Tập 3 – Chương 3

Tập 3 – Chương 3
5 (100%) 17 votes

THÔNG BÁO


Hiểu đúng về Trader Coin, Cách Trader Coin an toàn.

QÙA TẶNG DÀNH CHO NGƯỜI MẤT GỐC TIẾNG ANH HOẶC ĐANG CẦN HỌC TIẾNG ANH

Cậu dwarf tóc đen Al đã trở thành cận vệ của tôi, và Grendir đến gặp bọn tôi vài ngày sau, theo đúng như thủ tục. Có vẻ như Ghelreis đã thuyết phục được ông ấy rồi.

“Ừmm, nghe này, Al,” tôi nói. “Thường thì cận vệ sẽ phải tự trang trải các chi phí của bản thân, nhưng tôi sẽ cho cậu trang bị cũng như trả lương cho cậu.”

“V-Vậy có ổn không?”

“Vấn đề không phải là có ‘ổn’ hay không. Làm sao mà tôi có thể lấy tiền từ những người dwarf vừa mới chuyển đến sống ở đây chứ. Họ sẽ coi tôi là một con quái vật vô nhân tính mất.” Nhiều người trong số họ thậm chí còn chưa có một nguồn thu nhập ổn định để nuôi sống bản thân. Tôi không thể nào lấy tiền của họ được. “Vậy nên hãy bàn về tiền lương của cậu nào.”

“Hở? Ưm… Chỉ cần được phục vụ cậu, là đã… đủ rồi…”

“Không.”

“V-Vâng.”

“Có một điều mà một người quen của tôi lúc nào cũng nói, đó là tiền bạc vô cùng quan trọng. Hừm, để xem nào. Nếu phải lấy ví dụ thì nhận cận vệ cũng chẳng giống việc thuê người hầu cho lắm, nhưng—”

“Vâng.”

“Nếu tôi mà không trả lương cho cậu hoặc cậu không chịu nhận tiền, thì vậy cũng đồng nghĩa công việc của cậu, ‘lòng thành tâm’ của cậu không hề có chút giá trị gì.”

Cậu ta không trả lời.

“Cái gì cũng quy thành tiền thì cũng chẳng hay cho lắm. Nhưng đó là điều mà mọi người lúc nào cũng để tâm đến, nên tôi sẽ không ăn bớt những vấn đề có liên quan đến tiền bạc đâu.” Tôi tuyên bố, nghĩ bụng chắc hẳn Gus cũng sẽ nói như vậy.

“Cậu chín chắn quá.”

“Tôi chỉ đang cố gắng để trưởng thành mà thôi.”

Chúng tôi cùng thống nhất tiền lương của cậu ta cũng như những vấn đề khác. Al sẽ sống trong biệt thự này và làm việc cho tôi, cũng như tham gia những buổi luyện tập hàng sáng cùng tôi. Sau đó, tôi bắt đầu nghĩ xem mình nên dạy cái gì cho cậu ta trước, một vấn đề khiến tôi phải chần chừ suy nghĩ một lúc.

“Được, một vòng nữa nào!”

Al đang ở đằng sau tôi, vừa chạy vừa thở hổn hển trong khi chúng tôi chạy mấy vòng quanh thành phố.

Mà nghĩ lại thì tôi chưa từng nhận một học trò nào và cũng chẳng có chút kinh nghiệm gì trong việc dạy bảo nhỉ. Tôi thử nhớ lại những gì mình đã được Blood dạy, nhưng có rất nhiều điểm khác biệt giữa tôi, một người đã được dạy từ khi còn bé, và Al, một người đã có cơ thể trưởng thành rồi. Tôi phải dạy cậu ta cách chiến đấu, cách trở thành một chiến binh kiểu gì và theo trình tự như thế nào, và tôi phải dạy làm sao để cậu ta có thể nhớ được?

Sau khi bắt đầu chú tâm đến những điều đó, tôi lại càng thêm thấm thía công sức của Blood, Mary và Gus. Họ đã dạy tôi những kỹ năng của riêng họ một cách đơn giản như không, nhưng giờ ngẫm lại, không biết họ đã phải dự tính và lên kế hoạch đến chừng nào để giúp tôi có thể học được bao nhiêu điều khác nhau một cách hiệu quả như vậy. Cái gì cần phải dạy trước, cách bước đi hay là thế đứng? Sau khi đặt mình vào địa vị người thầy, tôi nhận ra rằng kể cả những quyết định tưởng chừng không quan trọng như thế này cũng đều cần phải được tính toán logic từ trước.

“Sắp được rồi! Cố lên!” Tôi chạy ngay phía trước Al để khích lệ cậu ta. Cậu ta đang hổn hển chạy, sắp kiệt sức gục ngã đến nơi, nhưng dù vậy cậu ta vẫn cố hết sức để chạy kịp theo.

Phải bắt tay vào dạy cho người khác như thế này tôi mới nhận ra mình vẫn còn cách xa nơi cha mẹ mình từng đứng biết bao. Nhưng tôi chắc chắn, một ngày nào đó, tôi sẽ có thể bắt kịp họ.

“Làm tốt lắm! Giờ đi lại một chút để cho nhịp thở ổn định lại đi, rồi chúng ta sẽ chuyển sang luyện tập cơ bắp!”

“R-Rõ!”

“Trong một trận đấu, sức mạnh cơ bắp chính là nền tảng của tất cả mọi thứ. Hay như thầy giáo của tôi thường nói, ‘Chỉ cần có cơ bắp, thì gần như việc gì cũng có thể giải quyết bằng sức mạnh được!”

“R-Rõ!”

Để có thể đứng sánh vai với ba người họ, để có thể mỉm cười khoe với họ mình đã tiến bộ đến nhường nào, và để có thể đáp trả lại lòng thành tâm của Al, tôi thề sẽ cố gắng hết sức mình.

Giờ thì. Xin nhắc lại là điều mọi người trông chờ từ tôi chính là sức mạnh quân sự để bảo vệ an ninh cho vùng này, cũng như danh hiệu thánh binh để đại diện cho nơi này trước Công tước. Vậy nên tôi cũng dạy Al giống như dạy một chiến binh, mong rằng cậu ta đầu tiên cần phải trở nên khoẻ mạnh đã. Rừng rậm quanh đây rất nguy hiểm, và tôi thường xuyên đặt chân vào những nơi hiểm nghèo nhất ở đó để chiến đấu với vô vàn hiểm nguy. Nếu Al mà không biết tự bảo vệ bản thân thì cậu ta chẳng khác nào một người vô dụng cả.

Tạm gác lại chuyện của Al, nếu bạn đang thắc mắc liệu tôi có làm việc gì ra dáng một lãnh chúa hay không, thì câu trả lời là đây.

Hôm nay có một buổi tụ họp tranh luận nho nhỏ.

Vì chính sách mở rộng Southmark của Vương quốc Fertile nên mọi người từ khắp mọi vùng lục địa Grassland phía bắc đang chuyển đến đây sinh sống.

Ví dụ như ông đầu bếp ở chỗ bán thịt cừu nọ trong Buồm Trắng đến từ Arid Climate ở phía đông bắc. Còn Reystov, xét từ ngoại hình cũng như cái phong thái oai vệ nhưng vẫn trầm lặng đó, tôi đoán anh ấy sinh ra ở đâu đó xa hơn nữa về phía bắc của lục địa phương bắc, có lẽ là ở gần Dãy núi Băng. Còn Ethel và Giám mục Bagley thì tất nhiên đến từ Vương quốc Fertile, chính xác hơn là thủ đô của nó, Ilia’s Tear (Trans: Nước mắt của Ilia)

Nhiều người khác đến từ Khối Đồng minh (Trans: Allied Kingdoms), một liên bang gồm nhiều vương quốc cỡ nhỏ và vừa ở phía Tây Fertile, hoặc từ Một trăm Chiến Quốc (Trans: Hundred Warring Kingdoms) ở phía đông nam, vốn vẫn là một vùng xung đột nơi vô số lãnh chúa chiến đấu với nhau để tranh giành quyền lực. Ngoài ra còn có những người đến từ các hòn đảo nhỏ nằm rải rác Địa trung hải; từ những khu rừng đại ngàn, ngôi nhà của người elf; từ những ngọn núi của người dwarf; hay thậm chí còn xa hơn vậy. Còn có cả những người lang thang khắp nơi, không có một mái nhà cố định ví dụ như Bee, cô gái hát rong.

Cảng Ánh đuốc quả thực là ngôi nhà của vô vàn loại người, và họ thường sống tập trung cùng những người đến từ cùng quốc gia hay vùng văn hoá, vậy nên từng con đường, từng khu vực của thành phố đều có một cá tính riêng.

Nhưng mặt khác, chính việc mỗi nơi lại có một cá tính riêng đó lại gây ra nhiều xung đột. Các cử chỉ sẽ có ý nghĩa khác nhau trong những nền văn hoá khác nhau, một vài biểu cảm có thể bị coi là một hành động xúc phạm thậm tệ, xung đột có thể xảy ra khi giao kèo hoặc thanh toán vì hai bên có phong tục kinh doanh khác nhau. Và có những lúc chuyện thậm chí còn chẳng leo thang được đến mức đó vì hai bên vốn đã chẳng hiểu được nhau nói gì rồi.

Vậy nên, phải, có rất nhiều rắc rối. Quãng thời gian đầu là cái lúc lắm rắc rối nhất. Thậm chí còn có một lần trận cãi vã leo thang đến mức mọi người kéo gia đình và bạn bè tụ tập thành hai phe đối đầu nhau ngay giữa thành phố. Menel, Reystov và tôi đã phải giải quyết bằng vũ lực trước khi chuyện nghiêm trọng thêm, nhưng chỉ nhiêu đó cũng đủ để cho thấy sự khác biệt về văn hoá đáng sợ đến nhường nào rồi.

Nếu ta mà không giải quyết chúng từ sớm thì tình trạng bất ổn sẽ ngày càng trở nên tệ hơn, vậy nên sau khi thảo luận với các tu sĩ, tôi đã lập ra nhiều luật lệ và hình phạt chỉ áp dụng trong thành phố này. Tôi lập ra luật lệ khi buôn bán, luật lệ khi sử dụng thuyền và cảng, cũng như luật lệ khi có vấn đề gì xảy ra: đó là giải thích một cách rõ ràng với lãnh chúa hoặc một trong những tu sĩ làm việc cho anh ta rồi đợi chỉ dẫn chứ không được manh động. Chúng tôi cũng có quy định hình phạt đối với những người không chịu làm theo luật và gây náo động, hoặc tham gia một cuộc náo động và khiến cho nó trầm trọng thêm.

Nhờ vậy mà tôi mới nhận ra ở thế giới cũ của tôi, những luật lệ coi cả hai bên đều có tội nếu có đánh nhau nổ ra được viết ra là đều có lý do cả. Nó cũng làm tôi nghĩ đến những khó khăn mà Ethel, người cai quản thành phố Buồm Trắng rộng lớn, cũng như Giám mục Bagley, người quản lý ngôi đền chính phải đối mặt hàng ngày.

