh tiếng cho thần của ngọn lửa.

Và tôi đã có một kế hoạch để làm vậy.

“Ồ? Vậy cậu định làm gì?”

“Liệu anh có thể đi tìm những con vật đang ốm hoặc bị thương, và thương lượng để mua chúng với giá rẻ được không?”

“Hử?”

“Rồi tôi sẽ chữa lành cho chúng.”

“Ồ…!” Mắt Tonio sáng lên.

Phải, tôi đã khổ tâm suy nghĩ về chuyện này đó, Tonio. Cũng như nhiều chuyện khác nữa.

Bên thương lái gia súc sẽ rất vui khi có cơ hội bán đi những con vật bị thương hoặc mắc bệnh của mình, và chúng tôi cũng sẽ vui vì đã mua được những con vật mình cần. Còn về những ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của thương lái trong tương lai, các ngôi làng ở Rừng Lãnh Thú đều luôn lạnh nhạt và chẳng có sức mua mấy, nên họ chưa bao giờ là khách hàng chính của những thương lái đó rồi.

Tôi cũng được cứu những con vật đang phải chịu đau đớn. Chúng sẽ tiếp tục phải làm việc cày kéo vất vả, nên tôi cũng không chắc liệu đó có phải là việc đáng vui mừng không—nhưng ít nhất thì trong lý thuyết, tất cả các bên đều có lợi.

Trên thực tế, người thương lái có lẽ sẽ không thấy vui lắm khi những con vật ốm đau mình bán đi đều được chữa lành ngay lập tức nên chúng tôi sẽ phải xử trí cẩn thận, nhưng đó chỉ là một vấn đề cỏn con mà thôi.

“Ngoài ra… nếu tôi có thể tiếp tục nhờ anh lo liệu việc buôn bán giữa Rừng Mãnh Thú và Buồm Trắng thì tốt quá… Vậy tôi phải đổ vào bao nhiêu tiền đây?”

Tonio đặt tay lên cằm và ậm ừ suy nghĩ một lúc. “Will,” anh ấy nói, “Tôi nghĩ chúng ta sẽ phải ngồi thương lượng một lúc đấy.”

“L-Làm ơn nhẹ tay thôi…”

Danh sách việc cần làm của tôi cứ ngày một dài thêm. Nhưng tôi chỉ có một mục tiêu mà thôi, và tôi vẫn đang làm việc để biến nó thành hiện thực. Gracefeel, tôi nghĩ thầm trong đầu, con vẫn ổn. Và con sẽ tiếp tục cố gắng hết sức.

Đây trông có vẻ là một quán trọ khá là lớn. Nó có hai tầng; tầng dưới là một quầy bar, và tầng trên là các phòng nghỉ cho lữ khách. Và tất nhiên là chúng được đặt ở trên đó để ngừa việc quỵt tiền trọ. Đúng là ở thế giới nào cũng vậy nhỉ, tôi nghĩ thầm.

Biển hiệu treo bên ngoài ghi “Quán trọ Kiếm Sắt,” và ở dưới là một cái bảng nhỏ có vẽ hình vũ khí. Đó là biểu tượng cho “Nhà trọ của Thám hiểm giả”—một nơi tụ tập để giúp thám hiểm giả tìm việc.

Thám hiểm giả là những người ngoài vòng pháp luật, kiếm sống bằng cách làm lính đánh thuê, thợ thám hiểm tàn tích từ Thời đại Liên minh, tiêu diệt dã thũ, cũng như vô số những việc có tiền thưởng khác nữa. Nếu so với lịch sử ở thế giới cũ của tôi, thì có lẽ họ giống với những đấu sĩ chuyên nghiệp ở La Mã cổ đại, hoặc có lẽ là những tay súng ở phương Tây. Dù họ không có địa vị xã hội cao lắm, nhưng đây đồng thời cũng là một tầng lớp có thể sản sinh ra anh hùng và của cải chỉ trong nháy mắt.

Giờ đang là chiều tối, và đường phố đang tràn ngập những người lao động đang trở về nhà sau một ngày làm việc. Menel và tôi đi đến quán trọ đang mở toang cửa và nhìn vào bên trong. Mới giờ này mà ở trong đó đã ầm ĩ cả lên rồi. Chúng tôi thấy những người đang mặc quần áo ấm áp—dù gì thì giờ vẫn đang là mùa đông mà—cùng cụng những chiếc sừng chứa đầy bia với nhau. Những có điều gì đó hơi lạ.

