Tập 4 – Chương 1: Ảnh Hưởng Ác Tính

Tập 4 – Chương 1: Ảnh Hưởng Ác Tính
5 (100%) 2 votes

Chương Một: Ảnh Hưởng Ác Tính

Angela Jindel vốn luôn thèm khát điều gì đó.

Sinh ra là con gái của một gia đình quý tộc hùng mạnh, được phú cho cả ngoại hình và tài trí, cô đã trở nên quen thuộc với việc giỏi hơn những người xung quanh từ tuổi rất trẻ. Quả thực, mọi người xung quanh cô nhận ra điều ấy—thậm chí còn tìm cách để cô lên trước mình.

Mẹ Angela, tuy là phụ nữ, đã bỏ qua các anh em yếu kém hơn của mình để tiếp quản cương vị trụ cột của nhà Jindel. Bà thường có vẻ coi khinh cả chính chồng mình, người mang cái tên Jindel. Cha Angela không bao giờ phản đối điều này; ông là một nô lệ thì đúng hơn là chồng của bà ấy. Trong giới quý tộc, nơi mà thường thì đàn ông được đánh giá và tôn trọng hơn phụ nữ, điều này rất bất thường—nhưng mẹ Angela được tạo ra từ sự nghiêm nghị đủ cứng rắn để khiến nó có thể.

Với những thân sinh như vậy, một cách tự nhiên Angela lớn lên thành một người phụ nữ có tài không để bất kì đàn ông nào vượt mặt, và các thành tựu của cô cũng cho thấy thế.

Vốn dĩ cô gia nhập Lệnh Truyền Giáo của Giáo Hội Chân Chính Harris để củng cố danh tiếng của mình. Cô phải thể hiện rằng mình không chỉ thông minh hơn đám đàn ông xung quanh; cả về mặt chiến sự cô cũng có thể đánh bại họ. Do đó, Angela đã học võ thuật từ khi còn nhỏ, và một khi gia nhập Lệnh, cô chưa bao giờ tỏ ra sợ hãi chiến trận, bất kể là các bộ lạc man rợ hay thổ thần, á thần, ngoại thú.

Song mặt trái của tất cả những điều này là bên trong Angela luôn có một cơn khát thường trực. Thứ gì đó bị thiếu. Không thỏa mãn. Sự thật rằng cô không biết nó là gì chỉ càng làm gia tăng mối lo âu của cô về nó.

Cô tin rằng khi sau cùng luận ra được thứ đó là gì, nó sẽ thành ra rất đơn giản, một lực thẳng thừng dấy lên từ trong tâm, thẳng tắp một cách chính xác bởi nó quá rõ ràng.

Nhưng nếu cứ tiếp tục như đang làm, cô sẽ chẳng bao giờ tìm thấy nó. Nhiêu đó, cô biết. Nên Angela đã ném mình vào những trọng trách của Giáo Hội như để quên đi khao khát trong tâm mình. Cô ghi nhớ những dòng kinh thánh và tuyên bố chúng tuyệt vời đến thế nào cho những ai lắng nghe. Mọi người xung quanh chẳng thể làm gì ngoài kinh ngạc trước lòng tận tụy cháy bỏng của cô.

Trong quá trình đó, cô vượt qua mọi lũ đàn ông khờ khạo; chỉ trong nháy mắt, cô là một phó chỉ huy. Dĩ nhiên, việc cô xuất thân từ một gia đình danh giá như Jindel có giúp, nhưng có thể đạt được vị trí ở độ tuổi trẻ như đôi mươi là nhờ vào chính năng lực và nỗ lực điên cuồng của cô.

Tuy nhiên, khi mở mắt, cô lại ở trong căn phòng tối. Trang trí có thể được miêu tả một cách rộng lượng là tối giản; tất cả cô thấy được là những bức tường trần trụi. Căn phòng ẩm ướt và thoảng mùi đất xốp. Cô đoán chừng mình đang ở đâu đó dưới lòng đất.

Cô chớp đôi mắt hình hạnh nhân như miêu và thở dài.

Trước tiên, cô nên nắm bắt tình trạng thể chất của mình. Cô cử động tay, cảm nhận khuôn mặt rồi cơ thể. Dĩ nhiên, điều này không phải là để chắc rằng cô không bị thương. Là để kiểm tra rằng đây không phải là một giấc mơ xấu—mà thực tế, là thực tại lạnh lẽo, khắc nghiệt, tàn nhẫn. Cô chẳng biết bao nhiêu ngày đã trôi qua kể từ khi bị nhốt ở đây, nhưng điều này đã trở thành nghi lễ mỗi lần cô thức giấc.

Cơn đau vô tri của những cú đánh còn đây đó trên cơ thể, và nỗi đau xót qua một vết cắt trên cánh tay phải, dù vết thương thì nông. Cô không bị xích tay, nhưng giáp đã bị tước mất. Có lẽ chúng cho là có vũ khí giấu đâu đó trong nó. Thay vào đó cô được cho một cái váy một mảnh độc một màu, chỉ là một miếng vải với cái lỗ để chui đầu. Nó có vài chỗ buộc bằng dây. Cơ bản là vải vụn. Nếu di chuyển một cách bất cẩn, ngực và đằng sau có nguy cơ lộ ra hết.

Có lẽ là bởi dưới lòng đất, căn phòng trông ấm hơn vẻ bề ngoài, và cô đã được cho một cái chăn, dẫu rách rưới, nên không sợ bị chết cóng. Những người duy nhất đến gần phòng cô là nữ lính đánh thuê và cô gái tới để đưa những bữa ăn và làm rỗng bình phòng, nên Angela không phải lo bị đàn ông nhìn thấy, nhưng điều đó không thay đổi sự thật rằng cô bẽ mặt.

Đây hoàn toàn là một cách bình thường để đối đãi với lính từ đoàn quân bại trận.

“Hự…”

Friedland là một thị trấn biên giới nhỏ. Và ấy là nơi mà hồ sơ chói lọi của Angela bị vấy bẩn lần đầu tiên trong đời. Lữ Đoàn Truyền Giáo Thứ Chín, nơi cô thuộc về, vốn đang dở một cuộc viễn chinh khai hóa. Giáo Hội Chân Chính Harris vĩ đại và mạnh mẽ—nhưng ngay cả thanh danh của Giáo Hội cũng không vươn xa thủ đô đến thế này; khu vực này vẫn là nhà của những kẻ mọi rợ tin vào giáo phái địa phương thờ phụng những linh hồn ác quỷ.

Cụ thể là, giáo phái thổ thần.

Những “vị thần” tự xưng này ăn thịt người. Đó là cách chúng bồi đắp sức mạnh, trả lại một phần sức mạnh ấy về đất. Điều đó khiến cho đất đai màu mỡ, cho phép con người sống ở những khu vực mà thường không có đủ tài nguyên để mà ở được. Dĩ nhiên, những con quái vật mang tên thổ thần không cải thiện đất đai vì lợi ích của mọi người. Ấy chỉ là một cách để đảm bảo nguồn cung cấp vật tế sống ổn định.

Nói vắn tắt—và cô cảm thấy bẩn thỉu cả khi nghĩ đến điều này—những con thú ấy chăn con người như vật nuôi.

Thật kinh tởm. Loại người nào lại đi bằng lòng bị đối xử theo cách đó, cho dù là vì chính sự sinh tồn của mình?

Các hiệp sĩ vinh quang và danh giá của Giáo Hội Chân Chính Harris đã được phái đi để lan truyền những giáo lí quý giá của Giáo Hội tới những kẻ bám víu lấy những đức tin kinh khủng như thế. Chính họ mới là những người mang tới giáo lí thực sự, và chính Lệnh Truyền Giáo đã tổ chức và quân sự hóa họ.

Angela đã tới thị trấn biên giới Friedland với tư cách phó chỉ huy của Lữ Đoàn Truyền Giáo Thứ Chín, cùng với các thuộc cấp của mình. Sứ mạng linh thiêng vốn dĩ là thông báo ý chí của Chúa tới nơi mà những đức tin quỷ dị đã cắm rễ này.

Cô đã không hề cảm thấy lo sợ. Chiến thuật của cô đã bao gồm không chỉ một mà hai tượng thánh bảo hộ, vũ khí tối thượng của các nhà truyền giáo, có thể tiêu diệt một thổ thần chỉ bằng một cú vẩy. Khả năng thất bại là không. Hoặc lẽ ra là thế.

Nhưng Angela và lực lượng của cô, thực ra, đã thua. Những bức tượng đã bị phá hủy còn người đi theo thì tan tác, và cô, chỉ huy của họ, bị bắt giữ và cầm tù.

Cô không chắc bao nhiêu ngày đã trôi qua từ lúc đó. Những vết thương đã làm cô phát sốt lên khiến mấy ngày đầu sau khi bị bắt thật mơ hồ, và bởi chẳng có ánh sáng nào lọt được vào căn hầm này, cô không biết khi nào là ngày hay đêm. Có một cánh cửa sổ cỡ lòng bàn tay trên cửa, nhưng chỉ một ánh đèn mập mờ rọi qua nó. Cô chỉ có thể xét đoán sự trôi qua của ngày bằng những lần bữa ăn được chuyển tới.

“Thế này là tệ nhất rồi,” cô lẩm bẩm không cụ thể với ai cả.

Sinh ra là con gái của quý tộc, được ca tụng và bàn tán vì tài năng cá nhân, trở thành hiệp sĩ của Giáo Hội Chân Chính Harris—chẳng hề có vết nhơ hay thất bại ở bất cứ đâu trong cuộc đời cô. Mọi thứ vốn dĩ đều lí tưởng, chính xác như cô đã mường tượng.

Vậy mà giờ cô phải hứng chịu sự đối xử nhục nhã này.