Tiện thể, ngoài những biện pháp đối phó mạnh tay bằng luật lệ và hình phạt kia, chúng tôi cũng phải có những cách đối phó mềm mỏng hơn. Một trong số chúng là tổ chức những buổi họp mặt thường xuyên để người đại diện cho các nhóm có thể gặp mặt và trò chuyện với nhau. Tôi đã cố góp mặt càng nhiều càng tốt, và hôm nay tôi đã nhờ Menel huấn luyện cho Al để tham gia vào cuộc họp. Ở đó, tôi nghe đủ loại ý kiến khác nhau và ghi chép chúng lại. Chúng tôi cùng nói chuyện từ lúc gần trưa cho tới chiều, tất nhiên là có nghỉ ăn trưa nữa.

Sau khi kết thúc buổi họp, tôi đi đến một quán rượu nọ. Đó chính là quán rượu nơi tôi nói chuyện với Al. Tôi chỉ muốn kiểm tra xem sau tối hôm đó còn có rắc rối gì không, cũng như liệu bệnh của ông chủ quán có xuất hiện trở lại hay không. Nó cũng chẳng phải bệnh gì nghiêm trọng lắm nên chắc sẽ không có vấn đề gì, nhưng những căn bệnh do cách sống và các vấn đề về dinh dưỡng gây nên thường rất dễ tái phát, kể cả sau khi đã được chữa bằng giáng phước. Lời cầu nguyện hay phép màu không phải lúc nào cũng toàn năng.

“Được rồi, xem nào…”

Tôi không muốn lặp lại cái vụ “lãnh chúa bước vào ngay giữa giờ làm việc” kia nữa, vậy nên lần này tôi kiểm tra lại xem bên ngoài đã gắn biển “đóng cửa” chưa trước khi vào. Bên trong có tiếng người đang nói chuyện nên tôi định gõ cửa, nhưng trước khi tôi có thể làm vậy—

“Xin lỗi vì đã yêu cầu đột ngột như vậy. Cảm ơn ông nhiều!”

“Không có gì đâu.”

Cánh cửa mở vụt ra.

“Ồ!” Tôi mở to mắt đầy kinh ngạc.

“Ôi chà! Là ngài sao!” Cô gái phụ quán đang lấy hai tay che miệng và ngạc nhiên đứng nhìn tôi đằng sau người đàn ông dwarf vừa mới mở cửa.

“Chào buổi chiều,” ông ấy nói.

Tại cánh cửa dẫn vào quán rượu, tôi đã gặp ông dwarf già với khuôn mặt sẹo, Ghelreis.

Bệnh của chủ quán có vẻ đã khỏi hoàn toàn rồi, và nó cũng không có dấu hiệu tái phát nữa. Bọn họ có mời tôi ở lại chơi một lúc, nhưng tôi nói mình đâu thể làm phiền khi họ đang bận chuẩn bị để bán hàng vào buổi chiều được, rồi ngay lập tức rời khỏi đó cùng với Ghelreis. Chúng tôi cùng đi về một hướng.

Cả hai bọn tôi không ai nói một lời nào.

Ghelreis, giống như những người dwarf khác, không nói chuyện nhiều, và ông ấy cũng có một bầu không khí khiến ta khó bắt chuyện. Nhưng dù vậy, tôi vẫn không thể chịu được cái bầy không khí im lặng nặng nề này được. Tôi quyết định tìm chuyện để nói.

“Hôm nay sao ông lại đến quán rượu vậy, Ghelreis?”

“Họ được đặt hàng để phục vụ một buổi tiệc hay gì đó vào mười ngày tới. Họ thuê tôi thu thập một số lượng thịt thú khá là lớn.”

“Vậy là ông kiếm sống bằng cách săn bắn sao?”

“Không. Tôi là một lính đánh thuê. Nhưng tôi đồng thời cũng có chút kỹ năng dùng nỏ và đặt bẫy, nên cậu thấy đó—”

“Vậy đây giống một việc làm thêm phải không?”

“Miêu tả vậy cũng đúng.”

Phải sau khi bắt đầu trò chuyện tôi mới nhận ra ông ấy là một người nói chuyện khá là hùng hồn. Vậy ra Ghelreis là lính đánh thuê, một chiến binh làm việc vì tiền. Vậy là cũng giống như Blood. Vết sẹo cũ trên mặt ông ấy rõ ràng là do kiếm chém, nên cũng không có gì khó hiểu lắm.

Chúng tôi cùng bước đi trên phố dưới ánh nắng chiều tà chói chang. Tiếng búa đập vang vọng từ những nhà xưởng đằng xa. Đủ loại nhóm người khác nhau đi qua chúng tôi. Đôi lúc lại có vài người nhận ra tôi và gật đầu hoặc cúi chào.

“Đây là một thành phố tốt,” Ghelreis nói. “Khó có thể tin được là nó lại phát triển nhanh đến mức này, khi chỉ mới được xây dựng vài năm trước.”

“Phải. Nếu không có sự giúp đỡ từ vô số người thì chúng tôi đã không làm được như vậy.”

Ghelreis gật đầu. Rồi sự im lặng một lần nữa bao trùm xung quanh. Nhưng lần này, nó lại không hề nặng nề chút nào.

“Thánh binh,” Ghelreis mở lời.

“Sao vậy?”

“Tôi đã từng là một chiến binh phục vụ Thiết Quốc.” Ông ấy vừa đi cạnh tôi vừa khẽ nói với một khuôn mặt bình thản. “Lúc đó, tôi vẫn còn quá non nớt, thiếu kinh nghiệm và không được phép chết cùng với chúa tể của chúng tôi. Tôi đã làm theo ước nguyện cuối cùng của ngài ấy và bảo vệ những người còn sót lại. Tôi kiếm ăn qua ngày bằng cách cầm vũ khí và chiến đấu cho bất cứ ai bỏ tiền thuê tôi.”

Tôi im lặng lắng nghe.

“Tìm một nơi yên bình để sống không hề dễ dàng chút nào. Chúng tôi đã phải lang thang qua bao vùng đất để đến được đây.” Dù chỉ đang bình thản nói vậy, nhưng giọng của Ghelreis lại chứa đựng biết bao cảm xúc khác nhau. Tôi có thể cảm thấy chúng khuấy động trong lòng ông ấy.

“Làm ơn, hãy chỉ bảo cậu chủ tử tế.”

“Tôi hứa.” Tôi đứng lại, nhìn ông ấy một cách nghiêm nghị, rồi nắm tay lại và đặt lên tim mình. “Dưới danh nghĩa ngọn lửa.”

Mồ hôi chảy xuống cổ tôi thành một dòng. Trên thảm cỏ trong sân vườn, Al và tôi đang ghì lấy nhau để đấu vật. Còn Menel thì đứng ngoài xem.

Sau khi trăn trở suy nghĩ, tôi đã quyết định điều tiếp theo mình dạy Al sau những bài tập căn bản sẽ là cách đấu vật. Al vốn đã có một thể hình tốt rồi, và có vẻ như cơ bắp cậu ta cũng khá là khoẻ, dù chưa qua tập luyện gì. Có lẽ thể chất của người dwarf vốn là vậy. Vậy nên tôi quyết định dạy Al các ngón võ đấu vật, một cách chiến đấu phụ thuộc rất lớn vào sức mạnh cơ bắp, để giúp cậu ta tự tin vào khả năng của mình hơn.

Nhưng tôi lại không ngờ chuyện này. Tôi có thể nói là khoẻ hơn Al, vậy nhưng cậu ta vẫn có thể cưỡng lại được dù tôi đã dùng hết sức để kéo Al về phía mình rồi. Trong những bài tập kéo và đẩy đơn thuần này, cậu ta đạt kết quả khá tốt dù chưa được huấn luyện bài bản gì. Không còn nghi ngờ gì nữa: cậu ta có tài năng thiên bẩm.

Tôi cuối cùng cũng hiểu vì sao Al lại chần chừ không dám đánh hay nắm lấy người khác như vậy. Với sức mạnh hơn người đó, chẳng có gì lạ khi cậu ta hình thành một thái độ như vậy. Khả năng cao là trước kia Al đã từng vô tình làm người khác bị thương, hoặc ít nhất là suýt làm vậy.

“Al.” Tôi thản nhiên nói, cố tình không để vẻ mệt nhọc hiện trên mặt. “Sức cậu chỉ có vậy thôi sao?”

Cậu ta gằn lên và đẩy mạnh hơn nữa. Người tôi như oằn dưới cái sức mạnh khủng khiếp đó, nhưng tôi vẫn chống chả và đẩy lại. Cái cơ thể được Blood và tôi rèn rũa không yếu đuối đến mức mới chừng này đã chịu thua đâu.

“Tôi nghĩ sức cậu vẫn còn hơn thế này nữa,” tôi nói.

Cậu ta gằn lên một tiếng.

Tôi muốn Al biết rằng cậu ấy có thể dùng hết sức mình, rằng cậu ấy có thể mạnh tay hơn nữa. Đó có lẽ là điều đầu tiên cậu ta cần phải học.

“Nếu chỉ có từng này…” Tôi hạ hông xuống và dùng hết sức đẩy.

“O-Oái!” Al bắt đầu trượt về phía sau, hai chân cậu ta cố gắng ấn xuống đất, tạo thành hai rãnh dài trên mặt cỏ.

“Thì tôi có thể áp đảo cậu. Tôi khoẻ hơn.”

Vậy nên cậu có bạo tay hơn một chút cũng không sao. Có dùng hết sức cũng không sao. Trong khi thầm nói vậy với Al, tôi khéo léo di chuyển, áp sát lại gần, rồi nhấc cậu ta lên và quăng xuống đất mạnh hết sức có thể. Tôi vẫn đang nắm lấy cổ áo để giúp Al không bị đập đầu. Cậu ta phát ra một tiếng giống như khi bị đánh cho hụt hơi vậy.

“Xin lỗi, Al,” Tôi nói. “Cậu thua rồi.”

Quan điểm của tôi là không bao giờ nương tay khi làm những chuyện như thế này. Làm quen với việc bị đau cũng là một phần không thể thiếu khi luyện tập. Và tôi phải làm mà chấp nhận rằng mình có thể sẽ bị cậu ta ghét. Nói vậy nhưng tôi cũng chẳng thấy vui vẻ gì khi làm vậy.

“L—”

“Hửm?”

“Lúc nãy cậu làm kiểu gì vậy?!” Al ngay lập tức nhảy phắt lên rồi hỏi tôi, mắt lấp lánh. Dù tôi đã bắt cậu ta chạy bao lâu, quăng quật khắp nơi, cũng như bắt cậu ta phải chịu đựng nhiều điều đau đớn khó khăn, nhưng Al vẫn không hề có ý định bỏ cuộc. Quả là một người bền bỉ và hăng hái.

“Cái đòn đó sao?” Tôi ầm ừ nghĩ ngợi. “Menel, lại đây một chút nào.”

“Thế quái nào, tôi là cái bao cát của ông à?”

“Nếu đứng ngoài nhìn thì sẽ dễ hình dung hơn. Làm ơn đó.”

“X-Xin lỗi!”

Menel tặc lưỡi. “Được rồi. Nhớ mà ném cho đẹp vào đấy, rõ chưa?! Ném đẹp vào đấy!”

Không biết ngày Al trở thành chiến binh có đến sớm hơn tôi nghĩ không nhỉ.