“Kia là… sừng thú. Và da.” Những chiếc sừng họ đang dùng để uống rượu bia đến từ những con mãnh thú có sừng, và một vài áo choàng và áo gilê họ đang mặc cũng được làm từ da thú. Menel thì thầm bảo tôi rằng đó là chiến lợi phẩm của họ, một cách để họ dễ dàng khoe sức mạnh của mình.

Chúng tôi bước vào trong. Những cái đầu quay lại nhìn, im lặng một lúc, rồi bắt đầu rì rầm trò chuyện.

“Một thanh niên tóc màu nâu hạt dẻ cùng với một bán elf tóc bạc.”

“Cậu ta đã luyện tập nhiều khủng khiếp. Nhìn là biết…”

“Đúng là cậu ta rồi. Không còn nghi ngờ gì nữa.”

Người đầu tiên lên tiếng gọi tôi là một người đàn ông trông khá nhanh nhẹn đang say nhèm. “Người nổi tiếng đây rồi! Dũng sĩ Diệt Wyvern! Cậu muốn gì ở một quán bar hẻo lánh này đây?”

“Tôi có một công việc cần người làm.”

“Vậy thì cậu nên nói chuyện với ông chủ và trả chút tiền để dùng bảng thông báo.”

“Cảm ơn.” Tôi nhìn về phía tường quán trọ và thấy ở đó đang treo một tấm bảng gỗ lớn, trên đó có gắn nhiều tấm giấy và da. Tôi gọi người chủ quán, mua một vài chiếc đinh ghim (đó là cách họ tính phí đăng tin), và gắn tấm giấy của mình bên cạnh những tấm khác.

Việc đó ngay lập tức gây chú ý, và tất cả mọi người cùng tụ tập lại để xem công việc của tôi là gì.

CẦN TÌM THÁM HIỂM GIẢ
Để truy tìm quỷ trong Rừng Mãnh Thú.
Hàng tháng trời trong bóng tối.
Nguy hiểm luôn rình rập.
Không chắc chắn sẽ về an toàn.
Lương thấp.
Có danh vọng và được tôn vinh nếu thành công.
— William G. Maryblood.

Và thế là xung quanh trở nên im lặng.

“Này. Ngài Anh hùng.” Phản ứng đầu tiên là một giọng nói say nhèm và nhạo báng. “Chúng tôi đâu có làm từ thiện. Chẳng ai muốn chấp nhận việc này đâu.”

Người vừa phát biểu là một người đàn ông tay to mặt đỏ, trông khoảng tầm ba mươi tuổi. Ông ta đang mặc một tấm giáp ngực bằng sắt bóng loáng, bên hông là một thanh kiếm với bao kiếm màu đỏ nổi bật không có lấy một vết sước nào. “Phải không anh em?” ông ta nói, và một vài người tôi đoán là ở trong nhóm ông ta cùng lên tiếng tán thành, gọi tôi là đồ keo kiệt.

Menel nắm tay lại thành nắm đấm. Tôi bắt đầu thấy hốt hoảng, và rồi—

Một người đàn ông trông bẩn thỉu lờ đờ bước tới.

“Im đi, mấy tên ba hoa.”

Những lời ông ấy nói làm bọn họ im bặt.

Người đàn ông có râu, và tôi không thể đoán được tuổi của ông ta. Ông ấy trông thì có vẻ có thể lực tốt, nhưng lại vô cùng lờ đờ. Chiếc áo choàng đã sờn mà ông ấy đang mặc có đầy vết cháy và cào xé. Chiếc bao kiếm đeo bên hông ông trông rất cũ nát, và có vẻ như đã được chỉnh sửa lại. Nhưng quan trọng hơn tất thảy, thứ tôi để ý đến là ngón tay ông ta.

Chúng có đầy sẹo và đất bẩn, móng tay đã được cắt ngắn. Có một lần, khi kể về một trong những chiến công trước kia của mình, Blood đã từng nói với tôi:

— Khi con gặp một người kiếm sĩ, hãy nhìn vào đầu ngón tay anh ta. Mỗi khi thâm tâm con đang lưỡng lự, nói rằng đừng nên rút vũ khí ra, và con muốn biết liệu mình nên nghe theo hay làm ngơ giọng nói trong đầu đó? Hãy nhìn vào bàn tay của anh ta.