Những vết thương đã được chăm sóc, và chúng mang đồ ăn cho cô. Chẳng có điều gì ép chúng phải đối đãi với một kẻ thù, một người lính đơn thuần bại trận, theo cách đó. Theo một cách nhìn khác, có thể là người Friedland đang giữ cô sống bởi chúng cảm nhận được lợi ích gì đó trong việc làm vậy. Dù Angela có thích hay không, cô cũng sẽ bị sử dụng bởi kẻ địch.

Chỉ nghĩ đến thôi cũng khiến cô muốn ói mửa. Thật là một cách lăng mạ hèn hạ. Và tất cả là tại…

“Tên đó…!” Cô có thể thấy khuôn mặt hắn trong tâm trí. Một chàng trai tóc trắng. Lí do mà Angela ở vào tình cảnh này. “Bluesteel Blasphemer…!”

Hắn là một con quỷ đội lốt người. Hắn đã một tay phá hủy tượng thánh bảo hộ và mang đến thất bại cho đơn vị của Angela. Dĩ nhiên, hắn có sự trợ giúp từ người Friedland và nữ lính đánh thuê, nhưng ấy chỉ là những suy xét thứ yếu so với sức mạnh mà người đàn ông đã thể hiện.

Hắn đã đánh bại bức tượng, thứ tiêu diệt các vị thần.

Cô không thể lay chuyển hình ảnh về hắn. Nó không chịu đi. Cô hiểu rằng mình sợ hắn ở mức độ sâu thẳm nhất của tâm can, và đó là điều kinh khủng nhất. Dưới ánh sáng chói chang của những giáo lí của Giáo Hội Chân Chính Harris, điều duy nhất tín đồ nên sợ là Chúa trên cao.

“Hự…”

Một cơn rùng mình lướt qua, năng lượng bồn chồn không có nơi để chứa. Đồng thời, Angela phát hiện tiếng bước chân lại gần căn ngục của mình.

Cô nhìn ngơ ngác về phía cửa. Mới đầu cô còn tưởng là đến bữa, hoặc là thay bình phòng, nhưng đây không phải là những tiếng bước chân thân quen. Có nhiều hơn so với bình thường. Ba người, có lẽ. Và một người có bước dài. Một người cao.

Và rồi…

“Ngươi?!”

Cách cửa nặng mở ra để lộ hình bóng Angela đã hình dung quá đỗi nhiều lần. Bluesteel Blasphemer.

Hắn gầy và cao, thực là mạnh mẽ, không hề có dấu hiệu yếu đuối mặc cho dáng hình gầy còm. Đường nét cân đối và trẻ trung, vậy mà hắn lại có mái tóc bạc như ông già và đôi ngươi màu đỏ máu—thế nào đó, điều ấy khiến cô nghĩ tới Tử Thần.

Tên hắn, nếu cô nhớ chính xác, là Yukinari Amano.

Đây là lần đầu tiên cô gặp hắn kể từ khi bị bỏ tù.

“Angela Jindel, phải không?” Yukinari hơi nghiêng đầu nói. Điệu bộ trông có vẻ giễu cợt đối với Angela, hờ hững, và điều đó khiến cô nản lòng. Điều đó cho thấy rằng hắn biết mình đang ở một vị thế mạnh hơn nhiều so với cô và đang định nhắc nhở cô về điều ấy. Nó khiến cô phát tởm, đến mức cô bắt đầu rúng động.

Chẳng có cách nào để khiến khuôn mặt dễ thương đó méo mó vì đau đớn và nhục nhã sao? Cảm giác ấy thật tuyệt. Cô đã làm nó với bất cứ tên đàn ông nào cô gặp từng xem nhẹ cô bởi cô là phụ nữ, nhưng ngay lúc này, Angela có rất ít lựa chọn.

“Trông có vẻ thương tích của cô đỡ nhiều rồi,” Yukinari nói, hướng mắt vào tay phải cô. “Chúng ta có thể ngồi xuống và nói chuyện vào một ngày gần đây được không?”

“Hứm,” cô nói. “Ta không có nghĩa vụ phải đàm phán với những kẻ mọi rợ.” Cô không hiểu cơn rúng rẩy tới từ tận sâu trong mình, nhưng khi nói cô đã kìm nèn nó lại bằng ý thức. Cô cẩn thận ra vẻ móc mỉa trong giọng nói và cười rõ rệt. “Thả ta ra. Ngay lập tức!”

“Seeesh,” Yukinari thở dài chán nản nói.

Rồi một giọng từ đằng sau cậu. “Anh biết là sẽ thế này mà. Cứ tra tấn ả đi cho rồi.” Là nữ lính đánh thuê đứng canh Angela. Cô ta có tóc đỏ và vẻ nham hiểm. Cô ta tương đối cao xét là phụ nữ, gần bằng Yukinari. Những cử chỉ nhỏ nhặt, cách cô ta mang thân, cho thấy một cơ thể được rèn luyện tốt. Nhưng không như các hiệp sĩ của Lệnh Truyền Giáo, cách cư xử của cô ta không thanh nhã. Thô lô, nếu phải nói. Cô ta là một kẻ đáng khinh chiến đấu không phải vì đức tin mà vì tiền.

Ngay cả vậy, lần lần cô ta lại làm điều gì đó có chứa đựng nét quý tộc, và Angela thấy nó thật khó hiểu. Hoặc có lẽ cô ta từng là một cựu quý tộc đã sa ngã khỏi danh dự. Tên cô ta là… Veronika, nhỉ?

“Tra tấn cô ta, hử?” Yukinari nói. “Không phải việc của tôi.”

“Sao mà ngươi có thể tỏ ra trịch thượng như thế?” Angela hỏi, lườm cậu. “Ngươi là Bluesteel Blasphemer, kẻ sát nhân độc ác.”

Cô biết Yukinari là ai và cái gì. Hắn thực chất là một sinh vật được gọi là thiên thần. Chúng là những thực thể tâm linh được triệu hồi tới thế giới này bởi Giáo Hội Chân Chính Harris để chứng minh sức mạnh thần diệu của Giáo Hội và công bố lí tưởng của Giáo Hội tới toàn thế giới. Nói cách khác, tương tự như Lệnh Truyền Giáo.

Tuy nhiên, tên đàn ông này, đã bỏ mặc thiên chức cao cả ấy. Thậm chí đã phản bội Giáo Hội Harris, sát hại hằng hà sa số các tín đồ. Chi tiết không được công khai, nhưng đồn rằng cái chết của Dominus Doctrinae tiền nhiệm được cho là do tên Yukinari—Bluesteel Blasphemer—này cũng như sự thay đổi đột ngột đối với cấu trúc chỉ huy của Lệnh Truyền Giáo.

“Ngươi là một tên phản bội, một kẻ bội giáo quay lưng lại với Giáo Hội Chân Chính Harris dù được triệu hồi tới thế giới này với tư cách thiên thần. Vậy ra có vẻ sự thật là đến cả nghi lễ thần thánh cũng có thể gặp thất bại khi có bẩn thỉu xen lẫn vào nó. Đáng thương thực sự.”

“Bẩn thỉu…?” Yukinari nhăn mày.

Angela có vẻ tận hưởng phản ứng của cậu. “Thử nghĩ xem, sau khi Đức Thánh Cha, bằng lòng nhân từ của ngài, đã để ả ta giúp trong nghi lễ triệu hồi một trong những thiên thần cao quý như thế.”

“Cô đang nói gì vậy?”

“Ngươi biết mà,” Angela nói, nụ cười trên mặt. “Phủ thủy. Ả đã có mặt tại nghi lễ nhận xác thịt của ngươi.”

Yukinari im lặng một hồi. “Cô đang nói về Jirina?”

“Đúng! Đúng rồi, tên ả phải không? Đức Thánh Cha bệ vệ, cựu Dominus Doctrinae, chỉ mắc một sai lầm thôi, và đó là thể hiện cảm xúc với con ả công nhân ma thuật đáng khinh đó.”

“Jirina là một nhà giả kim. Chị ấy không có giúp hay chứng kiến gì cả…”

“Đúng rồi, ta biết mà. Khả năng cao là, Đức Thánh Cha đã hy vọng rằng việc tham gia vào nghi lễ linh thiêng sẽ mở đôi mắt mù quáng của Jirina. Vậy mà dù được trao cho cơ hội vô giá để thấy được sự thật đó, con ả phủ thủy lại báng bổ nghi lễ, bày mưu tự mình làm ra thiên thần cơ! Thật là khó khăn biết mấy để cứu người ra khỏi sự dốt nát, hèn hạ như thế—”

“Im đi.”

“Ta tin là rút cục ả đã bị kiếm đâm vào bụng chết, phải không ta? Bản thân cựu chỉ huy của Lệnh Truyền Giáo là một người từ bi đấy, khi mà để ả có một kết cục dễ dàng như vậy. Một mụ phù thủy kinh tởm như ả ta, một kẻ phản bội và bội giáo, lẽ ra phải bị lôi đi rồi xẻ ra cho lợn ăn mới đúng—thiêu sống luôn—!”

“Ta bảo ngươi, im mồm.”

“Những sinh vật như thế vốn dĩ là thô tục và dâm dục rồi. Lẽ ra họ phải xích ả vào căn nhà thổ bẩn thỉu nhất, bắt ả phục vụ như nô lệ để ít nhất ả hiểu được sự sâu sắc cho tội lỗi của mình, và sau cùng—”

Có một tiếng chấn động khô khốc, và tầm nhìn của Angela rung lắc dữ dội. Chỉ một khắc sau cơn đau mới bắt đầu lan chầm chậm qua má trái cô, và cô nhận ra Yukinari vừa tát mình.

Cậu đã làm nó trong cơn bồng bột nhất thời; bản thân Yukinari đang nhìn tay mình vẻ ngạc nhiên. Angela cũng bị chấn động gần như cậu.

“T-Thấy không?” cô ta nói. “Mọi rợ! Hãy nhìn sự thô bỉ mà ả phù thủy đó đã làm với một thiên thần đi! Thật tội đồ, một người phụ nữ đê hèn biết mấy! Thật là sai lầm về phía của Đức Thánh Cha, để mà đến gần một con đàn bà chỉ vừa khít với việc để lũ đàn ông chui rúc vào giữa hai cẳng!”