Luyện tập phép thuật ở thế giới này cũng giống như luyện tập diễn xuất hay thư pháp vậy. Để nói được Từ Ngữ, ta cần phải phát âm chúng thật chính xác cả về cách đọc lẫn âm lượng, vậy nên ta bắt buộc phải luyện giọng. Tương tự như vậy, để sử dụng chữ viết—nói cách khác là các Ký Tự—ta cần phải viết chúng thật chính xác, vậy nên luyện tập thư pháp cũng là một việc không thể thiếu.

Chính vì vậy nên chữ viết của pháp sư lúc nào cũng đẹp. Tôi từng nghe rằng pháp sư phục vụ các nhân vật quyền lực cũng đồng thời làm người ghi phép luôn(TN: scribe: những người ghi chép lại các tài liệu văn bản, một nghề có trước khi ngành in ấn trở nên phổ biến). Và tôi cũng không phải là ngoại lệ; nhờ sự dạy bảo nghiêm khắc của Gus nên tôi cũng có thể viết rất đẹp.

Hiện tôi đang ở trong phòng làm việc.

Chiếc bút được làm từ lông mãnh thú chầm chậm chạy từ trái sang phải trong khi tôi cẩn thận ghi lại đoạn tin nhắn ngắn gọn và trang trọng mà tôi đã nghĩ sẵn trong đầu. Tôi đang dùng loại giấy chất lượng tốt nhất mà mình có thể kiếm được, cả mực viết cũng vậy.

Tôi dừng bút và dùng chút cát để thấm khô chỗ mực thừa. Sau khi gấp giấy hai nếp để che đi nội dung thư, tôi gấp tiếp hai lần nữa theo chiều ngang rồi chuẩn bị để đóng dấu.

Tôi hơ một chút sáp màu đỏ thắm trên lửa, nhỏ vài giọt xuống giấy để niêm phong nó lại, rồi ấn chiếc nhẫn dấu mà mình vừa mới làm năm ngoài xuống. Nó tạo nên một biểu tượng hình tấm khiên, bên trong là ngọn lửa toả sáng trên vòng tròn số mệnh. Đó là biểu tượng của gia tộc tôi, phù hiệu nhà Maryblood. Tôi cũng có nghĩ ra khá nhiều ý tưởng, nhưng cuối cùng tôi vẫn quyết định chọn “vòng tròn và ngọn lửa” để tượng trưng cho Gracefeel, và một “tấm khiên” để tượng trưng cho hiệp sĩ.

Và cuối cùng, tôi ghi rõ chữ ký của tôi cũng như tên người nhận vào mặt trước bức thư: Giám mục Bart Bagley.

“Tốt rồi.”

Trong bức thư này là một yêu cầu nhờ Giám mục Bagley thu thập chút thông tin trong thư viện giúp tôi.

Tôi nhớ lại những lời mà Chúa tể cây Nhựa ruồi đã nói trong lãnh địa của ông ấy.

— Ngọn lửa tai hoạ sẽ bùng lên trên dãy núi rỉ. Ngọn lửa sẽ lan đi và thiêu rụi lấy mảnh đất này. Vùng đất đó giờ đã trở thành hang ổ của quỷ, nơi vị chúa tể của tà khí và lửa độc say ngủ trên núi vàng của những con người vùng sơn cước.

Và rồi những gì tôi nghe được từ người dwarf.

— Con rồng đang tới. Con rồng đang tới! Con rồng đang tới! Valacirca! Lưỡi hái Tai họa sẽ giáng xuống đầu các ngươi!

Theo như những gì đã biết được, thì tôi sẽ phải tìm thêm thông tin ở đền thờ và Học Viện, nơi các pháp sư tụ họp. Bởi lẽ tôi sẽ phải đối đầu với một kẻ địch vô cùng đáng gờm.

Nếu như “ngọn lửa tai hoạ” và “chúa tể của tà khí và lửa độc” ở trong Dãy núi Rỉ là một con quỷ cấp Tướng, thì tôi tin rằng mình vẫn có thể chật vật chiến thắng được. Kể cả nếu hắn có thuộc hạ đi nữa, tôi vẫn có thể nghĩ ra cách. Trong suốt hai năm qua, tôi đã tích góp đủ kinh nghiệm để có thể tự tin tuyên bố như vậy. Và kể cả nếu tình hình chuyển biến tệ nhất có thể, không còn hy vọng nào nữa, thì tôi vẫn còn một lá bài tủ, thanh kiếm Phàm Ăn. Chỉ cần tôi không mắc sai lầm và bị giết một cách đột ngột—tất nhiên là chuyện đó luôn có khả năng xảy ra trong mọi trận chiến—thì tôi sẽ có thể chiến thắng một con quỷ cấp Tướng. Nhưng…

“Valacirca…”

Nếu tôi nhớ không nhầm thì đó là một từ trong tiếng Elf để chỉ Lưỡi hái Phương Bắc, một chòm sao được tạo nên bởi sáu vì sao. Nó gồm hai ngôi sao kết nối nhau tạo thành tay cầm và bốn cái còn lại thì cong như hình lưỡi hái. Mỗi một ngôi sao đều mang tên của một trong sáu vị thần chính: thần sấm sét, Mẹ Đất, và thần của lửa, fae, gió và kiến thức.

“Lưỡi hái Tai hoạ, lưỡi hái của thần—”

Và cũng là tên một con rồng.

Con rồng đó khiếp sợ đến nỗi được tộc elf kiêu hãnh đặt cho một cái tên vĩ đại như vậy. Tôi chắc chắn đó hẳn phải là một con rồng đúng như tên gọi của nó, và nó đã tồn tại từ thời thượng cổ.

Tôi chưa từng đánh với rồng bao giờ. Chúng thậm chí còn chưa bao giờ xuất hiện trong những chiến tích của Blood. Vậy nên tôi chẳng thể nào ước lượng được sức mạnh của chúng cũng như cơ hội chiến thắng của tôi.

Được sinh ra từ khi Đấng Sáng Tạo tạo nên thế giới, loài rồng đã dùng sức mạnh của mình trong những trận chiến giữa thiện thần và ác thần, một thứ sức mạnh không ai khác ngoài chính bản thân thần thánh có thể sánh được. Chúng có cơ thể khổng lồ nhưng dẻo dai được bao bọc bởi vảy cứng, và chúng cũng có cả trí thông minh để sử dụng Từ Ngữ nữa. Chúng có đôi cánh khoẻ mạnh để bay trong gió, răng nanh to như thân cây, và móng vuốt sắc bén chẳng kém gì những lưỡi kiếm tuyệt vời nhất.

Đa phần loài rồng đã biến mất khỏi thế giới rồi. Có một giả thuyết cho rằng những trận chiến của thần đã làm giảm đáng kể số lượng rồng, và một giả thuyết khác cho rằng chúng đã rũ bỏ sự kìm kẹp của thế giới vật chất để đến với chiều không gian của thần. Dù giả thuyết nào mới là đúng đi nữa, thực tế vẫn là trên thế giới này gần như chẳng còn có con rồng nào nữa. Những truyền thuyết thêu dệt cũng như vô số loài bán long, tương truyền từng là bề tôi của rồng, là những chứng cứ duy nhất chứng tỏ loài rồng từng tồn tại.

“Một con rồng…”

Xin nhắc lại: sức mạnh của chúng chỉ đứng sau thần mà thôi. Đến cả Echo của Stagnate cũng đã vô cùng nguy hiểm, kể sau khi đã bị Gus phá huỷ một nửa phân mảnh và làm yếu đi nhiều rồi. Chỉ riêng hắn cũng đã đủ để làm tôi suýt chết. Nếu không được nữ thần của ngọn lửa đến cứu thì lúc đó tôi đã chết rồi. Tôi nhớ lại nỗi kinh hoàng mà thần undeath đem đến. Một cơn run rẩy lạnh buốt chạy dọc sống lưng tôi.

“Một Echo và một con rồng…”

Bên nào mạnh hơn? Tôi không biết. Nhưng tôi chắc chắn một điều: không thể nào một con rồng lại yếu hơn Stagnate nhiều được.

Tôi muốn hành động một cách cẩn trọng nhất có thể. Chính vì vậy nên tôi đã gửi thư tới giám mục để nhờ ông ấy tìm thêm càng nhiều thông tin càng tốt trong khi tôi vẫn còn có thời gian. Đủ loại sách vở cũng như nhân tài đều tụ tập tại đền thờ và Học Viện nơi Gus từng theo học. Nghe đồn đền thờ và Học Viện thỉnh thoảng còn được những người elf ra khỏi rừng để học hỏi kiến thức theo học nữa. Có khả năng là ông ấy sẽ tìm được vài truyền thuyết cổ.

Tôi chầm chậm thở ra để lấy bình tĩnh.

Tôi cũng có chút tự tin vào sức mạnh của mình—dù gì tôi cũng là đàn ông mà, và cũng là một chiến binh được Blood huấn luyện nữa. Nhưng đồng thời, tất cả những trận chiến tôi từng chải qua cũng đã dạy cho tôi một điều. Chiến trường khắc hoạ những mặt khó khăn, tàn bạo và khắc nghiệt nhất của thực tế. Một khi bắt đầu, thì gần như chắc chắn sẽ có người phải chết.

“Hỡi thần…”

Lần đầu tiên sau một quãng thời gian dài, tay tôi bắt đầu run rẩy. Đây là một đối thủ ngang hàng và có lẽ còn mạnh hơn cả tôi. Khả năng cao là tôi sẽ có thể thua. Đó là một đối thủ có thể lấy mạng tôi một cách tàn bạo và máu lạnh.

“Ôi, trời…”

Tôi chợt nghĩ về Mary. Tôi nhớ về cái ôm và mùi hương dễ chịu mùi gỗ cháy của cô ấy. Will. William. Tôi nghe giọng cô ấy, giọng mẹ tôi, gọi tên mình.

Tôi khẽ thì thầm. “Con sợ quá…”

“Đừng có nhát gan như vậy!”

Tôi giật bắn minh. Tôi tưởng có ai đó đã nghe thấy điều mình vừa nói.

“Nào! Lại một lần nữa đi!”

Giọng nói đó vọng vào từ ngoài cửa sổ. Tôi nhìn ra ngoài. Menel và Al đang đấu tập với nhau.

“Hah!” Mặc áo giáp và cầm thanh kiếm luyện tập mà tôi làm trong tay, Menel dễ dàng đá ngã Al. “Thế quái nào mà cậu lại chần chừ đánh khi tôi đã mặc áo giáp hả? Cậu còn ẻo lả hơn cả Will đấy biết chưa. Đúng là một tên nhu nhược!” Menel khiêu khích Al và cau mày nhìn cậu dwarf trong khi cậu ta vẫn đang rên rỉ nằm dưới đất. “Nào nào, sao vậy? Chưa gì đã bỏ cuộc rồi à? Định cúp đuôi chạy về nhà trốn hả cậu ấm?”

“T, Tôi sẽ không bỏ cuộc!”

Al lại một lần nữa tấn công bằng thanh kiếm tập. Menel thậm chí còn chẳng cần phải né. Cậu ta thản nhiên để cho thanh kiếm đập vào tấm bảo vệ trán, thậm chí còn chẳng thèm chớp mắt,

“Người anh em, cậu đánh trực diện vào người tôi mà chỉ được có thế này thôi sao? Mấy cái tay to bự đó chỉ để làm cảnh à? Hử?” Trong khi thanh kiếm vẫn còn đang đặt trên đầu mình, Menel tiến lại gần Al và lườm cậu ta. Al co rúm người lại. “Ồ? Ồ? Chưa gì đã run rẩy rồi à? Định khóc lóc rồi chạy trốn sao? Cứ thoải mái.”