“Trông có vẻ…” Người đàn ông chậm chạp nói. Chắc ông ấy không giỏi phát biểu lắm. “Như cậu đang muốn tìm những kẻ điên. Cậu không quan tâm tới mấy tên ba hoa, những kẻ biết cách cư xử, có kiên nhẫn và biết nở một nụ cười lịch sự. Cậu cần một lũ thô thiển đầu đất chẳng sợ cái quái gì cả. Cậu cần những kẻ cặn bã điên rồ có thể đánh cược mạng sống của mình chỉ vì một lý tưởng đần độn nào đó.”

Tôi gật đầu. Tôi không định cố tình trả công họ thấp, nhưng sự thật vẫn là tiêu diệt quỷ trong một vùng đất nghèo nàn như vậy là một công việc rất nguy hiểm và không có lời cho lắm. Vẫn còn những tàn tích chưa được thám hiểm, nhưng kể cả chúng cũng đi kèm với rất nhiều rủi ro, và tôi không muốn khiến người khác làm việc cho mình vì những mơ tưởng không có thật.

Menel và tôi đã cùng đồng tình rằng chúng tôi nên tìm những thám hiểm giả theo đuổi danh dự, vinh quang và nguy hiểm thay vì những người làm việc chỉ vì tiền. Và tôi nghe nói “Quán trọ Kiếm Sắt” này là nơi những loại người như vậy tập hợp. Nên tôi trả lời:

“Đúng vậy. Đó là lý do tôi chọn nơi này.”

“Bọn ngươi nghe thấy chưa? Cậu ta muốn vậy đó! Ngài Anh hùng đang tìm những tên điên!” Sau khi ông ấy hô như vậy, một vài người đang ngồi ở bàn của mình nhìn bọn tôi đứng dậy.

“Chậc. Bọn khốn Strider,” một trong những người ba hoa nói. “Nếu mấy ông mà giàu to ở ngoài đó thì nhớ ném cho bọn tôi vài đồng đấy!”

Tất cả những người có trang bị đẹp, giống như người đầu tiên lên tiếng gọi tôi, đều tặc lưỡi một cái và quay về bàn của họ. Có lẽ bọn họ đã mong mình sẽ kiếm được việc gì có lời, nhưng khi thấy nó không phải như vậy thì họ ngay lập tức không còn quan tâm nữa. Tất nhiên là những người như vậy sẽ đặt mạng sống của mình lên hàng đầu rồi.

Còn mặt khác, những người đang bước về phía tôi, phần lớn đều là những người trông thô kệch với trang bị vũ khí bẩn thỉu và thái độ cáu kỉnh. Đa phần trang bị của họ đều được bọc da thú, và họ uống rượu cũng bằng sừng thú. Đây là những người sẽ chẳng thèm đếm xỉa đến những công việc an toàn và ổn định, ví dụ như làm vệ sĩ cho thương gia. Họ là những người bản tính côn đồ muốn sống một cuộc đời đầy nhiệt huyết, với bao nhiêu trận chiến, rủi ro, cũng như những cuộc phiêu lưu.

Phải—họ là những người giống như Blood!

“Cậu đang tìm gì trong Rừng Mãnh Thú?” một người hỏi.

“Trong tàn tích hay ngoài trời?” một người khác thắc mắc.

“Tôi không làm mấy chuyện cỏn con đâu.”

Tôi cố tình nở một nụ cười gan góc. “Thủ lĩnh của đám quỷ.”

Khi tôi nói vậy, có vài người im lặng một lúc. Tôi đảo mắt nhìn tất cả bọn họ. “Thủ lĩnh của lũ quỷ đang hoành hành ở phía tây Rừng Mãnh Thú. Nghe nói hắn ta có mãnh thú dưới quyền mình. Đó là mục tiêu của chúng ta.”

“Con mồi bự đấy…” người đàn ông có râu đã nói chuyện đầu tiên với tôi lên tiếng.

“Đúng vậy,” tôi trả lời.

“Vị trí vẫn là một ẩn số… Chỉ riêng việc tìm ra hắn cũng sẽ rất mất công.”

“Anh nói đúng.”

“Và nếu ta mà bị phục kích trong khi đang truy tìm, chúng sẽ giết ta chỉ trong nháy mắt.”

“Tôi cũng nghĩ vậy.”