Yukinari nhìn Angela la lối, không nói gì cả.

Tiếng méo mó rít lên giữa môi Angela khi cô thấy biểu hiện biến mất khỏi mặt Yukinari. Lần đầu tiên, cô nhận ra là có thể trông thấy khoảnh khắc khi mà ai đó nổi lửa giận trắng toát. Hoặc có lẽ chỉ là đối với Yukinari thì rõ ràng hơn.

Bluesteel Blasphemer. Người đàn ông có thể một tay chế ngự tượng thánh bảo hộ. Người đàn ông có thể giết những vị thần.

Angela thấy mình như loài động vật nhỏ bé trước một con thú săn mồi; cô cảm nhận sự khiếp đảm theo bản năng của một sinh vật sống đối mặt với một kẻ địch mạnh không tưởng.

Cô không thể thắng. Cô chẳng có hy vọng gì đánh bại một thứ như thế này.

Cô đã, tất nhiên, tích lũy nhiều kinh nghiệm đối đầu với đa dạng đối thủ trong cuộc nghiên cứu võ thuật của mình, và đã có những lần cô không đủ sức để dành chiến thắng. Nhưng ngay cả vậy, cô đã ít nhiều có thể đo lường sức mạnh của đối thủ và đôi khi nghĩ ra được một cách thông minh để thắng. Có thể có sự khác biệt giữa nam và nữ, nhưng con người là con người. Sự khác biệt về sức mạnh không phải tuyệt đối; chúng là những khoảng cách có thể được vượt qua.

Nhưng thứ này, người này, hắn khác. Hoàn toàn khác biệt. Cô chẳng có nổi ý niệm mơ hồ về điều mình có thể làm với hắn. Sự khác biệt về sức mạnh giữa đôi bên đơn giản là một trời một vực. Tìm một sơ hở trong bộ giáp hay nảy ra vài mẹo thông minh vặt vãnh chẳng giúp ích gì cho cô cả. Cô như một con ruồi đối mặt với chó. Hy vọng để lật bàn, để chiến thắng bước ra là con số không tròn trĩnh.

Angela bắt đầu run rẩy trước nỗi sợ thuần túy.

“Nếu ngươi đã sẵn lòng nói thế,” Yukinari nói, và nghe cậu cực kì hờ hững. “Thì ta cho là ngươi đã sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ với số phận tương tự rồi nhỉ?”

Cậu vươn tay ra và nắm lấy cổ cô.

Đây là bàn tay của một thiên thần, bàn tay có thể thực hiện phép màu. Nếu muốn, Yukinari có thể phun lửa từ lòng bàn tay hoặc tạo ra một lưỡi đao từ không khí mỏng. Có lẽ cũng có thể cậu đang dí một con dao găm vào họng cô.

Angela nặng nhọc nuốt nước miếng. Một trực cảm không quen thuộc tới từ sâu thẳm bên trong, khiến cho mọi lông tóc trên người cô dựng đứng một loạt. Số phận tương tự? Nói cách khác, hắn định làm mọi điều cô vừa gợi ý nên làm với Jirina?

Xé bỏ miếng vải rách (vừa đủ) che thân của cô. Đánh, đá, khiến cô bò dưới đất. Rồi hắn sẽ tóm chân cô và—

“V-Vậy là ngươi định hiếp ta?!” cô la lên. Cậu không đáp. “Đ-Đúng là chẳng thể mong đợi gì hơn từ một c-con thú như ngươi mà! Ngươi là đồ rác rưởi, bị con phủ thủy đó làm cho bại hoại, nên b-biết thân b-biết phận của mình đi!”

Yukinari tuyệt đối không hé răng. Cậu chỉ lườm cô, mắt đỏ như máu.

Cậu nổi giận. Đúng. Phát điên lên. Cô cần hắn phải giận hơn nữa. Giận đến mức quên đi chính mình. Xong rồi… Sao? Chuyện gì sẽ xảy ra?

“Trong lũ thường dân có một từ dành cho ngươi đấy—mọi rợ!” Angela, vẫn run rẩy, cố phun ra mọi lời sỉ vả có thể nghĩ được.

Đột nhiên cô có cảm giác điều chưa được lấp đầy trong mình sẽ sớm được thỏa mãn. Đây. Chính là đây. Thứ như một vị thần—không, mạnh hơn cả thần—sẽ đè bẹp cô bằng bạo lực áp đảo, ép cô phải quy phục nó…

“Đủ rồi.”

Veronika là người xen vào. Nhưng cô ấy đang nói với ai cơ chứ?

Người lính đánh thuê một tay Angela một tay Yukinari. Yukinari thả cổ Angela ra với vẻ ngạc nhiên sốt sắng.

“Tôi biết ả khiêu khích anh. Nhưng anh đang nghĩ cái gì cơ chứ, Yukinari?”

“…Cô nói đúng. Tôi xin lỗi.” Cậu thở dài thườn thượt.

Từ từ cậu lấy lại sự điềm tĩnh của mình, cơn thịnh nộ mù quáng chiếm giữ cậu mới lúc trước tháo cạn đi. Angela nhìn nó đi mất với sự thất vọng không thể giải thích được.

Khi Yukinari trở lại phòng khách, cậu quăng mình vào ghế sô-pha. Cậu đưa tay lên mặt và thở ra một hơi dài.

“Yuki…?” Cô gái ngồi kế bên cậu thắc mắc hỏi. Cô nàng nghiêng đầu nhìn cậu, khiến cho mái tóc đơn sơ, dài không chấm vai màu bạc rung rinh. Cô xinh xắn; điều đó chẳng có gì để thắc mắc cả. Nhưng mà…

“Có… chuyện gì xảy ra sao…?”

Da cô trắng như tuyết mới chớm, mắt xanh như thạch lam, và cộng với cách nói chuyện có phần ngập ngừng, trông cô như thể một con búp bê vậy; cô tỏa ra một hào quanh hơi cứng nhắc, lạnh lẽo. Như một công trình nghệ thuật tinh tế rất gần với sự sống. Cặp kính của cô, công cụ hỗ trợ thị lực bằng kính và thép không gỉ chia đôi khuôn mặt, càng làm tăng vẻ ấn tượng.

Cô gái này cũng có phần thiếu những biểu cảm. Qua cử chỉ và lời nói có thể đoán là cô lo cho Yukinari, nhưng chất giọng và khuôn mặt hầu như không dao động. Hành động của cô là của một con người, nhưng chúng lại thiếu đi một vài yếu tố người trong đó; cứ như là cô nàng chỉ đang giả vờ làm người vậy.

Dasa Urban. Cộng sự của Yukinari, và em gái của người mà cậu mắc nợ cả đời.

“Ồ… Không… Không có gì đâu.” Cậu nhập nhằng lắc đầu.

Cậu không thể kể cho Dasa. Rằng chị cô nàng, Jirina Urban, vừa bị Angela nói những điều kinh khủng mới hồi nãy. Dasa vốn yêu Jirina hơn cả Yukinari; cậu chẳng biết cô sẽ phản ứng thế nào nếu được phân nửa những điều Angela đã nói. Mà thực ra, cậu biết khá rõ đấy, chính xác đó là lí do cậu sẽ không nhắc lại tí nào với cô nàng.

“………Mn.”

Dasa khẽ gật đầu như nói rằng, Em hiểu rồi, anh không cần phải kể cho em mọi thứ đâu. Tay phải cô làm một động tác lướt, gần như quá nhanh để thấy. Giữa những ngón tay thướt tha là một vũ khí kim loại cộc cằn cô vừa lôi ra từ đâu đó.

Ớt Đỏ: một khẩu Sturm Ruger Super Blackhawk .44 Magnum Tự Chế. Nói cách khác, một khẩu súng ngắn. Ở thế giới này, nơi mà khái niệm về súng ống hầu như không tồn tại, có lẽ chẳng phải phóng đại khi nói rằng Dasa là “tay súng ngắn” duy nhất trên đời. Một vũ khí lớn hơn có lẽ sẽ không hợp với cơ thể nhỏ bé của cô, nhưng khẩu lục nhỏ này thì hoàn hảo. Với búa chốt một nửa, cô mở cổng nạp và kiểm tra xem buồng quay đã nạp chưa. Từng bước trong quá trình dường như hoàn toàn quen thuộc với cô nàng.

“Được rồi. Khoan đã. Em nghĩ mình đang làm gì vậy hả?” Yukinari nói.

Dasa, vốn đã đứng dậy khỏi sô-pha nói, “Ả… truyền giáo đi. Em biết… ả đã nói điều tội tệ với… anh, Yuki.”

Dasa biết Yukinari đã xuống phòng dưới lòng đất để chất vấn Angela Jindel, đang bị nhốt ở đó. VÀ khi trở lại, tự dưng cậu thở dài và ngồi bệt xuống sô-pha. Không khó để đoán có điều đã làm cậu phiền muộn.

“Em sẽ bắt… ả ta trả giá.”

“Anh đã bảo là, khoan đã mà. Em nghĩ cái gì mà vung vẩy Ớt Đỏ như thế?”

“Ổn thôi mà,” Dasa nói vô cảm. “Một viên vào lòng bàn tay, chẳng hạn, không chết người đâu.”

“Ổn cái gì cơ? Dừng lại. Dừng lại đi.”

Dasa nhìn kĩ Yukinari, nhưng khi cậu bảo lại lần hai, cô lại ngồi xuống bên cạnh cậu. Có vẻ là, cô nàng đã từ bỏ ý tưởng tự mình chất vấn—hay là, thì, vì cô không định hỏi nhiều, chắc sẽ là tra tấn đơn thuần thôi.

“Xem chừng anh cũng đã định thần lại chút rồi.”

Những lời đến từ Veronika khi một lát sau cô bước vào phòng.