“T, Tôi sẽ không chạy trốn!”

“Vậy thì đánh mạnh hơn đi! Dồn nhiều lực vào hơn đi, thằng ăn hại!”

Al hét to lên và dùng hết sức vung thanh kiếm tập. Menel điêu luyện dùng áo giáp đỡ đòn, nhưng chúng trông vẫn khá là đau đấy, kể cả nếu có áo giáp đỡ đi nữa. Cậu ta đúng là giỏi thật, chẳng hể để lộ vẻ đau đớn gì.

Dạo gần đây, Menel đã vào vai một huấn luyện viên nghiêm khắc để dạy Al.

Tính tình của Al hiền lành quá. Cơ bắp của cậu ta khá là khoẻ và cậu ta cũng có trực giác tốt khi học kỹ thuật, nhưng khi đánh hoặc đấu vật với Menel trên thực tiễn, thì cậu ta lại dễ dàng bị đánh bại, mặc dù tôi biết Menel có ít cơ bắp hơn.

Đối với một người bình thường, lòng tốt để cảm thông và tránh làm hại người khác là một đức tính không có gì đáng trách cả, nhưng đối với một chiến binh, thì đó lại là một điểm yếu. Tôi đã bàn với Menel, và chúng tôi đã thống nhất rằng giải pháp duy nhất là biến các đòn đánh trở thành phản xạ. Vậy nên Menel mới mạnh tay với Al như vậy, cậu ta đá ngã và tạo sức ép với Al nhằm khiến cậu ta tấn công đáp trả lại. Giống như tôi đã được huấn luyện để quen với việc giết chim và những loài thú hoang khác, làm quen với sự căng thẳng khi chiến đấu cũng như dùng hết sức để đánh một đối thủ sống chính là bước đầu tiên của Al.

Al lại hét lên một lần nữa. Rồi một tiếng ‘rầm’ lớn vang lên, theo sau là tiếng ho vì nghẹt thở. Al đã vung thanh kiếm tập sang ngang và đập vào người Menel, khiến cho cậu ta bay người đi dù đã mặc giáp ngực rồi. Trông đau đấy. Chắc là đau lắm đấy.

“Hể. Vừa rồi cậu cũng máu phết đấy.” Menel không để nỗi đau hiện trên mặt mình. Cậu ta chỉ cau mày một chút và cố gắng giữ vẻ mặt bình tĩnh. “Phải vậy mới phải.”

Menel đang dạy rất tốt. Cậu ta thực chất là một người có nhiều kinh nghiệm sống và rất biết quan tâm đến người khác. Có lẽ cậu ta còn hợp với việc dạy bảo hơn là tôi.

“C-Cảm ơn nhiều!”

Còn Al thì rất nghiêm chỉnh. Dù thỉnh thoảng do dự hay cố tình đánh nhẹ đi vì lo cho đối thủ, nhưng cậu ta chưa bao giờ để Menel làm mình nhụt chí cả, dù có bị la hét, hăm doạ và đè ép thế nào đi nữa. Đôi mắt màu nâu đỏ của Al như sáng lên, cậu ta hô lên một tiếng xung trận rồi lao vào Menel, một chiến binh hùng mạnh hơn mình rất nhiều.

Al đã làm tôi thấy vô cùng ấn tượng. Tôi có thể thấy rõ cậu ta mạnh lên sau từng trận chiến. Điều gì không làm được hôm nay, thì cậu ta sẽ có thể làm được vào ngày mai. Và điều gì cậu ta không làm được vào ngày mai, thì cậu ta sẽ có thể làm được vào ngày kia. Tất cả đều là những thay đổi hết sức nhỏ bé. Đôi khi Al sẽ dồn tâm huyết vào sai chỗ rồi gặp thất bại trong một thời gian. Nhưng nếu như cậu ta cứ tiếp tục tiến bộ dần dần như vậy trong mười ngày thì sao? Hay là hai mươi ngày? Ba mươi! Năm mươi? Một trăm? Một nghìn? Nếu như cậu ta không bao giờ ngừng tiến bộ thì sao?

Chiến binh không là chiến binh từ khi sinh ra. Họ trở thành chiến binh bằng cách mắc sai lầm, bị thương, rồi học hỏi từ đó, cứ tiến bộ từng chút một.

Ở ngoài cửa sổ phòng tôi, Menel lại đá Al ngã một lần nữa. Cậu ta lăn lộn trên thảm cỏ, người lấm lem đầy đất cát. Nhưng trong mắt tôi, Al lại đang toả sáng tựa như một viên đá quý vậy. Cái ánh sáng toả ra từ cậu ta là thứ ánh sáng của một viên đá thô vẫn chưa vào tay con người. Từ giờ trở đi, Al sẽ được mài dũa kỹ càng, và tôi chắc chắn cậu ta sẽ còn toả sáng rực rỡ hơn nữa. Nghĩ như vậy làm cho tôi bình tĩnh hơn một chút và cũng thấy ấm lòng hơn.

Blood… Liệu cha cũng đã từng cảm thấy như vậy ư?

Lúc đến giờ ăn trưa, Al uể oải ngồi trong phòng ăn. Menel đã dần cậu ta một trận suốt từ sáng đến giờ.

Mà Menel cũng giỏi thật khi có thể làm cho một người bền bỉ như Al mệt lử đến thế này. Nhưng cậu ta cũng đã phải rất vất vả mới làm được vậy. Có vẻ như Menel không muốn tỏ ra yếu đuối trước người mình dạy; Menel nói với tôi cậu ta sẽ ra ngoài ăn và nhờ tôi trông chừng Al, rồi lảo đảo bước về phía thị trấn. Cậu ta làm tôi liên tưởng đến một con thú hoang hay gì đó. Chắc vốn dĩ tính tình Menel luôn vậy rồi.

“Đồ ăn nè.”

Tôi đặt lên bàn những chiếc bát đầy rau củ và thịt hun khói mà hầu gái của tôi làm trong ca sáng, cùng với một đĩa trứng luộc ăn kèm với bánh mì cứng. Khẩu phần khá là dư dả. Phải ăn nhiều thế này thì Al mới có một cơ thể cơ bắp được.

“T, Tôi không chắc mình ăn được hết chỗ này.”

“Nhồi cho bằng hết vào. Nếu không thì bao công sức luyện tập của cậu sẽ thành công cốc đấy. Cậu phải ăn nhiều hơn lượng mình tiêu thụ, nếu không thì việc luyện tập chẳng còn có ý nghĩa gì nữa.”

Ăn thật nhiều sau khi luyện tập—đây là một trong những điều căn bản mà Blood đã nhồi vào đầu tôi. Nếu Al mà không làm được như vậy thì bài tập luyện sẽ trở nên vô nghĩa. Thà không luyện tập còn hơn là ăn kiêng trong lúc luyện tập để rồi làm cho cơ bắp của mình yếu đi.

“Không cần phải ăn vội vàng làm gì, nhưng cậu nhớ cho hết chỗ này vào người đấy.”

“Đ-Được rồi…”

Sau khi cầu nguyện xong, tôi rót ấm trà thảo dược mà mình pha vào hai cái cốc trong khi nhìn Al chầm chậm xử lý chỗ thức ăn. Tôi cũng tập luyện hàng ngày giống như cậu ta, nên tôi chỉ im lặng ngồi nhai và uống mà thôi. Tôi chẳng hề có ý định bắt chuyện với một người đã kiệt sức để làm cho cậu ta mệt hơn nữa làm gì.

Tôi nhai chiếc bánh mì đa hạt với mùi vị đặc biệt và thử nhớ lại xem ở thế giới cũ của tôi cái loại bánh mì vị mạnh và hơi chua chua này có ở đây. Hình như ở Đức hay đâu đó thì phải? Trong khi tôi suy nghĩ vẩn vơ như vậy, Al ngồi thẳng người và lên tiếng. “Ưm… Tôi muốn một lần nữa… cảm ơn cậu.”

“Hửm? Sao vậy?”

“Tôi rất biết ơn vì những gì cậu đã làm cho tôi. Nhận tôi làm cận vệ, huấn luyện và thậm chí còn cho tôi cả thức ăn và tiền lương nữa…” Đôi mắt nâu đỏ của Al nhìn chằm chằm vào tôi. Tôi đặt miếng bánh mì mình đang cầm xuống và nhìn lại vào mắt Al.

“Cậu đã… biết về quá khứ của chúng tôi chưa?” Al hỏi.

“Rồi.”

“V-Vậy thì, cậu cũng biết về địa vị của tôi sao?”

“Tôi nghĩ là mình cũng đã đoán được kha khá rồi. Đừng lo, tôi sẽ không gặng hỏi đâu. Cậu có thể nói với tôi lúc nào cũng được, hoặc có thể giữ im lặng.”

“Rõ…” Al hơi nhìn xuống.

Kể cả cái tên tôi đang gọi cậu ta chắc hẳn cũng chỉ là tên rút gọn. Tôi vẫn chưa biết tên thật của cậu ta.

“Tôi là… quý tộc trong gia tộc.”

“Rồi.”

“Cha mẹ tôi đã qua đời khi tôi còn nhỏ, nên tôi được nuôi dạy bởi gia tộc, bảo vệ khỏi mọi loại rắc rối.”

“Đúng là trông vậy thật.”

Trông có vẻ như Al rất được yêu thương. Nhưng cũng chính vì vậy nên cậu ta mới hình thành mặc cảm như vậy.

“Nhưng một phần trong tôi tự hỏi liệu như vậy có ổn hay không,” cậu ta nói. “Người dwarf chúng tôi tôn thờ thần lửa, người đã tạo nên chúng tôi. Niềm kiêu hãnh của chúng tôi là niềm kiêu hãnh của một chiến binh. Vậy nhưng tôi, người có trách nhiệm gánh vác gia tộc, lại quá yếu đuối và nhát gan…”

Là một người được sinh ra với thân phận quý tộc, chắc hẳn Al cảm thấy mình có nghĩa vụ và bổn phận phải làm vậy..

“T-Tôi đã vô cùng ngưỡng mộ khi được nghe về cậu. Cậu cũng chỉ tầm tuổi tôi, vậy nhưng cậu đã có biết bao nhiêu câu chuyện kể về mình, và còn là lãnh chúa của cả một vùng rộng lớn nữa. Tôi muốn được trở nên giống cậu.” Vẻ căng thẳng trên mặt Al được thế chỗ bởi một nụ cười tươi nhe răng. “Vậy nên… được phục vụ bên cạnh cậu cứ như là một giấc mơ đối với tôi vậy. Tôi không biết phải nói sao để diễn tả niềm hạnh phúc khi được học cách trở thành một chiến binh dũng cảm từ cậu.”

Nụ cười của Al như biết lây lan, khiến cho tôi cũng cảm thấy vui theo. “Cảm ơn.” Tôi xấu hổ cười. “Dù chỉ là tạm thời, nhưng tôi sẽ cố gắng để trở thành một chủ nhân xứng đáng với cậu.”