“Nói ngắn gọn thì—đây có vẻ là là một cuộc phiêu lưu ngu ngốc, đầy rủi ro, và vui đáo để.” Ông ấy cười, cứ như thể đang cười nhạo cái chết. “Nếu còn chỗ thì cho tôi xin một chân. Tôi chỉ cần thức ăn và một chỗ để ngủ là ngon rồi. Nếu được bỏ túi thêm chút tiền thì còn tốt nữa.”

“Tôi nữa.” “Cả tôi nữa.” Những giọng nói khác nhanh chóng cất lên, cùng tỏ ý hưởng ứng.

“Tất nhiên là anh sẽ có những cái đó rồi. Và cả tiền công nữa.”

Một tiếng hò reo vang lên.

“Nhưng trước đó,” tôi nói.

“Sao vậy?”

Tôi cười và giơ một tay ra trước người đàn ông.

“Mọi người cho tôi biết tên được không? Tôi là Will. William G. Maryblood.”

“Reystov.”

Một câu Bee từng nói hiện lên trong đầu tôi.

— À phải, giờ còn phải chọn bài nào để chơi nữa. Trong số các bài nhạc hiện nay… Reystov Kẻ xuyên thấu được chơi quá nhiều rồi…

“Kẻ xuyên thấu?”

“Người ta gọi tôi như vậy,” người thám hiểm giả có râu thô lỗ trả lời.

Những ngày ở Buồm Trắng nhanh chóng trôi qua.

“Ta, Công tước của Southmark, Ethelbald Rex Southmark, ban cho cậu tước hiệu hiệp sĩ.”

Nhà thờ trong đền trông vô cùng tráng lệ. Ngài Công tước đang đứng ở sâu bên trong, hai bên là hai hàng người tham dự buổi lễ. Đứng cạnh ông ấy là phó giám mục, người sẽ ban phước lành cho tôi. Ông ấy trông khá gầy, với cặp mắt hiền hậu và một khuôn mặt dịu dàng trông khó mà có thể quên được.

Tôi chậm rãi bước về phía họ.

Nói thật thì, tôi muốn được Giám mục Bagley ban phước vì ông ấy đã giúp đỡ tôi rất nhiều, nhưng ông ấy đã từ chối thằng thừng khi tôi xin như vậy. Ông ấy nói rằng sẽ vô cùng rắc rối nếu thể hiện trước công chúng rằng ông là một người sùng đạo và có mối quan hệ sâu sắc với các vị thần; trong nhiều cuộc thương lượng, ông ấy cần phải để cho đối thủ nghĩ rằng ông có thể sẽ làm những việc mà không một tu sĩ mộ đạo nào sẽ làm. Giám mục diễn rất cẩn thận, đến nỗi ông ấy chỉ cầu nguyện qua loa trước mặt người khác và rồi lại cầu nguyện một lần nữa khi ở một mình.

Đúng là tiếc thật đấy. Tôi đã trò chuyện với phó giám mục, và ông ấy cũng đồng tình với tôi, nói rằng ông cũng rất thất vọng khi một người vĩ đại như vậy sẽ không được thế giới biết đến.

Tôi thấy phó giám mục là một người rất tốt bụng.

Cuối cùng tôi cũng đi tới chỗ đứng của mình trong buổi lễ. Công tước cầm lấy một thanh kiếm đang đặt trên bệ thờ và nói, “Cầu rằng anh ta sẽ trở thành người bảo vệ của ngôi đền này, của những người nghèo túng, cũng như của tất cả những ai tin vào các vị thiện thần, và sẽ đứng dậy chống lại các ác thần cũng như những tội ác của chúng.”

Thanh kiếm được truyền cho phó giám mục, rồi đến tay tôi. Tôi tra nó vào chiếc bao kiếm đã được chuẩn bị cho tôi từ trước, và rồi, theo như những gì mình đã được hướng dẫn, tôi rút và tra kiếm lại vào bao ba lần. Âm thanh lưỡi kiếm chuyển động trong bao vang vọng khắp nhà thờ.

Công tước tiếp tục đọc bài diễn văn. “Cậu, người giờ sẽ trở thành hiệp sĩ: Cậu phải giữ vững những đạo lý của các thiện thần cũng như bảo vệ điện thờ, những người nghèo khó, và những người thành tâm cầu nguyện và làm việc.”

Tôi quỳ một gối xuống, chỉnh lại thanh kiếm để mình đang cầm bao kiếm bằng hai tay, và dâng chuôi kiếm cho ông ấy. Ngài Công tước rút kiếm ra, và với cạnh bên của lưỡi kiếm, ông ấy nhẹ nhàng chạm kiếm vào vai tôi ba lần.