“Yuki… nữa?” Dasa hỏi, lại nghiêng đầu.

Veronika tựa vào tường bên cửa và cười buồn. “Mấy phút trước, trông Yukinari như sắp sửa tra tấn con ả đó đến chết.”

“Thật ư? Yuki mà…?” Dasa chớp mắt sau cặp kính. Hẳn là cô nàng ngạc nhiên. Yukinari hiếm khi dùng đến bạo lực, và cậu không phải tuýp người thích thú khi làm hại người khác, thậm chí kẻ thù của mình. Phụ nữ và trẻ nhỏ thì càng không. Dasa biết rõ điều này hơn bất cứ ai, và cô thực sự giật mình.

Giờ là giọng nói thứ ba, có phần ngập ngừng, tham gia vào cuộc trò chuyện. “Ừm… Chúa Tể Yukinari?”

Một cô gái tới cùng đồ uống trà trên một chiếc xe đẩy và bắt đầu phục vụ trà trên chiếc bàn gần ghế sô-pha.

“Chắc là ngài mệt rồi,” cô nói. “Hãy uống chút trà đi.”

Cô gái này có mái tóc tết bím màu nâu vàng nhạt; cô để lại một ấn tượng rất đơn sơ. Dù xấu hay tốt, hình thể của cô trái ngược hẳn so với Dasa; cô tràn đầy cử chỉ và biểu hiện biến đổi không ngừng. Đường nét khuôn mặt xinh xắn, nhưng điều đầu tiên người ta nhận thấy ở cô không phải ngoại hình mà là cảm giác dễ bị tổn hại của cô ấy.

Tên cô gái là Berta Wohmann.

Cô là người mà, vì nhiều lí do phức tạp, đã được “dâng” cho Yukinari. Cô thường được thấy đang đi cùng cậu hay làm mấy việc nội trợ. Nhưng hiện tại cô đang ở trong căn nhà này, dinh thự Schillings, giúp trông coi tù nhân Angela và Veronika, nữ lính đánh thuê canh chừng người bị bắt giữ.

“Ồ, cảm ơn,” Yukinari nói.

Berta mỉm cười. “Không có chi.” Cô nhìn xuống, đỏ mặt.

Vị trí phục tùng cho Yukinari không phải là điều cô chọn cho mình ngay từ đầu; ấy là kết quả của một số nhân tố nằm ngoài sự kiểm soát của cô ấy. Nhưng thành ra là vậy, cô lại vô cùng kính trọng Yukinari. Cụ thể là trong vài ngày qua, cô đã hành động hệt như một vu nữ đang yêu mỗi lần trông thấy Yukinari, và điều ấy khiến cậu rất bối rối.

“Mà dù sao thì mấy lời đó là để làm gì cơ chứ?” Yukinari nói, lại thở dài.

“Chính xác chuyện gì đã xảy ra?” Một cô gái khác, với mái tóc hoe và đôi mắt xanh, bước vào phòng từ sau lưng Berta. Cô là một mĩ nhân, rất tự chủ; trông cô có vẻ trưởng thành hơn chút so với Dasa hay Berta. Cô không già hơn họ là mấy, nhưng có nhiều kinh nghiệm cầm quyền hơn những người cùng thời.

Fiona Schillings—con gái của thị trưởng Friedland, hiện đang thay cho chức vụ của cha mình. Cô đã học tập tại thủ đô và có vốn kiến thức rộng rãi; cô là một người nhanh trí, lại còn rất nhạy bén. Hầu như chẳng còn cần phải gọi cô là “phó” thị trưởng nữa—cứ gọi cô là thị trưởng cũng chẳng sai.

“Ế, ừ, thì đấy…” Yukinari ậm ờ, không chắc chính xác phải nói gì.

Veronika trả lời thay cậu. “Angela Jindel đã xúc phạm và kích động Yukinari theo mọi cách mà ả biết. Anh ta còn bực đến nỗi vả cho ả một phát.”

“Yukinari sao?” Fiona ngạc nhiên nói. Cả cô, cũng biết cậu thường cư xử thế nào. Cô không ở cùng Yukinari lâu hơn Dasa, nhưng Fiona là một người có mắt quan sát tốt.

“Tôi chỉ… kiểu bực quá thôi mà.”

“Vậy Yukinari có thể bực lên được.”

“Thất vọng à?” Veronika hỏi. “Thấy tiếc cho việc phát hiện ra anh ấy là một kẻ côn đồ tởm lợm dám ra tay với phụ nữ sao?”

“Không hẳn,” Fiona cười nói. “Kiểu như tôi thấy điều đó khiến anh ta người hơn.”

“Có lẽ cô đúng về điều đó.”

“Dù sao thì,” Fiona nói tiếp, nhìn Veronika, “một kẻ cục súc thực thụ sẽ dùng nắm đấm khi quyết định đánh phụ nữ. Việc Yukinari dùng một cú tát mở tay thực tế chứng minh rằng anh ấy là một quý ông.”

“…Hế. Chắc vậy,” Veronika cưởi khẩy và gật đầu. Là lính đánh thuê, chắc hẳn cô đã quá quen với những thời khắc con người bộc lộ bản chất thật của mình. “Mà con ả đó cũng hành xử kì quặc,” cô nói tiếp.

“Kì quặc thế nào?”

“Ả không bị hăm dọa chút nào khi Yukinari đánh ả. Nếu phải nói…” Veronika nhăn nhó và ngừng một lát. “Như kiểu là… chỉ càng khiến cho ả cố sức làm anh ta bực hơn nữa.”

Yukinari hình dung khuôn mặt Angela. Mặt cô ta đỏ bừng, mắt sáng rực, thở hổn hển—có gì đó là lạ. Cô ta có run rẩy, nhưng không phải vì sợ hay tức. Giống như kiểu… hào hứng. Thực sự là, nhớ lại sự cố khiến cậu hơi bệnh chút. Trong khoảnh khắc, Yukinari đã bị kích động, giận đến mức khó tin, và cậu chẳng nghĩ được chuyện gì đang diễn ra nữa. Nhưng giờ thì…

“Cô ta không phải đang xúc phạm anh ấy vì anh ấy là kẻ thù sao?” Fiona hỏi.

“Tôi không nghĩ thế,” Veronika đáp, trông hơi lúng túng. “Đó là niềm vui, tôi dám chắc. Mặc dù không rõ chính bản thân ả có nhận ra hay không.”

“Niềm vui…?” Fiona, Berta, và Dasa ai nấy nhìn nhau, hoang mang.

“Tôi đã gặp rất nhiều loại người trong công việc đánh thuê của mình,” Veronika nói. Cô thở ra một tiếng. “Có những người mà… Thì, họ tận hưởng những loại kích thích nhất định mà người thường thì không.”

“Vậy là sao…?” Berta thì thầm, cạn lời thực sự.

“Công việc lính đánh thuê thu hút rất nhiều người không được chào đón ở cộng đồng văn minh,” Veronika nói. “Những người kì lạ, không dễ gần cho lắm—họ là nguyên tắc, chứ không phải ngoại lệ. Đặc biệt là những người có sở thích riêng biệt liên quan đến… e hèm. Phần đó của cơ thể họ. Một số thì thích những đối tác cùng giới tính. Một số khác lại không thể sung được trừ khi đối tác của họ hoặc già hoặc trẻ hơn nhiều so với họ.”

“A… Giờ thì hiểu rồi.” Fiona gật đầu ra chiều hiểu biết. Dasa và Berta thì lắng nghe Veronika với vẻ hứng thú ra mặt.

“Thì dĩ nhiên,” cô nói, “còn có những người muốn làm chuyện ấy với chính chị gái của mình.”

Lời bình luận không hề khách sáo của Veronika khiến tim Yukinari chợt nhói.

Ở nơi cậu xuất thân, cảm xúc tình yêu mạnh mẽ hay sự bó buộc với chị hoặc em gái—đặc biệt là cảm xúc lãng mạn hoặc dục vọng—được biết đến rộng rãi như là “sister complex” (phức cảm chị/em gái)

Hatsune…

Amano Yukinari đã trưởng thành trong những hoàn cảnh khá là bất thường. Cả cha lẫn mẹ đều không thường ở nhà, và theo những gì cậu còn nhớ, cậu và chị gái vốn chỉ có lẫn nhau. Nên điều đầu tiên Yukinari nghĩ tới khi nghe từ gia đình không phải người cha tham công tiếc việc hay bà mẹ thành viên giáo phái của mình, mà là chị gái, Hatsune.

Thông thường, người “khác” đầu tiên mà đứa trẻ nhận ra trong thế giới của chúng là mẹ. Đây là lí do mà người mẹ thực là một sự hiện diện có sức ảnh hưởng đến hầu hết trẻ nhỏ, đối tượng đầu tiên cho tình cảm đang đâm chồi của chúng. Nhưng người “khác” đầu tiên Yukinari thừa nhận trong thế giới của cậu lại là chị gái.

Chị là người hiểu cậu nhất, thành viên trong gia đình cậu yêu thương nhất. Đó là lí do tại sao, khi ngọn lửa réo lên xung quanh ở những phút cuối trong cuộc đời ở thế giới trước, cậu lại có cảm giác an ủi rằng ít ra mình và chị gái có thể chết cùng nhau.

Vậy mà…

Mình lại là người duy nhất có kết cục ở đây.

Chị gái yêu dấu của cậu đã mất.

Cậu, và chỉ mình cậu, còn sống tại đây, được ban cho bạn bè ở thế giới mới này. Đôi khi cậu còn cảm thấy tội lỗi về việc ấy.

“Chúa Tể Yukinari…”

Berta ngập ngừng gọi tên cậu, khiến Yukinari sực tỉnh. “Hử? Ồ, Berta, sao vậy? Có chuyện gì à?”

Cô gái tự xưng là “vu nữ” của Yukinari nhìn cậu với ánh mắt cầu khẩn. “Chúa Tể Yukinari, ngài… ngài có thích ‘kích thích bất thường’ không?” Cô vẫn giữ giọng hối lỗi như mọi khi, ngay cả khi tiếp cận chủ đề nhạy cảm nhất này.