Rồi, tôi cười một cách hơi bồn chồn, và nói thêm. “Nhưng tôi không chắc mình có thể dạy cho cậu về lòng dũng cảm.”

Al điếng người nhìn tôi. Cứ như thể cậu ta không hiểu tôi vừa nói gì vậy.

“Ưmm…”

“Ý tôi là. Tôi thực ra không hề dũng cảm lắm đâu.”

Cậu ta im lặng một chút trước khi trả lời. “Mặc dù cậu đã đứng lên chống lại một con wyvern và chimera sao?”

Tôi gật đầu. “Nghe này, Al. Mọi người có thể coi đó là hành động của một người dũng cảm. Họ có thể nghĩ tôi là một vị anh hùng đứng lên chống lại những con quái vật đáng sợ. Nhưng liệu có đúng vậy không.”

Bản thân tôi không hề nghĩ như vậy. Bởi lẽ—

“Liệu có gì ‘dũng cảm’ khi ta thách thức một đối thủ mình biết mình có thể thắng không?”

Al trố mắt nhìn tôi. “Cậu biết cậu có thể thắng ư?”

“Tôi nói thật đó.”

Thực tế là vậy đấy. Nếu tôi lại phải đối đầu với con wyvern đó và tay không đánh với nó một trăm lần nữa, tôi chắc chắn mình có thể chiến thắng chín mươi chín lần. Kể cả nếu phải đấu lại với con chimera, chừng nào tôi có vũ khí và áo giáp thích hợp, tôi sẽ gần như không thể bị đánh bại.

“Tôi mạnh hơn một con wyvern hay chimera gấp nhiều lần. Đó là nhận định chân thật nhất của tôi. Tôi có thể dễ dàng giết chúng chỉ bằng cách tin vào thành quả luyện tập của mình.”

Al đờ người ra. Có vẻ như cậu ta đang không biết nên trả lời kiểu gì.

“Tôi có lẽ mạnh hơn cậu và mọi người nghĩ nhiều.”

Có lẽ những người duy nhất biết rõ tôi khác thường đến thế nào chỉ có Menel, Reystov và một vài người có con mắt tinh tường khác.

“Wyvern hay chimera. Chúng không làm tôi sợ.”

Chỉ có một lần duy nhất tôi thấy sợ hãi trước sức mạnh của đối thủ khi chiến đấu: cái sinh vật được bao phủ bởi khói đen đó. Tôi đã tuyệt vọng, khuỵ gối và nằm co ro trên mặt đất. Và lý do tôi có thể đứng lên được chẳng có liên quan gì đến sự dũng cảm cả. Nếu chỉ có một mình thì tôi chắc chắn mình sẽ nằm đó ôm đầu đợi cho đến lúc cơn bão qua đi, bị nỗi sợ hãi và tuyệt vọng đè bẹp.

“Một người hạ gục những thứ yếu hơn hẳn mình chẳng phải là một anh hùng can cảm. Chiến thắng những thứ không làm mình sợ chẳng phải là dũng cảm.”

“Vậy thì—” Al chần chừ một lúc trước khi hỏi. “Vậy thì thế nào mới là dũng cảm?”

“Nói thật ư? Chính tôi cũng muốn biết câu trả lời đây.”

Lúc đó, tôi chỉ có thể đứng lên được vì Mary đã ở đó để khiển trách tôi. Tôi đã ép đôi chân run rẩy của mình đứng dậy vì tôi muốn bảo vệ ba người họ. Chứ chẳng phải là vì tôi đang hừng hực lòng dũng cảm hay là gì. Trên thực tế, lúc đó tôi chẳng hề dựa vào nghị lực hay quyết tâm của mình chút nào. Tôi có một cơ thể được huấn luyện kỹ càng và đã chuẩn bị đầy đủ. Tôi đã chiến thắng đơn giản là vì tôi có đủ điều kiện để chiến thắng. Chỉ đơn thuần như vậy mà thôi.

Có lẽ bản chất cũ cũng đã theo tôi đến thế giới này. Có lẽ tôi đúng là một thằng nhát gan.

“Làm sao để ta có thể thách thức một đối thủ mạnh hơn mình, mạnh đến không tưởng?”

Thời điểm chiến trận đã gần kề, và tôi không chắc mình sẽ có thể nghĩ được một chiến lược chắc thắng. Đến lúc đó, liệu tôi có thể chiến đấu không? Liệu tôi có đủ can đảm để làm vậy không?

Chiều hôm đó, khi Al và tôi đang trong văn phòng để giải quyết chút giấy tờ thì tôi nghe thấy tiếng ồn ào ngoài lối vào biệt thự. Tôi tạm dừng không làm việc nữa, thắc mắc không biết có phải là khách đến thăm không. Rồi tiếng gõ cửa vang lên.

“William. Tôi về rồi đây.” Một giọng nói quen thuộc vang lên. Cánh cửa mở ra, để lộ một người đàn ông với khuôn mặt râu ria, đôi mắt sắc bén và một cơ thể lực lưỡng. Chiếc áo choàng dày bằng da mãnh thú của anh dính đầy máu và vết bẩn không tẩy sạch được. Anh ta là một thám hiểm giả với danh hiệu “Kẻ xuyên thấu.”

“Reystov! Mừng anh trở về! Thế nào rồi?”

“Tôi đã tiêu diệt hết đám mãnh thú như cậu yêu cầu. Ở đó còn có vài tên quỷ cấp Chỉ huy dẫn quân đi loanh quanh, nên tôi cũng xử lý chúng luôn.”

Rừng Mãnh thú rất rộng lớn. Mãnh thú và quỷ xuất hiện khắp nơi để gây rối. Một mình tôi không thể nào giải quyết được hết mọi việc được. Tôi lúc nào cũng phải chật vật tìm những người vừa có tính cách đáng tin cậy vừa có kỹ năng chiến đấu cần thiết để giải quyết những vấn đề này. Còn Reystov thì là một thám hiểm giả đang tìm kẻ địch mạnh và nổi danh để đánh bại nhằm kiếm thanh thế và vinh quang. Kỹ năng dùng kiếm của anh ta, nhất là những đòn đâm kiếm nhanh như chớp, phải nói là có một không hai, và anh ta cũng là một thám hiểm giả trung thành có nguyên tắc trong một rừng toàn những người côn đồ.

Nói tóm lại thì mục đích của chúng tôi tương đồng với nhau. Tôi cung cấp cho anh ta những nhu cầu thiết yếu cũng như một lượng kẻ thù ổn định. Reystov cung cấp lại cho tôi kỹ năng kiếm thuật của mình và đánh bại những kẻ thù đó để nâng cao thanh thế cho anh ta. Trên giấy tờ thì Reystov làm việc cho tôi, nhưng thực chất tôi mới là người học được nhiều điều từ anh ấy. Anh ta là một chiến binh kỳ cựu đích thực. Khối liên minh chẳng rõ ai mới là người đứng đầu của chúng tôi đến giờ vẫn đang hoạt động khá là êm thấm.

“Tôi không gặp phải điều gì khác thường. Vậy tôi cứ báo cáo lại với Anna giống như bình thường nhé?”

“Ừ, cảm ơn anh nhiều.”

“Phải rồi, tôi nghe nói cậu có một cận vệ mới, nhưng—” Anh ấy nhìn Al. “Hắn trông như một đứa vô danh vậy,” Reystov trầm giọng nói.

Suốt thời gian qua Reytov đã làm việc ở những ngôi làng cách xa đây, nên đây là lần đầu tiên anh ấy gặp Al. Anh nhìn cậu dwarf đang đứng đó một lúc, im lặng không nói gì. Al định mở miệng nói gì đó, nhưng trước cái lườm đanh thép và cách nói thẳng thừng của Reystov, cậu ta hơi rúm người lại, chỉ phát ra được một tiếng rít nhỏ.

Reystov bước thẳng đến chỗ Al. “Còng lưng quá.” Rồi anh ấy vỗ nhẹ vào lưng Al, nắm lấy vai cậu và ấn về phía sau. “Hai vai cậu khom ra phía trước quá. Vậy sẽ khiến cậu trông chán nản và chẳng còn chút quyền uy gì cả. Nghe kỹ này: nếu là cậu là đàn ông thì hãy ngẩng cao đầu, ưỡn thẳng lưng và ngậm chặt mồm vào. Đừng có đảo mắt nhìn lung tung. Hãy nhìn thẳng vào mắt hoặc mồm của người đang nói chuyện với mình.”

“V-Vâng!”

“Tốt. Giờ cậu trông đáng kính hơn một chút rồi.” Reystov mỗi khi nói chuyện với ai đều luôn nhìn thẳng vào mắt họ. “Tôi là Reystov. Còn cậu là?”

“A-Al.”

“Al sao. Được rồi. Cậu nghĩ thế nào về William?”

“T, Tôi rất ngưỡng mộ cậu ấy!”

Reystov gật đầu. “Vậy thì, với tư cách là cận vệ, đừng bao giờ hành xử theo cách làm giảm thanh thế chủ nhân của cậu.”

Al cứng họng không biết nói gì.

“Luôn luôn bước đi một cách đàng hoàng, lưng thẳng và mắt nhìn về phía trước. Mỗi khi mở miệng, hãy nói sao cho thật đúng đắn và tự tin. Nếu không thể làm vậy thì hãy giữ im lặng. Như vậy thì cậu sẽ không còn là một kẻ vô danh nữa. Hiểu chưa?”

“Vâng!”

Trong khi Reystov tiếp tục nói với Al, tôi có thể thấy lưng Al đang bắt đầu thẳng lên và mắt cậu ta trông cũng tập trung hơn. Tôi nghĩ mình có thể hiểu được Al đang nghĩ gì lúc này. Khi Reystov vừa cho lời khuyên vừa nhìn ta một cách đanh thép như vậy, ta sẽ cảm thấy mình có thể thực hiện được điều mà anh ấy đang nói. Nó giúp ta trở nên tự tin hơn. Có lẽ khả năng làm ảnh hưởng người khác như vậy cũng là một trong những tài năng của anh ấy.

“William?”

“Gì vậy?”

“Cậu có phiền không?”

“Không, anh cứ tự nhiên.”

Reystov đôi lúc nói hơi ngắn gọn quá, nhưng chúng tôi đã biết nhau được vài năm rồi, nên thường thì tôi vẫn có thể hiểu được anh ấy nói gì. Khi hỏi “Cậu có phiền không?” như vậy, ý anh ấy là “Cậu có phiền không khi tôi nhúng mũi vào và sửa cách hành xử của cậu ta?”

“Thật ra thì tôi cũng đang định nhờ anh giúp đó.”

“Vậy sao.” Reystov chầm chậm gật đầu rồi lại quay sang nhìn Al một lần nữa. “Cậu nói tên cậu là Al có phải không?”

“Vâng.”

“Từ giờ tôi sẽ bắt đầu nói thẳng.”

“Rõ!”

Trông có vẻ như Al thật thà và Reystov, một người có nhiều kinh nghiệm và biết nói thẳng sẽ hợp với nhau lắm đây.

“Phải rồi, Reystov?” Tôi đột nhiên nảy ra ý định hỏi anh ấy và nói.

“Sao?”

“Theo anh thì sự dũng cảm là gì?”