Rồi thanh kiếm được trả lại cho tôi. Tôi nhận lấy, đứng dậy, rồi đặt nó lại vào trong bao, âm thanh lại một lần nữa vang khắp nhà thờ.

Phó giám mục dùng phước lành Sanctification, và một luồng không khí thiêng liêng lan toả ra xung quanh. “Hỡi Enlight, vệ thần của con, thần của kiến thức. Mong rằng thông qua người, lời thỉnh cầu của chúng con sẽ được truyền đi! Cầu cho phước lành của Gracefeel, thần của ngọn lửa, sẽ luôn luôn đồng hành cùng với chàng trai này!”

Vị thần kiến thức, Enlight—ông ấy là một vị thần già bị chột mắt, thần của việc học, người có thể nhìn được cả những thứ hữu hình lẫn những thứ vô hình.

“Hãy giữ vững lời thề của mình, khắc ghi lời răn của thần, và bảo vệ những người yếu đuối. Cầu cho cậu sẽ là một tia sáng rọi xuống thế gian!”

Ông ấy dang rộng tay hô to câu cuối cùng, và những lời hò reo vỗ tay bắt đầu nổ ra từ đám đông.

“Cầu cho cậu sẽ là một tia sáng rọi xuống thế gian!”

“Cầu chúc cho chàng hiệp sĩ mới của chúng ta!”

“Mong rằng ánh đuốc sẽ rọi sáng nơi biên cương!”

“Cầu chúc cho hiệp sĩ của ngọn đuốc!”

“Ngài Thánh Binh muôn năm!”

Chẳng mấy chốc, bầu không khí lễ hội vui vẻ đã bao trùm nơi này. Trước những lời hò reo, tất cả những người quyền lực, có tầm ảnh hưởng lớn ở đây đều quyên góp một khoản tiền lớn cho mọi người. Buổi lễ phong tước này đã trở thành một cái cớ để giúp đưa một khoản đóng góp lớn đến tay những người đã chịu tổn hại từ con wyvern. Tôi thấy chỉ riêng việc đó đã đủ để làm mình vui lòng rồi.

Sau đó, một bữa tiệc lớn được tổ chức. Đó là một sự kiện cho cả thành phố. Các trận vật tay trở thành trò giải trí. Sau khi chiến thắng liền tù tì năm người liền, nụ cười đắc chí của tôi đã làm một hội hiệp sĩ bao vây lấy tôi và khiến cho tôi cũng phải chịu thua cuộc.

“Chúng ta thắng Người giết Wyvern rồi!” họ vui vẻ hét vang và khoái trí cười.

“Đồ gian lận!” Tôi cùng cười với bọn họ. “Menel, Menel! Nào, cậu cũng đấu với tôi đi!”

“Hả?! Không, biến đê!”

Vẫn như mọi khi, Menel không muốn tham gia mấy trò tiệc tùng lắm. Tôi kéo cậu ta vào.

“Ồ! Cậu là người hầu của Thánh Binh, ưm…”

“Cậu ấy là bạn tôi, không phải người hầu!”

“Chúng ta không phải là bạn!” Menel phản đối.

“P-Phải…”

Bee đang vui vẻ hát câu chuyện kể về tôi. Cô ấy nói cái gì mà kiếm được bội tiền nhờ nó ấy. Tôi xấu hổ quá chẳng dám nghe.

Tonio và Reystov thì đang tận dụng bữa tiệc để xây dựng mối quan hệ với đủ loại người. Họ đúng là chẳng bao giờ bỏ lỡ cơ hội nào.

Bữa tiệc diễn ra cho đến tận tối muộn.

Và đó là cách tôi trở thành thánh binh của vùng đất phương xa này.

Có thể bạn muốn xem


Xin chào! Đây là website chính thức của nhóm dịch truyện ValvrareTeam. Mấy đứa cùng sở thích cùng làm với nhau thôi. Light Novel trên đây được chúng tôi dịch hoàn toàn miễn phí ra phiên bản tiếng việt, tuy nhiên chúng tôi không khuyến khích các bạn sao chép lên website khác. Cảm ơn vì đã quan tâm."
© 2017 ValvrareTeam. Mã nguồn sử dụng Wordpress. Máy chủ sử dụng Vultr
Made with in Novel