“Hử? S-Sao tự nhiên lại…?” Cậu thấy hơi hoảng, có lẽ vì nãy giờ đang bận nghĩ đến chị gái. Cậu cho là chẳng thể có chuyện Berta biết được điều đó. Cậu còn chẳng nghĩ cô ấy biết rằng mình có chị gái.

“Ồ. Chỉ là—Em nghĩ nếu mình biết điều ngài thích, Chúa Tể Yukinari… có khi… em có thể dâng nó cho ngài…”

“Em vốn đã dâng cho tôi điều tôi muốn rồi. Em đang làm rất ổn.”

“Vâng… nhưng mà…” Berta có vẻ lo lắng, khó chịu, hơn bình thường. Và bên cạnh Yukinari, Dasa dường như đang có suy nghĩ lạ lùng…

“Yuki…” Đột nhiên cô nàng siết chặt tay như đã quyết chí. “Ổn thôi mà.”

“Ừ… Cái gì cơ?” Cậu có linh cảm xấu về điều này.

“Em không phiền nếu anh… thích mấy thứ kì lạ đâu. Em sẽ… cố hết sức.”

“Em không phải cố cái gì hết. Mà khoan… cố cái gì cơ?”

“Cú tát…?” Dasa di chuyển tay phải như kịch câm làm bộ đánh thứ gì đó. Mặc cho thân mình mỏng mảnh, cô nàng có sức khỏe đáng ngạc nhiên, và cú tát trông như thể sẽ đau lắm.

“Anh thực sự không có thích thể loại đó đâu.”

“Phải vậy… không?” Trông cô nàng bối rối.

Veronika đó giờ vẫn quan sát đầy thích thú. “Mà, việc tra khảo đúng là chẳng đi đến đâu cả,” cô nói. “Nhưng chắc ả đó vẫn hữu dụng để làm con tin. Tôi bảo là hiện giờ cứ giữ ả trong căn phòng đó.” Dường như cô đang cố kết thúc dần cuộc trò chuyện.

“Hiện giờ? Là bao lâu?” Fiona hỏi. Có lẽ cô không hoàn toàn thoải mái khi có một kẻ thù trong căn phòng ngay bên dưới ngôi nhà. Phải, Veronika đang canh chừng tù nhân, và tất cả vũ khí của Angela đã bị lấy mất, nhưng ngay cả thế.

“Tôi không biết. Còn tùy vào kẻ thù của chúng ta—tùy vào Giáo Hội làm gì.”

“Tôi không cho là nên phái một sứ giả từ phe ta để đàm phán với chúng.”

“Tôi cảm kích sự cân nhắc của cô cho các đồng đội của tôi, nhưng mà…”

Veronika cau mày. Một vài lính đánh thuê đồng nghiệp của cô, cũng như thương gia người thuê họ, vẫn còn bị bắt giữ ở thị trấn Aldreil. Một phần lí do họ bắt sống Angela là để hy vọng có thể đổi được cô ta lấy các bạn của Veronika.

“Nhưng tôi khá chắc đây là lần đầu tiên Giáo Hội gặp một thị trấn mà chúng không thể khuất phục, dù đã dùng đến tận hai tượng thánh bảo hộ. Đám truyền giáo còn lại ở Aldreil hẳn đang khá hoang mang. Thậm chí có một vài khả năng là chúng do dự việc báo cáo lại cho tổng cục Giáo Hội. Nhưng bất luận thế nào, tôi nghĩ chúng ta có thể câu thêm thời gian nếu chúng không biết chính xác điều chúng ta muốn.”

“Ra vậy,” Fiona nói, gật đầu tán thành. Cho dù Friedland có đứng ở thế nào để đối mặt với Giáo Hội sau chuyện này, thì tốt hơn hết là phải đảm bảo có đủ thời gian để chuẩn bị cho thị trấn.

“Cứ cho là đồn trú Aldreil biết rõ chúng ta có con ả đó làm con tin. Nếu có hứng thú gì với việc trao đổi tù nhân, khả năng cao chúng sẽ không giết bạn tôi hay người thuê chúng tôi.”

Angela con cháu của một gia đình quý tộc hùng mạnh; trước khi bị bắt giữ, cô vốn là phó chỉ huy của Lữ Đoàn Truyền Giáo Thứ Chín. Chẳng phải thắc mắc chuyện cô ta là một người quan trọng, và cứ cho là Giáo Hội sẽ muốn lấy lại cô ta nếu có thể.

“Nói cách khác, chúng ta vẫn còn ổn một thời gian, hử?”

“Đến đâu thì đến.”

“Anh thì ổn chứ, Yukinari?” Fiona nhìn Dasa, Berta, và rồi Yukinari lần lượt, và không ai phản đối.

“Nghe chừng chúng ta có kế hoạch đấy,” Yukinari nhún vai nói.

Thị trấn Friedland nằm ở biên giới.

Chí ít, là biên giới xét từ góc nhìn của thủ đô, nơi được nhiều người coi là trung tâm của thế giới. Nó cũng nằm ở biên giới theo góc nhìn đơn giản về sự cô đặc của mạng lưới giao thông và dòng hàng hóa luân chuyển từ đó.

Khu vực nơi Friedland được đặt về cơ bản là một hoang mạc khổng lồ với rải rác các chỗ bị con người chiếm đóng, kết nối lại đơn thuần bằng những con đường thôn quê.

Đến cả những con đường ấy cũng đã được làm lại khi đội quân của nhà vua nỗ lực khai hóa khu vực. Nay trách nhiệm coi sóc chúng rơi vào nhiều quận và các liên đoàn thương gia, và họa hoằn lắm mới có dịp tu sửa.

Những con đường, vốn được làm bằng gạch đá gần thủ đô, đến khúc thôn quê này đã trở thành đất. Sau cơn mưa chúng lầy lội, gây khó dễ cho các thương gia và lữ hành vốn là những người sử dụng chính. Ở một vài nơi, những thảm cỏ cao mọc ngay ven đường, trong khi những lối khác lại chạy dọc theo các vách đá dựng đứng.

Điều kiện nghèo nàn của những con đường khiến tai nạn dễ xảy ra hơn, song nỗ lực phòng chống khó khăn thì không có đường tắt. Kết quả, nhiều lần các lữ khách bị buộc phải cắm trại xa khỏi bất cứ chỗ người ở nào. Trộm cắp lưu manh là một mối lo ngại, cũng như thú hoang, á thần, và ngoại thú. Theo nghĩa đen người đang đặt mạng sống lên bàn cân để mà đi những con đường quê này. Các thương gia thường mặc giáp nặng, hoặc chí ít là có hộ vệ đánh thuê đi kèm, và mọi người đều tránh di chuyển ban đêm.

Nhưng hiện tại, một lữ khách đơn độc có thể được thấy trên con đường dẫn tới Friedland.

Đáng quan ngại thay, ấy có vẻ là một cô gái còn ở tuổi niên thiếu. Cô có mái tóc dài, màu bạch kim, nhưng mống mắt lại phớt tím như những viên cẩm thạch quý giá.

Vóc người thanh nhã chưa từng thấy. Chỉ nhìn qua thì khó mà nói được cô đến từ đâu, nhưng đủ rõ để thấy cô không quen với việc đi lại. Bầu không khí cho thấy cô còn chẳng có nhiều kinh nghiệm đi khỏi nhà—đích thực là một cô gái được bảo bọc. Trên hết, quần áo của cô lại không phải của lữ hành gia. Cô mặc váy dài, gần như độc một màu trắng, cùng với đôi dép đan. Không có vẻ là cô có túi đựng, chứ đừng nói là vũ khí—trông như cô chỉ đang đi dạo quanh thị trấn.

Rõ ràng là, đầu óc cô không bình thường. Sự thật rằng cô đã đi xa được thế này mà còn an toàn có thể nói là may mắn một cách thần kì. Nhưng liệu vận may ấy còn kéo dài được bao lâu?

Cô gái đột nhiên ngừng bước, ánh nhìn bối rối trên khuôn mặt. Đồng thời, ngọn cỏ ven đường xào xạc.

 

Igi. Gi. Gigigigi. Gigi. Gi.

 

Một giọng kì lạ phát ra từ bụi cỏ. Thứ gì đó ẩn nấp ngay gần, và nó đang tiếp cận. Nhiêu đó là rõ. Cô gái, tuy nhiên, không hề tỏ ra lo ngại; thay vào đó, cô chớp mắt đầy bối rối và nhìn về hướng phát ra tiếng.

 

Gigigigi!

 

Giờ thì âm thanh từ ngọn cỏ không lẫn vào đâu được nữa, và một sinh vật cổ quái phóng mình ra khỏi chỗ cỏ dại.

Nó là một con thú, to lớn và xấu xí. Người nó đầy lông và, ngạc nhiên thay, nó đi bằng hai chân. Nhưng chân nó ngắn còn tay thì dài; nó đi khom về phía trước theo kiểu gợi ý rằng đi bằng bốn chân có khi sẽ hiệu quả hơn.

Có lẽ nó thuộc họ khỉ. Hoặc đã từng. Nó giống động vật, nhưng không phải động vật. Nó là một người kì quặc, nhưng không phải con người. Mặt nó gần giống mặt người. Nó đang xáo trộn, như thể ai đó đã gắn một cái đầu người vào cơ thể động vật. Nó kì quái, và nó sặc mùi. Một sinh vật gớm ghiếc mắc kẹt đâu đó ở khoảng giữa con người và động vật.

“Nnnnnnn…”

Còn nữa, nó biết nói. Xúc cảm, một thứ hơn động vật nhưng kém con người, hiển hiện trong mắt nó. Nó nài xin một thứ, một thứ vượt xa nhu cầu bản năng thông thường về thức ăn hay tình dục.