Reystov cau mày nhìn tôi và nói, “Tôi không biết ý cậu là gì, nhưng cậu sẽ không bao giờ tìm ra câu trả lời chừng nào cậu còn nghĩ như vậy.”

Thời gian trôi qua. Công cuộc thu thập thông tin của chúng tôi vẫn cứ tiếp tục. Tôi đã giữ cảnh giác với Dãy núi Rỉ, nhưng cuối cùng thì mùa hạ và mùa thu vẫn trôi qua một cách yên bình.

Sau khi thu hoạch lúa mì, chúng tôi đã có một lễ hội tưng bừng mừng mùa thu hoạch. Bia mới nấu và rượu hoa quả được đem ra để tổ chức tiệc. Khi ngồi quanh ngọn lửa với cốc rượu trong tay, không còn ai phân biệt giữa dwarf và con người nữa. Tất cả mọi người đều vui vẻ uống và vui đùa cùng nhau. Để giúp thành phố trở nên hoà thuận hơn nữa, tôi đã chủ động đến dự vô số bữa tiệc khác nhau. Reystov nhập hội cùng với Grendir, Ghelreis và những người khác, và một khi bắt đầu kể về những chiến công anh hùng của mình, bọn họ trông có vẻ khá là hợp cạ với nhau. Menel vòng tay qua vai Al và tôi. Hiếm khi nào tôi thấy cậu ta vui vẻ như vậy.

Một khi mùa thu đến và những loại hạt nhiều dinh dưỡng, ví dụ như quả sồi, bắt đầu rụng xuống, đó là lúc mọi người thả gia súc vào trong rừng. Làm vậy thì gia súc mới có thể đủ béo để sống sót qua mùa đông, mặc dù một phần bọn chúng sẽ bị giết và thịt của chúng sẽ được hun khói hoặc ướp muối để bảo quản cho mùa lạnh sắp tới. Vào mùa này, mọi người cũng vào rừng rất nhiều để tìm hoa quả, nấm và gỗ để giúp họ sống sót qua mùa đông. Đúng như Chúa tể cây Nhựa ruồi đã hứa, mùa thu hoạch trong rừng lần này rất bội thu, và ai nấy đều hài lòng.

Đây cũng là một thời điểm bận rộn trong năm đối với thám hiểm giả.

Cho đến giờ, người dân trong khu vực này đã phải sống rất gò bó vì họ và gia súc sẽ bị mãnh thú tấn công nếu vào trong rừng. Họ đã bị buộc phải sống một cách khổ sở trong những khu vực an toàn nhỏ mà họ dựng lên xung quanh làng, bởi vì đi sâu vào trong rừng chẳng khác nào tự sát cả.

Tuy nhiên, hai năm sau khi tôi đến đây, tình hình đã cải thiện đáng kể khi tôi và các thám hiểm giả tổ chức những cuộc săn mãnh thú quy mô lớn. Nhờ vậy mà một phần đất lớn đã lại một lần nữa trở về tay con người. Lãnh thổ của mãnh thú thu nhỏ lại, và người dân có thêm đất để lượm nhặt thức ăn hay  nuôi gia súc. Nhưng dù vậy, đây vẫn là Rừng Mãnh Thú. Có khá nhiều con thú cố tấn công vào những nơi con người sinh sống. Đánh đuổi bọn chúng là một trong những công việc chính của thám hiểm giả quanh đây, cùng với thám hiểm những tàn tích ẩn sâu trong rừng.

Các ngôi làng thuê thám hiểm giả để săn mãnh thú cho họ, và trả công bằng chỗ ở, đồ ăn, một chút tiền, cũng như da những con mãnh thú mà họ săn được. Cách dàn xếp này giúp cho các ngôi làng được an toàn còn thám hiểm giả thì được thưởng công và đôi khi còn trở nên nổi tiếng nếu tiêu diệt được những kẻ thù lớn. Tất nhiên là đôi khi cũng có người chết. Thỉnh thoảng tôi còn thấy có vài thám hiểm giả nảy sinh tình cảm với một cô gái hoặc goá phụ trong làng và sống luôn ở đó nữa.

Da và xương của mãnh thú sau khi săn sẽ được bán cho Cảng Ánh Đuốc cùng với lúa mì, rau củ, củi hay than mà họ thu hoạch được. Với số tiền kiếm được, các thám hiểm giả sẽ bổ sung nhu yếu phẩm cũng như sửa chữa lại trang bị, còn dân làng thì mua dụng cụ làm nông, các vật dụng thiết yếu hàng ngày và gia súc. Nhờ vậy mà các ngôi làng sẽ trở nên giàu có hơn, giúp cho sản lượng tăng lên, còn Cảng Ánh Đuốc thì sẽ có đủ thức ăn và nhiên liệu để cung cấp cho người dân.

Các người thợ có thể làm việc bận rộn được là nhờ thức ăn của những ngôi làng làm nông. Thợ rèn, thợ gốm, thợ làm gỗ, thợ dệt và nhiều ngành nghề khác chế tạo sản phẩm cho cả vùng nông thôn lẫn thành thị. Và thỉnh thoảng sẽ có những con tàu từ Buồm Trắng đem hàng hoá mà chúng tôi không thể làm ra ở khu vực Cảng Ánh Đuốc đến. Những người cửu vạn bốc dỡ hàng hoá xuống và chất lên tàu những đồ gồm đồ gỗ được sản xuất ở đây.

Giao thương giữa Buồm Trắng và Cảng Ánh Đuốc đem lại rất nhiều lợi nhuận cho thương lái. Đôi lúc họ còn có thể kiếm tiền bằng cách thuê được một nhà kho hay gì đó tương tự và mở cửa hàng phục vụ lượng dân số đa dạng sống trong thành phố này.

Còn tôi, lãnh chúa của Rừng Mãnh Thú, tôi thu thập tiền vốn và nhân lực từ vô số nơi trong hệ thống và dùng chúng để cai quản cũng như điều hành nơi này, mặc dù tôi vẫn phải dựa vào những tu sĩ tôi mượn từ giám mục để làm phần lớn công việc. Ví dụ như, tôi thu thuế đất, yêu cầu lao động công ích trong một số ngày nhất định, thu phí dùng cảng, nhà kho, chợ, cũng như nhiều thứ khác nữa.

Và thế là Cảng Ánh Đuốc đã có một nền kinh tế, công nghiệp và chính quyền ổn định. Hiện giờ, vô số ngành công nghiệp trong thành phố vẫn đang phát triển hàng năm, và dù thị trường lao động đang có  đôi chút biến động, nhưng nhìn chung thì nó vẫn khá là ổn định với tỉ lệ người bán trong mức an toàn. Nhờ vậy mà chúng tôi vẫn chưa cần phải can thiệp khẩn cấp gì, dù số lượng người tị nạn từ Grassland phía bắc đang tăng lên. Dù thỉnh thoảng có chút biến cố, nhưng chúng tôi vẫn tạo được một vòng tuần hoàn tích cực khá là cân bằng.

Đây là một chuyện đáng để ăn mừng, nhưng tôi không được phép quên rằng tình hình hiện giờ của chúng tôi vẫn khá là bấp bênh. Nghĩa là chỉ cần thế cân bằng biến mất, thì vòng tuần hoàn này sẽ ngay lập tức bị phá vỡ.

Điều gì sẽ xảy ra nếu, ví dụ như, khu vực nông thôn ở khắp Rừng Mãnh Thú, nền móng của hệ thống này, bị mãnh thú tàn phá nặng nề? Nó sẽ ngay lập tức gây ra hiệu ứng domino. Cáng Ánh Đuốc, vốn dựa vào các ngôi làng để cung cấp thức ăn và nguyên liệu, sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng lương thực, và chưa kể sự thiếu hụt nhiên liệu có thể sẽ khiến cho các nhà xưởng phải ngừng làm việc. Nếu chuyện đó xảy ra thì các thương lái cũng sẽ phải đóng cửa hàng, và số các chuyến tàu đi lại trên sông sẽ giảm xuống. Thế là tiền thuế sẽ suy giảm, khiến cho khả năng đối phó với các rắc rối của chúng tôi bị ảnh hưởng, và lũ mãnh thú sẽ còn hoành hành còn nghiêm trọng hơn trước. Chúng tôi sẽ khó có thể hồi phục lại được một khi chuỗi phản ứng dây chuyền đó bắt đầu.

Nhìn một cách khách quan thì chúng tôi không được phép mắc sai lầm nếu có chuyện gì xảy ra. Mọi rắc rối cần phải được giải quyết từ trong trứng nước.

“Haaaah!”

Tôi cảm giác cơ thể mình bay trong không trung. Trời và đất đổi chỗ cho nhau. Tôi tiếp đất bằng tay và triệt tiêu đà rơi một cách chuẩn xác. Ngay lập tức, một bàn chân dậm mạnh xuống ngay cạnh đầu tôi.

Tôi đã nhường cậu ta một chút. Nhưng dù vậy đúng là tôi đã thua mất rồi.

“Tuyệt vời! Hay lắm!” Tôi nhìn lên và vui vẻ nói.

“Ca-Cảm ơn nhiều!” Al đáp trả.

Al đã được đủ loại người khác nhau chỉ dạy trong những tháng qua. Giờ cậu ta đã biết đứng thẳng người và ngẩng cao đầu. Al giờ đã có thể làm ta liên tưởng đến một người mạnh mẽ và dũng cảm rồi. Dù chưa tham gia một trận thực chiến nào, nhưng các kỹ năng của cậu ta đều đã tiến bộ rõ rệt, và cậu ta cũng đã biết cách hành xử đứng đắn hơn.

Al đúng là có tài trong chuyện này thật. Nếu chỉ xét đến những trận đấu của chúng tôi để giúp cậu ta luyện tập chiến đấu bằng tay không cũng như bằng vũ khí, thì cậu ta vẫn khó mà thắng được Menel, Reystov và tôi, nhưng vậy cũng đã khá là ổn rồi. Trong đó, khả năng chiến đấu bằng tay không của cậu ta phải nói là rất tuyệt vời.

Sau vô số buổi luyện tập cùng nhau, tôi đã nhận ra một điều, đó là người dwarf rất hợp với các kỹ thuật đấu vật. Họ có thân hình chắc nịch và cơ bắp khoẻ mạnh nhưng lại rất thấp. Al khá là cao so với người dwarf, nhưng dù vậy cậu ta vẫn chưa đến mức cao hơn con người hay elf. Và chính vì lùn như vậy nên người dwarf mới có trọng tâm thấp.

Những người đấu vật không chuyên thường tưởng đấu vật là dùng lực từ phía trên ấn xuống và ép mạnh đối thủ xuống, cứ như thể đang nghiền nát họ vậy. Nhưng phương pháp chính xác lại là hạ thấp trọng tâm xuống và nhấc đối thủ từ dưới lên. Nếu thấy khó hiểu thì bạn hãy thử tưởng tượng một quả bóng lớn và một quả bóng bé chỉ bằng một nửa nó đang ấn vào nhau. Quả bóng bé sẽ luồn xuống dưới quả bóng lớn và đẩy nó lên. Một khi chân của đối thủ rời khỏi mặt đất, họ sẽ không thể dùng lực được nữa. Hãy trở thành quả bóng bé và dùng lực từ dưới đất để đẩy đối thủ lên trên—đó mới là một trong những cách đúng để chiến thắng một cuộc đấu vật.