“Nn—Nnnnão!” Đầu nó kịch liệt gật lên gật xuống. “Não, Não, Não… Chất Xám… Đưa Nó Cho… Ta…!”

“Não? Chất xám?” cô gái nhắc lại với ánh nhìn bối rối.

Một người trưởng thành còn không khỏi khiếp sợ trước sinh vật chẳng ra hình thù gì, nhưng thái độ của cô gái thì lại chẳng thay đổi. Cô chẳng thấy phiền hơn là bao so với khi chẳng hạn đi dạo qua thị trấn mà bắt gặp một con chó hoặc mèo trông dị dị. Cũng như chẳng có vẻ ngạc nhiên khi con vật lại biết nói.

“Não… Ngươi Đưa Ta… Não, Và Ta… Ta Để Ngươi Đi…”

“Ơ, ta không chắc là được như vậy,” cô gái nói thành khẩn. “Ta không nghĩ mình có thể đưa não cho ngươi.”

“Não… Ngon. Mút Não, Húp Não, Nhai Não… Đầu… Thông Minh Hơn… Húp Não Ngon, Ngon!”

Họ cứ như kiểu là ông nói gà bà nói vịt.

Có lẽ cũng đúng thôi. Thứ xuất hiện trước mặt cô gái không đủ thông minh để nói chuyện được cho chuẩn. Đó chính xác là lí do tại sao nó muốn não người: để có thể thông minh hơn.

Á thần. Đó là cái tên những sinh vật thế này được gọi. Một loại sinh vật sống mà, vì bất kì một số lí do nào đó, đã vượt lên vòng đời thông thường và trở thành một thứ tiên tiến lớn lao về mặt tâm linh. Ở một mức độ nào đó chúng thông minh hơn thú vật đơn thuần, phải, nhưng chẳng đến đâu so với trí thông minh nhân loại. Do đó, để trở nên thông minh hơn, chúng lùng sục để tiêu thụ não của những sinh vật thông minh và tiếp tục gia tăng vị thế tâm linh của mình.

Khả năng thể chất của chúng vượt trội so với con người. Một thiếu nữ, đi loanh quanh trong đôi dép, ít có hy vọng mà thoát được.

Mà không hẳn là mọi tính toán này đều nằm trong sự tiếp cận của á thần.

“…Hử?”

Cô gái bước hờ hững. Không phải lùi. Về phía trước.

Một bước. Hai, ba.

Cô gái đến gần á thần đến mức đôi bên có thể chạm nhau. Việc sinh vật không phản ứng có lẽ là vì đến cả con quái vật này chí ít cũng đủ thông minh để nhận ra hành động của cô gái kì lạ đến mức nào.

Đột nhiên, cô gái có vũ khí trong tay. Chúng từ đâu ra vậy? Một cặp trường kiếm hai lưỡi bóng loáng. Một tạo vật cực kì đơn giản—giữa chúng chẳng có gì ngoài lưỡi, tay cầm, và cán. Chẳng hề có hoa văn tiểu tiết; thứ duy nhất giống với trang trí là bông hồng đính vào tấm bảo vệ hình trăng lưỡi liềm chạy từ đáy tới cán kiếm để bảo vệ những ngón tay của cô gái. Phần đó, và chỉ mình nó, là đỏ như nhuốm máu.

Mỗi tay cô cầm một cái của cặp trường kiếm. Không thể nói được là cô rút chúng từ đâu ra. Chắc chắn là cô không có mang vũ khí trong lúc đi. Cô còn chẳng có túi bên mình. Cứ như thể cô đã tạo ra những thanh kiếm từ không khí.

Cô đâm. Chuyển động trông thật tự nhiên, cứ như thể cô chỉ đang đưa kiếm cho á thần. Trông cô không có vẻ là dồn lực vào nó, và quả thực, phần ngọn chỉ xuyên vào á thần một cách hời hợt. Chẳng có gì gọi là cú đánh chí mạng.

Chắc chắn nó còn chẳng tới được cơ của á thần. Có lẽ nó đã xuyên qua da, nhưng lại nói, có khi chỉ dừng lại ở lớp lông là cùng. Mà lông á thần thì, xét cho cùng, cứng hơn giáp lông thô.

Rõ ràng, điều xảy ra kế tiếp đó là sinh vật sẽ đánh trả bằng vuốt của nó. Nó sẽ xẻ cô gái ra thành từng mảnh.

Hoặc đáng nhẽ.

“Hư… ưưư… HRRRRRRAAAAAAAA!!” Á thần ngửa ra sau, rú rít. Mà không. La hét. Đồng thời, có gì đó phun ra từ chỗ thanh trường kiếm bị chặn lại. “ERRRAGGGGG!! GRRRAAAA!!”

Cô gái không nhúc nhích. Thanh kiếm cũng chưa cử động, khỏi nơi nó bị chặn lại sau khi gây ra cú muỗi đốt tí ti đó. Vậy mà bằng cách nào đó, mũi kiếm lại đang thò ra khỏi lưng á thần.

Chưa hết, một khắc sau, lưỡi trường kiếm đột nhiên lòi ra từ khắp cơ thể á thần.

“HRRRA…GGGG…”

Con quái vật ngã sấp mặt.

Hoàn toàn hợp lí nếu mà ai đó bị đâm bởi một loạt đao từ bên trong cơ thể, họ sẽ chết. Đó, chí ít, là điều con người mong đợi. Nhưng á thần vẫn tiếp tục lăn lộn.

Á thần không được tạo thành từ một động vật đơn lẻ. Đa phần, chúng thu hút và bao bọc bản thân trong những sinh vật gọi là thân cận, nhóm thành một cơ thể lớn hơn hành động như một sinh vật sống đơn nhất. Rồi lại nói, sức mạnh cũng có thể tích từ từ bên trong một thân cận và một lõi mới có thể xuất hiện. Tiêu diệt hoàn toàn một á thần khó là vì như vậy.

Cô gái, tuy nhiên, chẳng hề nao núng trước việc dọn dẹp các thân cận.

“Kra?!”

Một thân cận thấy mình bị ghăm chặt xuống đất. Cô gái đã quẳng thanh kiếm bên tay trái vào người nó. Các thân cận còn lại dường như thấy đây là thời cơ tuyệt vời để tẩu thoát, và tản ra. Cô gái chỉ còn lại một lưỡi kiếm. Có lẽ các thân cận cho rằng cho dù cô gái có đuổi, cô cũng chỉ giết được nhiều nhất là thêm một con nữa.

Thật sai lầm biết mấy.

Thọc, thọc, thọc, thọc, thọc. Từng thân cận một bị làm cho bất động. Một màn thảm sát dễ dàng đến mức tởm lợm.

Cô gái xuyên thủng từng thân cận một bằng những thanh trường kiếm chẳng biết từ đâu ra, trông hạnh phúc như thể đang xoay vòng dưới chiếc ô trong một cơn mưa. Tuy nhiên, nhìn kĩ hơn mới thấy những sinh vật này không chỉ bị đâm qua. Mỗi con vật khắp mình đều đầy lỗ. Y như á thần lúc đầu, chúng đã bị đâm từ bên trong đến chết.

Nhưng… làm thế nào?

Chuyện quái gì đã xảy ra với chúng?

Nhiều kiếm đến vậy—hơn ba mươi thanh—ở đâu mà ra?

“Hết rồi à?” cô gái hỏi khi vừa kết liễu sinh vật cuối cùng. Trông cô ngây thơ như một chú chim non.

“Cho ta xin lỗi nhé. Chắc ta mới là người có gì ở đây.”

Ý cô có thể là gì mới được cơ chứ?

Thình lình, gió nổi lên. Nó không mạnh lắm, nhưng đủ để gợi lên một lời thì thầm từ những tán cây, rồi tất cả thân cận bị đâm xuyên đều tan biến, trở thành cát bụi được gió thoảng đưa đi. Chẳng còn lại gì cả.

Cô gái lại cất bước, thong thả. Cô bỏ lại sau hơn ba mươi thanh trường kiếm, đứng hiên ngang như những tấm bia mộ.

Trước khi mặt trời lặn, Yukinari và những người khác đã rời dinh thự Schillinsg và trở lại thánh địa. Mặc cho cái tên nghe có vẻ hoành tráng, thánh địa không phải kiểu tòa nhà đồ sộ bằng đá. Về mặt lớn thì đúng, nhưng nó chỉ là một ngôi nhà. Nó đã được xây cho Yukinari, người hiện bảo vệ Friedland thay cho thổ thần. Yukinari không phải luôn hoàn toàn thoải mái với việc dùng cụm từ “thánh địa,” song có vẻ nó là hợp lí nhất với cư dân thị trấn, nên cậu đã quen với nó.

“Hẳn là đau đớn nghiêm trọng lắm đây,” cậu lẩm bẩm, ngồi tại một nơi được biết đến với cái tên khán đài.

Yukinari thực ra đã đi tra khảo Angela lần nữa trước khi quay lại thánh địa. Lần này, để giúp tránh bị kích động, cậu đã đưa Veronika và Fiona đi cùng, nhưng kết quả vẫn tương tự.

Angela dường như hiểu ra rằng xúc phạm bản thân Yukinari thì kém hiệu quả hơn so với sỉ nhục Jirina, và cô ta tiếp tục sự khiêu khích của mình. Sau một hồi lâu Yukinari lại thấy mình không thể kiểm soát bản thân được nữa, nhưng Veronika đã ngăn cậu khi có vẻ cậu sẽ làm hại cô gái. Lỗi là ở cậu. Mà cậu đã đúng, khi tránh đưa Dasa theo cùng. Khả năng cao là cô nàng sẽ để lại một viên Magnum trên người Angela. Không chỉ vì tội lăng mạ chị gái Dasa, mà còn vì làm Yukinari phiền muộn nữa.

Rõ ràng là, giết Angela chẳng đưa họ đến đâu cả. Ngay cả gây tổn hại vật lí cho cô ta cũng vô nghĩa. Cuối cùng, Yukinari đành quyết định tạm thời hoãn lại sự tra khảo của mình, để cho đôi bên một hai ngày gì đó.

“Câu hỏi là Giáo Hội—Lệnh Truyền Giáo—sẽ chống lại chúng ta như thế nào.”

Ý nghĩ ấy nhắc nhở rằng cậu không có thời gian để lãng phí. Trận chiến với lực lượng của Angela đồng nghĩa với việc Yukinari và đồng minh của cậu trở thành kẻ thù của Lệnh Truyền Giáo. Họ không hoàn toàn hủy diệt hai đơn vị truyền giáo tấn công mình, nên còn những người sống sót có thể, và cứ cho là, đã báo cáo rằng Friedland đã có hành động thù địch với Giáo Hội Chân Chính Harris. Có khả năng đến cả tổng cục Giáo Hội cũng đã biết.

Giờ thì cậu phải làm gì đây?

Ban đầu, Yukinari đã hy vọng lấy được thông tin từ Angela về thành phố Aldreil, nơi lực lượng của cô ta đóng căn cứ. Cậu cho là cô ta sẽ biết điều gì đó hữu ích, bởi Arlen Lansdowne, một hiệp sĩ truyền giáo khác, đã cho cậu biết sự thật ngạc nhiên rằng cô gái Angela là phó chỉ huy của một đoàn viễn chinh khai hóa mặc cho độ tuổi của mình.

Nếu được, cậu muốn giải cứu các đồng đội của Veronika đang bị giữ ở Aldreil. Đây là suy nghĩ đầu tiên của cậu.

Yukinari đã chế ra vài vũ khí đơn giản, Durandall và Derrringer, nhưng người Friedland về cơ bản vẫn là mấy người nghiệp dư khi nói đến việc gây chiến. Có một nhóm người, một dạng cộng đồng bảo an có trách nhiệm bảo vệ thị trấn khỏi những mối nguy từ cả trong lẫn ngoài, nhưng họ hoạt động chủ yếu vào trường hợp khẩn cấp. Từ xửa từ xưa, thị trấn vốn đã nằm dưới sự bảo hộ của thổ thần, khiến cho họ nay chẳng còn mấy sự phòng thủ trước bất kì con thú xấu xa nào trong khu vực xung quanh. Cộng đồng bảo an chẳng khác so với lực lượng công an là mấy; nó chắc chắn không phải một đội quân sẵn sàng chiến đấu.

Nếu họ phải đánh với Lệnh Truyền Giáo, thì có những người chiến đấu để sống sót bên phe mình quả thực là vô giá.

Ở thế giới này, sau chiến tranh hợp nhất tại thủ đô, đã chẳng có xung đột trọng điểm nào trong hàng thập kỉ, thậm chí hàng thế kỉ. Tuy nhiên, tranh chấp lãnh thổ giữa các lãnh chúa vẫn tiếp tục gia tăng, và điều đó, cậu nghe, thường dẫn đến việc thuê lính đánh thuê.

Yukinari đã cân nhắc khả năng tấn công Aldreil để giải cứu các bạn đánh thuê của Veronika. Nhưng cậu giật mình trước ý niệm rằng sau khi cẩn thận đến mức chỉ đánh những trận phòng thủ, giờ cậu sẽ chủ động tấn công một thành phố khác.

Tấn công chỉ là một cách khác để nói rằng ta sẽ cố ý tới đó để giết người. Phải, dĩ nhiên có những trường hợp mà kẻ phản bội mở cổng thị trấn không hề đổ một giọt máu, hoặc số lượng của quân đội áp đảo đối phương đến mức họ đơn giản là đầu hàng. Nhưng Yukinari, và Friedland, hầu như chẳng hề có sức mạnh của những điều như vậy ở thời điểm hiện tại.

Một cuộc tấn công hiệu quả nhằm vào Aldreil—nói cách khác, gây ra ít số lượng thương vong nhất ở cả hai phía—sẽ xoay quanh thông tin Angela có thể cho cậu. Cơ mà…

“Cô ta không thể là đang giả vờ… phải không?”

Chắc là không phải cô ta đang giả vờ có fetish tình dục bất thường chỉ để tránh bị tra tấn đâu. Đặc biệt không vì có vẻ chính bản thân cô ta cũng không nhận ra mình đang làm gì. Veronika đã đúng; Angela có dấu hiệu bị khổ dâm. Cho dù cô ta có cái cớ để không phải nghĩ quá nhiều về nó: niềm tin rằng cô ta đang chân thành và gan dạ kháng cự lại Yukinari, kẻ thù của Giáo Hội, dù cho bị cậu bắt giữ.

Nhưng rõ ràng là cô ta muốn bị ăn tát lần nữa. Chí ít, cậu trông thì là như vậy. Đó là lí do tại sao cô ta quá cố để chọc giận cậu.

Đúng là một người quá gây bực mình để mà xử lí. Cậu có thể thử hành hạ cô ta, nhưng chỉ tổ làm cô ta sung sướng. Dĩ nhiên, có những cách gây đau đớn đến mức lấn át cả những dục vọng méo mó nhất, nhưng Yukinari chẳng biết làm thế nào. Nhỡ cậu làm cô ta đau quá và chết thì sao? Thế là đổ sông đổ bể hết. Cậu cũng không chắc là Angela thiết tha bị đánh bởi bất cứ ai không, hay chỉ mình Yukinari.

Cậu cho là có thể luận ra câu trả lời cho câu hỏi đó, nhưng điều khiến cậu phiền lòng là lẽ ra không nên chiều theo fetish của kẻ thù quá nhiều như vậy. Tra tấn thì phải là tra tấn, nhưng nó có thể quá dễ dàng trở thành điều cô ta tận hưởng. Thật là vô lý.

Yukinari thở dài thành tiếng.

Một giọng nói đáp lại. “Có chuyện gì vậy?” Một cô bé bề ngoài kì lạ hé nhìn vào phòng khách.

“Ulrike…”

Khuôn mặt cô bé hoàn toàn bình thường; thực sự phải nói, cô bé rất đáng yêu. Gì chứ dễ thương thì không thiếu. Nhưng mái tóc lại xanh như lá non, và trên đầu thì có sừng. Trên đầu có hai cái và hai chiếc về phía trước. Hai cái đằng trước nhô ra trông như sừng của quỷ Nhật Bản truyền thống, nhưng hai cái đằng sau tõe ra vài cành, mang lại cảm giác kì lạ ở nhiều mức độ. Nó mang lại cho khuôn mặt xinh xắn của nhỏ một nét hăm dọa nhất định.

Ít nhiều, hợp lí cả thôi.

Cô bé này là một vị thần—hay đúng hơn là, thiết bị đầu cuối của một vị.

Ulrike. Đó là cái tên Yukinari thường gọi, nhưng ấy chỉ là tên của cô bé “thiết bị đầu cuối”; phía sau nhỏ là một vị thần thực vật. Cụ thể là, thổ thần của Rostruch, Yggdra. Bởi cơ thể chính của Yggdra không thể di chuyển khỏi nơi mình ở, Ulrike đã tới Friedland với tư cách như là đại diện của cô ta.

“Trông anh hơi mệt đấy. Có chuyện gì xảy ra ở Friedland à?”

Ulrike chưa có tới cơ ngơi Schillings. Yukinari đã nhờ nhỏ để mắt đến thánh địa trong lúc cậu đi vắng. Tình cờ thay, đã có kế hoạch xây thánh địa cho đại diện của Yggdra kế bên chỗ ở của chính Yukinari, nhưng vì sự an nguy của thị trấn đang được ưu tiên trước, việc xây dựng thánh địa cho Ulrike hầu như chưa được khởi công, và hiện tại nhỏ sống ở nhà Yukinari.

“Là… cô gái từ đám hiệp sĩ truyền giáo. Tôi đã không tra khảo cô ta được…”

“Anh không thể à?”

“Thì, ừm… Nói sao nhỉ?” Yukinari cố tìm lời lẽ phù hợp, nhưng không thể nghĩ ra cách hay để nói, nên bèn quyết định nói thẳng. “Người phụ nữ này… Tôi không biết có thể gọi là biến thái được không. Cô ta có những sở thích kì quặc. Cô ta thích bị đánh, nên là không thể hăm dọa cô ta được. Đến cả tra tấn có lẽ cũng không hiệu quả lắm.”

“Ồ-hố,” Ulrike nói vẻ hứng thú. Và rồi…

“…Yuki.”

“Chúa Tể Yukinari.”

Dasa và Berta, có vẻ là đã thay quần áo xong, bước vào phòng khách.

“Chuyện… gì thế?”

“Ờ, ừm, không có gì. Bọn anh chỉ lại nói về Angela ấy mà,” Yukinari nói, gãi gãi má.

“Yukinari đang bảo ta là cô ta thấy sướng khi bị đánh, nên cậu ấy không thể tra khảo cô ta được,” Ulrike nói. Rồi nhỏ nghiêng đầu thắc mắc. “Chắc ta có thể biến cô ta thành thân cận nhỉ?”

“Hử…?”

“Bắt đầu bằng việc giết cô ta,” Ulrike nói, với nụ cười thỏa mãn khiến nhỏ trông vô tội như chú chim non. “Rồi, trước khi cơ thể mục rữa, ta đặt một hạt giống—hay đúng hơn, là mầm cây—vào. Thực ra, cô ta chẳng cần phải bị giết. Ta có thể làm trong khi cô ta vẫn còn sống. Thế nào đi nữa, cô ta sẽ trở thành thân cận, và ta có thể điều khiển cô ta. Phần lớn kí ức của cô ta sẽ còn nguyên vẹn, nên ta có thể khiến cô ta nói bất kì điều gì mất người muốn biết.”

“Woa, woa, woa, woa. Khoan đã,” Yukinari nói hơi chút điên đảo.