Vậy nên lợi thế của người dwarf nằm ở cơ thể lùn và chắc nịch của họ. Chỉ có một vấn đề duy nhất là tầm với của họ hơi ngắn. Vậy thì có lẽ các loại vũ khí có tay cầm dài là phù hợp với họ nhất nhỉ.

“Thưa ngài, thưa ngài.” Có ai đó gọi tôi.

Tôi quay lại và thấy một cô gái chững chạc với mái tóc màu nâu nhạt đã được tết lại. “Anna.”

Anna là một trong những tu sĩ mà Giám mục Bagley đã giao cho tôi. Cô ấy đã luôn giúp tôi trong việc quản lý thành phố, các nghi lễ tôn giáo, cũng như những chuyện tương tự. Dạo gần đây tôi nghe Bee nói rằng giữa cô ấy và Reystov đang nảy sinh chuyện gì đó, nhưng vì không rành khoản đó lắm nên tôi cũng không biết chuyện này có thật hay không.

“Sao vậy?”

“Tôi vừa gặp phải một vấn đề hơi cấp bách.”

“Có chuyện gì vậy?”

“Nghe nói có người đã nhìn thấy undead trong rừng.”

“Undead…”

Dạo gần đây, các rắc rối chủ yếu toàn xoay quanh mãnh thú và quỷ. Cũng lâu rồi tôi mới phải xử lý chuyện gì liên quan đến undead.

Tôi đã nhờ phía đền thờ chuyển tất cả những vấn đề liên quan đến undead gần Rừng Mãnh Thú cho tôi. Tôi có thể giao việc này cho thám hiểm giả, nhưng bọn họ không phải ai cũng có cách đưa người chết trở về vòng luân hồi vĩnh cửu một cách yên bình. Đúng là một vài chiến binh cầm chuỳ có thể đập một con zombie hay skeleton đến mức không thể nhận dạng được nữa, và vấn để có thể coi là đã được giải quyết, nhưng tôi thấy vậy thì dã man quá. Vì đã được nuôi dạy bởi Mary, Blood và Gus nên tôi không khỏi cảm thông với undead, vậy nên tôi đã cố gắng dàn xếp sao cho những vấn đề như thế này sẽ được đích thân tôi, hoặc nếu không thì một trong các tu sĩ, giải quyết.

“A!” Tôi chợt nảy ra một ý tưởng. Đây có lẽ sẽ phù hợp để làm trận chiến đầu tiên của Al đây. Vì phụng sự vị thần của ngọn lửa nên tôi có lợi thế lớn khi đối đầu với undead. Nếu Al mà gặp nguy hiểm thì tôi sẽ có thể dễ giúp cậu ta hơn là nếu bọn tôi đối đầu với mãnh thú.

“Al, tôi sẽ đích thân giải quyết chuyện này. Cậu có muốn đi cùng không?”

Mặt Al rạng rỡ hẳn lên. “R-Rõ! Xin hãy cho phép tôi đi cùng!”

Trong khu rừng đượm mùi của cây cỏ, đất và đầy những tán cây bụi rậm rạp, dấu vết mùa hạ vẫn còn vương vấn đâu đây. Đi qua nơi đây khi tầm nhìn vẫn còn kém đến mức này là một việc hết sức nguy hiểm, kể cả nếu nó đã cải thiện một chút so với hồi giữa hè đi nữa.

Tôi quay lại nhìn Al, người đang đi sau mình. “Tôi nghe nói dwarf có thể nhìn rõ trong bóng tối, nhưng nhớ đừng có quá phụ thuộc vào thị giác của mình đấy.”

“Đ-Được rồi.”

Al đang mặc áo giáp chấm khuy và mũ giáp, trong tay là một chiếc rìu chiến sáng bóng. Sau khi đứng thẳng người và trang bị tử tế như vậy, Al trông khá là bảnh bao, nhưng chủ yếu là vì cậu ta vốn có một thể hình tốt rồi.

“Hãy ôn lại một lần nữa nào,” tôi nói. “Chúng ta đang đi đâu?”

“Gò Cột ở phía tây.”

Những cuộc săn mãnh thú gần đây đã giúp mở rộng khu vực sinh sống cho con người. Những tàn tích mới thường xuyên được phát hiện bởi các thám hiểm giả đi săn thú hoặc những người vào sâu trong rừng để thu lượm hoa quả hay săn bắn. Chỗ chúng tôi đang tới để xử lý undead cũng là một nơi như vậy. Người phát hiện ra nó đã gọi nơi đó là Gò Cột, một ngọn đồi nhỏ với nhiều hàng cột gỗ đã cũ và mục nát.

“Theo báo cáo thì nơi này mới được phát hiện gần đây, nhưng vẫn chưa có cuộc rà soát nào được tổ chức. Có một vài lý do khiến điều đó xảy ra. Một là nơi này nằm rất sâu trong rừng—” Gió thổi qua. Một làn sương màu trắng xám bắt đầu xà xuống xung quanh chúng tôi. “Hai là ở đây sương mù rất dày đặc. Không rõ chuyện này xảy ra là vì địa hình ở đây, một rào chắn phép thuật cổ, hay là do fae hay thứ gì đó sống ở đây gây ra.” Sương mù càng ngày càng dày đặc hơn theo mỗi bước chân của chúng tôi. “Và cuối cùng, vì ở đây có một bầu không khí bất thiêng. Người thợ săn tìm ra nơi này nói anh ta đã nhìn thấy ‘undead’, nhưng…”

Vụ việc có vẻ đã làm anh ta khá sợ hãi, và anh ta chỉ có thể nói được những thông tin mơ hồ—kiểu như một sự hiện diện rợn tóc gáy và cảm giác như có thứ gì đó đang di chuyển trong làn sương mù. Có thể anh ta chỉ đơn thuần tưởng tượng ra như vậy. Hoặc đó có thể là một con mãnh thú hoặc golem lang thang từ trong tàn tích ra.

“Chúng ta không biết liệu thứ gì sẽ xuất hiện,” Tôi nói. “Biết đâu lại chẳng có gì cả. Một bầu không khí thế này có thể khiến chúng ta nhìn thấy những thứ không có thật. Nhưng tốt nhất hãy cứ cảnh giác vào.”

“Rõ!”

Chúng tôi im lặng đi trong làn sương mù thêm một lúc nữa, tìm xem có thứ gì khác thường không. Đột nhiên, tầm nhìn của chúng tôi mở rộng ra. Từ đằng sau tôi, Al khẽ kêu lên một tiếng đầy ngạc nhiên.

“Chà.” Cảnh tượng này khiến tôi không nói nên lời. Vô số chiếc cột gỗ được xếp thành hàng lối trên một ngọn đồi bị sương mù dày đặc bao phủ. Có vẻ như chúng từng được sơn màu đỏ, nhưng giờ sơn đã sắp bong hết đến nơi rồi.

“Trông đáng sợ quá.”

“Phải. Nhưng cũng tráng lệ nữa.” Tôi nhìn làn sương màu trắng xám giữa một rừng cột đỏ đã tróc sơn và mục rữa. Những hàng cột càng về xa càng mờ nhạt đi, cứ như thể đang đung đưa ở đằng xa vậy. Chúng trông như hình bóng vặn vẹo, thanh mảnh của những người khổng lồ đỏ như máu đang im lặng đứng đây vậy, minh chứng cuối cùng của những hoạt động đã từng diễn ra tại nơi này.

Tôi giơ tay ra hiệu, và chúng tôi cùng thận trọng bước về phía trước, dẫm lên nền đất ẩm ướt. Lần này Menel và Reystov không có ở đây. Vụ việc này không nghiêm trọng đến mức tất cả bọn tôi đều phải đi, và chúng tôi cũng phải lo về lời tiên tri của Chúa tể cây Nhựa ruồi nữa, nên tôi để họ ở lại Cảng Ánh Đuốc. Nhưng giờ tôi bắt đầu hơi hối hận về quyết định đó. Menel mới là người phù hợp với mấy việc tìm kiếm như thế này. Vì là bán elf nên cậu ta có giác quan nhạy bén và có thể gọi tinh linh tới giúp, nên cậu ta rất hợp với mấy việc thám thính kiểu này. Dù nói vậy nhưng đằng nào cũng đã lỡ rồi. Tôi chỉ cần tìm cách đối phó với nó là xong.

Trong khi đảo mắt nhìn hai bên, tôi chầm chậm tiến lại gần ngọn đồi. Điều đầu tiên tôi làm là kiểm tra những cây cột. Đúng như tôi nghĩ, chúng được làm từ gỗ. Chúng đã được cắt một cách chính xác thành hình bát giác hoặc lục giác và chôn sâu xuống dưới đất. Không biết màu đỏ có phải là một phần phong tục hay văn hoá của bộ tộc đã biến mất này không. Có lẽ nó là một loại thông điệp tôn giáo hoặc lời cầu nguyện nào đó.

Một làn gió ấm thổi qua làm tôi giật mình. Al thét lên một tiếng ngắn và tái mặt lại.

Tôi nhìn về phía cậu ta chỉ.

Đằng sau một cây cột, có thứ gì đó đang ở đó, nhìn chúng tôi.

Trong khi cầm Trăng Mờ lên một cách sẵn sàng theo phản xạ, tôi nhìn về nơi Al chỉ. Cậu ta đang nhìn một thứ gì đó với khuôn mặt nứt vỡ, làn da nâu đã bắt đầu phân huỷ, hốc mắt trống rỗng và hàm răng lởm khởm…

Đó là—nó trông giống hệt như—

“Đó không phải là zombie,” tôi cười và nói.

“Hở?”

“Nào, cậu nhìn kỹ hơn đi.” Tôi đưa Al lại gần hơn. Đó là một khúc gỗ đã được chạm khắc thành hình người. Hai cái hốc đen ngòm đã được khoan vào hình nhân để làm mắt, và hàm răng của nó được làm từ lông chim. Loại gỗ được dùng chắc cũng cùng loại với những cây cột.

“Có lẽ đây là một người giữ mộ?”

“N-Người giữ mộ?”

“Phải.”

Nếu họ đặt một hình nhân đáng sợ ở đây thì nghĩa là—

“Đây chắc hẳn là một đồi mộ. Một nghĩa trang.”

Tôi nhìn những hàng cột xung quanh. Mỗi một cây cột chắc hẳn đều là một ngôi mộ của một người từng sống ở đây. Một khi bắt đầu nghĩ như vậy, tôi cảm thấy mình đã tìm được câu trả lời cho cái nơi kỳ lạ này.

“Lý do một hình nhân với khuôn mặt đáng sợ đến vậy được đặt ở đây chắc hẳn là để doạ những kẻ trộm mộ.”

Chắc hẳn sẽ có người nghĩ, “Chỉ là một hình nộm thôi mà, có gì đâu?” nhưng cũng giống như những con búp bê Nhật Bản ở thế giới cũ của tôi, những thứ hình người làm ta cảm giác có linh hồn ai đó đang sống ở trong đó khá là đáng sợ đấy. Chúng chắc hẳn sẽ còn đáng sợ hơn nữa đối với những ai đến đây trộm mộ trong khi vẫn còn cắn rứt lương tâm. Chúng có lẽ sẽ không doạ được những người vô lương tâm, nhưng chỉ cần nó đuổi được những ai còn do dự là cũng được rồi. Cũng giống như những camera giả ở thế giới cũ của tôi vậy.

“Có lẽ làn sương này cũng là một loại rào chắn phép thuật, hoặc là một thoả thuận nào đó với một fae sinh sống ở đây.” Những người trong quá khứ chắc hẳn đã dàn xếp sao cho những người thân yêu đã ra đi trước họ có thể thanh thản yên nghỉ. “Tôi nghĩ nơi này đã được xây dựng qua nhiều thế hệ, với bao nhiêu nỗ lực và cảm xúc, tâm huyết được đổ vào đây.”

Tôi nhẹ nhàng đặt ngọn giáo xuống và quỳ xuống. Rồi tôi chắp hai tay lại và cầu nguyện.

Chúng tôi không đến đây để làm phiên nơi chôn cất của các bạn. Xin hãy cứ tiếp tục yên nghỉ.

Sau khi cầu nguyện một lúc, tôi mở mắt và thấy Al cũng đang làm giống tôi.

“Ưm… nhưng vậy thì…”

“Hửm?”

“Nhưng vậy thì undead ở đâu?”

“Sau khi biết nơi này là một nghĩa trang, tôi bắt đầu nghĩ có khả năng là họ đã nhìn nhầm mà thôi.”

“Hở? Nhưng tôi tưởng là undead sẽ dễ xuất hiện ở trong nghĩa trang hơn chứ…”

Những lời Al nói làm tôi bối rối. Tôi nghiêng đầu hỏi. “Tại sao? Họ đều đã được kính cẩn tiễn đi yên nghỉ rồi mà.”

Các ngôi mộ thường chứa những cái xác đã được truy điệu tử tế theo đúng cách. Trông vậy thôi, chứ thật ra rất hiếm khi những ngôi mộ tạo ra undead.

“Chỉ khi có ai bị giết và giấu xác đi, hoặc khi một xác chết bị để ở ngoài không được chôn cất, lúc đó họ mới có khả năng được nhận sự bảo hộ của thần undeath.” Tôi ngừng một lúc, rồi khẽ nói thêm, “Ông ta cũng là một vị thần nhân hậu theo cách của riêng mình.”

“Thần undeath… nhân hậu sao?”

“Phải. Rất nhân hậu.” Tôi nhún vai.

Dù tôi đã từng làm kẻ thù và đánh nhau với ông ta, tôi vẫn phải công nhận rằng: thần undeath, Stagnate, rất nhân hậu. Chỉ có điều tôi và có lẽ đa số mọi người đều không thể chấp nhận cái mà vị thần đó coi là lòng nhân hậu, chính vì vậy nên chúng ta mới gọi ông ấy là ác thần. Nhưng theo tôi, cái mác ác thần đó vẫn không thể phủ nhận rằng ông ấy là một vị thần nhân hậu.

“Con người phải chịu những cái chết bất hạnh, khốn khổ đến không tưởng. Stagnate, thần undeath, không thể chịu được việc đó. Vậy nên cũng giống như mùa màng và thiên nhiên thay đổi nhờ sự bảo hộ của thần fae, thần undeath ban cho mọi sinh vật đã chết quyền được lật đổ bi kịch đã xảy đến với mình bằng cách trở thành undead và đứng dậy một lần nữa.”

“Ưm—”

“Phải, tôi biết cậu định nói gì. Sẽ chẳng mấy ai vui lòng trước chuyện đó. Trên thực tế, một phước lành như vậy sẽ vô cùng phiền toái.” Tôi nhún vai. “Đối với người sống, chắc hẳn sẽ chẳng có ai vui vẻ gì khi thấy cha mẹ đã mất của họ đội mồ sống dậy để ôm một lần cuối. Còn đối với người chết, những nỗi luyến tiếc ngay trước khi chết thường sẽ được khắc ghi vào đầu họ. Lúc đó họ sẽ chẳng còn tự chủ được nữa, mà sẽ trở nên mất kiểm soát. Chỉ có một số rất ít người mới có thể trở thành undead biết suy nghĩ. Chỉ những người với ý chí và linh hồn mạnh mẽ mới có thể làm vậy.”

Nhưng dù vậy—

“Nhưng dù vậy, thực tế vẫn là thần undeath đã ban đi một phước lành, chứ không phải là một lời nguyền. Từ sâu thẳm trong tim, ông ta muốn nói với họ rằng họ không cần phải kết thúc cuộc đời mình một cách thất vọng và khích lệ họ chống lại cái chết bằng vầng hào quang của linh hồn mình.”

“Ưm…” Al trông như thể rất muốn nói điều gì. “Chủ nhân Will, ừm, cậu biết nhiều về Stagnate thật đấy. Không lẽ cậu đã…”

Úi chết.

“Cậu đã gặp Echo của—không, mình đang nói gì thế này. Chuyện đó đâu thể xảy ra được, dù có là cậu đi nữa. Cậu đã gặp một Sứ giả của Stagnate hay gì à?”

“…”

“Sao cậu lại nhìn đi chỗ khác thế?!”

“Chẳng vì lý do gì cả, tôi chỉ, ờm, tôi chỉ… Hahaha…”

“Đừng có cười!”

“Hahaha…”

Sau đó, chúng tôi có đi tìm kiếm quanh ngọn đồi một lúc, nhưng đúng như dự đoán, chúng tôi không tìm thấy thứ gì khả nghi cả.

“Ừ, có vẻ như họ chỉ tưởng tượng ra mà thôi.”

“V-Vậy đây chỉ là báo động giả thôi à…”

Tôi cười thông cảm. “Thỉnh thoảng chuyện đó cũng xảy ra mà.”

Al đã chuẩn bị tinh thần cho trận chiến đầu tiên của mình, vậy như tất cả lại chỉ là báo động giả. Hai vai Al trùng xuống, mặt lộ rõ vẻ thất vọng và không hài lòng. “A—n-nhưng người thợ săn đã nói anh ta cảm thấy một luồng năng lượng bất thiêng có phải không?!”

“’Luồng năng lượng’ là một khái niệm rất mơ hồ. Với một bầu không khí như thế này, nếu ta mà nghĩ mình nhìn thấy undead ở đây, thì ta cũng sẽ nghĩ mình cảm nhận được một luồng năng lượng nào đó, có phải không?”

“Có lẽ vậy…”

Dù nói vậy nhưng điều Al nói cũng có lý đó. Cái ‘luồng năng lượng’ đó là điều vẫn còn đang làm tôi băn khoăn. Nếu đúng là người thợ săn đó đã nhìn nhầm thì chúng tôi chỉ việc quay về và báo cáo là ở đây không có vấn đề gì. Nhưng nếu chúng tôi mà báo cáo như vậy để rồi sau này có người thiệt mạng ở đây thì sẽ rất tệ. Trong khi nghĩ như vậy, tôi lại một lần nữa đi một vòng kiểm tra quanh ngọn đồi.

“Hửm?” Qua màn sương, dưới chỗ bụi cây và tán lá ở dưới chân đồi, tôi có cảm giác mình nhìn thấy thứ gì ở đó. “Al, hướng này.” Vượt qua những bụi cây rậm rạp, tôi bước đến đó.

Ẩn dưới làn cây phía dưới chân đồi là một cánh cửa cũ nát.

“Đây là lối vào trong đồi sao?”

Xét theo kích cỡ quả đồi thì trong này chắc hẳn cũng không rộng lắm. Tôi cảnh giác nhìn cánh cửa. Có khả năng một phép thuật hay cạm bẫy nào đó đã được đặt ở đây để đối phó với những kẻ trộm mộ, nhưng tôi vẫn cần phải kiểm tra. Tôi thầm xin lỗi những người đã được chôn cất ở đây.

“Ta kiểm tra chỗ này nữa đi.”

“Được.”

Tôi nghe ngóng cẩn thận và thận trọng đặt một tay lên cánh cửa. Nó được xây dựng một cách rất đơn giản, thậm chí còn không có khoá. Và dù đã nhiều năm trôi qua nhưng cánh cửa vẫn chỉ hơi hé mở mà thôi.

Lumen.” Tôi đổ mana vào Ký Tự khắc trên ngọn giáo ưa thích của mình, Trăng Mờ, giúp tạo nên một nguồn sáng phép thuật. “Được. Tốt rồi. Và… Flammo Ignis.” Tôi cũng dùng Từ Ngữ để thắp sáng ngọn đuốc mà tôi đã cầm theo. “Al, cậu cầm cái này đi.”

“Rõ. Nhưng tại sao lại cần hai loại nguồn sáng vậy?”

“Nếu cậu là một undead có trí thông minh có thể nhìn trong bóng tôi và cậu muốn tận dụng điều đó để phục kích một người không thể nhìn trong bóng tối, thì cậu sẽ làm vậy kiểu gì?”

Im lặng một lúc.

“Cậu hiểu được như vậy là tốt rồi.”

Ánh sáng phép thuật không thể bị nước dập tắt, và ngược lại cũng vậy, Từ Ngữ Hoá Giải có thể dập tắt một nguồn sáng phép thuật nhưng không thể dập được một ngọn lửa đang cháy. Dùng cả hai loại nguồn sáng như vậy giúp chúng khó bị dập tắt cùng một lúc. Đây là một trong những điều căn bản khi đi thám hiểm.

Sau khi chuẩn bị nguồn sáng và kiểm tra lại trang bị một lượt, chúng tôi thận trọng bước qua quãng đường đất ẩm ướt, cảnh giác trước mọi dấu hiệu sụp hang. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã đến lăng mộ nằm sâu trong ngọn đồi. Ngay lúc đó, một luồng năng lượng bất thiêng dày đặc đến không tưởng ập vào người tôi.

Al sợ hãi thét lên một tiếng. Tôi cứng người lại, tóc gáy dựng lên.

Không. Không, không ổn rồi.

Đây không phải là một undead tự sinh ra như bình thường—

“Chào mừng đến với ngôi nhà tạm bợ của ta.”

Một giọng nói vang vọng trong bóng tối. Tôi ngay lập tức thấy sống lưng lạnh buốt. Luồng năng lượng dày đặc, mạnh mẽ đến mức làm ta như muốn buông vũ khí xuống này—tôi đã từng cảm thấy nó rồi. Al đang run bần bật, hai tay vẫn nắm chặt lấy tay cầm của chiếc rìu chiến.

“Đã được hai năm rồi nhỉ, chiến binh của ngọn lửa?”

Bên trong góc tối phía sâu trong lăng mộ, một đôi mắt đỏ sáng lên. Ông ta đang cười. Tôi có thể cảm nhận được điều đó từ đôi mắt đang nheo lại đấy.


Xin chào! Đây là website chính thức của nhóm dịch truyện ValvrareTeam. Mấy đứa cùng sở thích cùng làm với nhau thôi. Light Novel trên đây được chúng tôi dịch hoàn toàn miễn phí ra phiên bản tiếng việt, tuy nhiên chúng tôi không khuyến khích các bạn sao chép lên website khác. Cảm ơn vì đã quan tâm."
© 2017 ValvrareTeam. Mã nguồn sử dụng Wordpress. Máy chủ sử dụng Vultr
Made with in Novel