Ulrike, hay đúng hơn là Yggdra, phải nói nhân từ một cách bất thường so với một thổ thần; cô ấy không ham thích sự tàn bạo của việc tấn công hay giết người. Cơ mà, cô ấy vẫn không phải người. Cô ấy, suy cho cùng, là một cái cây. Đôi khi cô có những cách suy nghĩ rất khác so với Yukinari, và có thể điềm nhiên nói ra những điều mà đạo đức của Yukinari sẽ thắc mắc một cách nghiêm trọng.

“Tôi không muốn giết cô ta.”

“Không á?” Ulrike chớp mắt, bối rối. “Ta tin ấy là một đề xuất hay ấy chứ.”

“Tôi không bảo ấy không phải một cách để lấy thông tin từ cô ta…”

Đôi khi cuộc chiến kết thúc bằng cái chết; đó là điều không tránh khỏi. Nhưng Yukinari do dự việc giết một người không chống cự. Angela dĩ nhiên sẽ cười nhạo và nhắc lại về cuộc thảm sát người Giáo Hội cậu đã thực hiện ở thủ đô. Nhưng hồi đó cậu rơi vào cơn cuồng loạn, còn giờ, với sự nhận thức muộn màng, cậu lại cảm thấy tội lỗi ở một mức độ nhất đinh—đó là lí do tại sao cậu muốn tránh chết chóc càng nhiều càng tốt, kể cả cái chết của những người liên quan tới Giáo Hội.

“Đã vậy thì,” Ulrike nói, “ngược lại cũng là một khả năng.”

“Ngược lại, ý nhóc là sao?”

“Anh bảo cô ta vui sướng trước đau đớn và hành hạ phải không? Thế thì giúp cô ta tận hưởng đi.”

Lại nói, biểu hiện của nhỏ hoàn toàn ngây thơ vô tội. Nhưng dường như nhỏ đang nghĩ theo chiều hướng hơi bất nhân một chút, một thước đo giá trị có phần xa lạ.

“Ý nhóc vậy là gì?”

“Đánh, đấm, đá. Có lẽ bẻ một hai ngón tay. Cắt tai nè. Hừm… Còn cách nào khác để tra tấn con người nhỉ…?” Ulrike suy nghĩ một hồi. “A, hiếp dâm! Đúng rồi, hiếp dâm. Nếu anh hiếp dâm cô ta, chẳng phải điều này sẽ khiến cô ta sung sướng cực điểm, rồi cứ thế mà phục tùng anh sao? Rồi sẽ thành cái mà con người gọi là đôi bên cùng có lợi. Ý tưởng ổn đấy.”

“Không, tôi không thực sự nghĩ—”

“Hay ý anh là cái cô gái Angela này không hợp gu của anh, Yukinari? Tôi hiểu là đàn ông phải có kích thích về mặt xúc cảm để mà thụ phấn cho phụ nữ mà.”

Yukinari chỉ có thể đưa tay lên ôm đầu.

Quá rõ ràng là Yggdra không phải con người. Cô ấy còn chẳng phải động vật; và cách suy nghĩ cho phép cô thảy một nụ cười vào động cơ mà con người coi là cấm kỵ. Ngay cả cách dùng từ “thụ phấn” cũng là dấu hiệu cho thấy quan điểm tình dục của cô ấy khác biệt so với hầu hết mọi người. Và sự thiếu hẳn đi dã tâm về phần cô khiến cho người ta khó mà quyết định nên đáp lại thế nào.

Chắc là cây cối không có xem trọng đạo đức cho lắm, Yukinari nghĩ.

Hành vi tình dục của thực vật, chẳng hạn thụ phấn, điển hình không phải là điều xảy ra giữa một với một, cũng như cây cối không thể tự do chọn cho mình đối tác. Lựa chọn đó được đưa ra bởi gió hoặc côn trùng, mà không hề có hành vi chủ ý nào về phần của thực vật.

Dĩ nhiên, bằng cách biến con người thành thân cận, Yggdra đã có được vài ý niệm về khái niệm tình dục của con người và mọi thứ liên quan tới nó, nhưng vị thổ thần lại thiếu hiểu biết thực tế. Cơ mà vẫn…

“U-Ưm, Chúa Tể Yukinari…?” Berta, vẫn im lặng nãy giờ, lên tiếng như thể vừa nghĩ đến điều gì đó.

“Hửm? Sao thế? Có gì làm em bận tâm à?” Yukinari quay sang như thế cô đang chìa tay giúp cậu ra khỏi một vũng lầy khủng khiếp.

“Ưm, có… điều em muốn hỏi, Chúa Tể Yukinari,” cô nói, cực kì do dự.

“Sao?”

“Vâng. Chúa Tể Yukinari… E hèm.” Cô nhìn xuống đầu gối một hồi. “Chúng em không hợp sở thích của ngài sao, Chúa Tể Yukinari…?”

“Sao cơ?”

“Ý em là, dục… dục vọng của ngài!” Có một nét bất thường trong giọng cô, cảm giác cô đã đi đến quyết định—có một sự kiên quyết trong giọng nói rất không giống cô chút nào. Có lẽ cô đã phải thôi thúc bản thân để nói ra điều này, bởi ngay sau đó, cô đỏ bừng mặt và nhìn xuống đất.

“Là tại điều chúng ta đã nói ở chỗ Schillings phải không?” Yukinari thở dài.

Quả thực, chủ đề đã được đưa ra, nhưng Yukinari lại nhẹ nhàng lảng đi, cứ như một trò đùa. Song Berta, có vẻ là, đã không thể chấp nhận được nữa. Cậu không mong đợi nó sẽ quay trở lại ám mình như thế này. Và rồi…

“‘Chúng em’… là ai cơ? Có bao… gồm tôi không?” Dasa hỏi, nhướn mày.

“Phải. Chúng ta. Tất cả chúng ta.”

“Ngạc nhiên ghê. Tôi rất là hợp sở thích của Yuki nhé,” Dasa nói. “Anh ấy thích con gái đeo kính… và tóc bạc… tôi nghĩ thế.”

“Ê, khoan. Đừng có áp đặt anh như vậy chứ,” Yukinari nói.

“Em không… đúng sao…?”

Ánh nhìn của Dasa khiến cậu khựng lại.

Biểu hiện và giọng nói thì vẫn lãnh đạm hơn bao giờ hết, nhưng có nét lo âu phảng phất mà Yukinari có thể nhận thấy được.

Nói cậu không coi Dasa là một người khác giới thì sẽ là nói dối. Tương tự với Berta. Thậm chí là Ulrike—khi cậu thấy nhỏ “tập thể dục buổi sáng,” người không miếng vải, cậu có cảm nhận một sự xáo trộn về mặt sinh dục. Nay cậu là một thiên thần, nhưng nếu muốn, chắc cậu có thể có sự giao cấu tình dục y như lúc là con người. Cơ mà…

“Arrgh,” cậu rên rỉ.

Berta vẫn chưa nói xong. “Em là vu nữ đã được dâng cho ngài, nên em muốn giúp ngài theo mọi cách có thể. Nếu có thể thay đổi bản thân để hợp với khẩu vị của ngài hơn, em sẽ làm thế.”

“Này nhé, như tôi đã nói, em không có trách nhiệm phải—”

“Đây không phải là trách nhiệm!” Berta kịch liệt nói—trước khi lại đỏ mặt và nhìn xuống đất.

Cậu chưa từng biết Berta lại thẳng thắn đến vậy. Có điều đã thay đổi bên trong cô ấy. Giờ Yukinari nghĩ về nó, cậu nhận ra đã lâu thế nào kể từ hồi hai người họ mặt đối mặt nói chuyện như thế này, việc Berta sống ở dinh thự Schillinsg để trông nom Angela kể từ trận chiến cuối cùng. Có lẽ chìa khóa nằm ở đâu đó trong trận chiến đó.

Mình sẽ làm gì đây?

Khá là tách biệt khỏi ham muốn thể xác theo bản năng, Yukinari quan tâm sâu sắc đến tất cả phụ nữ trước mặt cậu. Nhưng lí do đó có đủ để làm tình với họ họ hay không?

Cái quái gì… đang diễn ra thế này…?

Mặc cho câu mà cậu tự hỏi mình, Yukinari biết tương đối rõ thực hư. Cậu có vấn đề với việc hình dung mình ở vào loại quan hệ đó với Dasa hoặc Berta, tương tự là Ulrike. Chỉ là nó không có vẻ thực tế, kiểu gì đó.

Thế, ai thì được? Một hình ảnh trôi nổi trong tâm trí cậu…

Một bàn tay đưa ra. Gọi mời. Chữa lành.

Bàn tay thuộc về Jirinia, người đầu tiên cậu gặp khi tới thế giới này, và nó thuộc về người cuối cùng cậu gặp ở thế giới trước của mình.

Chị Cả…

Amano Hatsune. Người chị máu mủ ruột già của cậu.

Dĩ nhiên, ham muốn thể xác với chính chị gái của mình không phải là điều thường được đem ra để mà cười cợt. Thế cậu là ai mà dám chỉ trích Ulrike nếu ý tưởng của nhỏ có hơi không ổn cơ chứ?

Nhưng vào khoảnh khắc ngay trước sự “thuyên chuyển” của cậu, ngay trước khi nhà Amano bị lửa nhấn chìm, nó đã tràn ngập bầu không khí kì lạ. Thứ khiến cho lẽ thường thành điên rồ, và điên rồ thành lẽ thường. Nơi bằng cách nào đó xoay chuyển hệ thống giá trị trong đầu họ, khiến những điều cấm kỵ mất đi uy lực của chúng.

Lẽ thường sẽ không làm họ hạnh phúc. Lẽ thường không mang cho họ sự cứu rỗi.

Yukinari, và cả Hatsune, đã quá đỗi hiểu điều đó.

Đó là lí do tại sao họ dành những tháng ngày của mình trong vòng tay nhau. Đó là lí do tại sao—

Thình lình, nó đến với Yukinari. Tội lỗi. Mặc cảm về rằng cậu đã sai lầm.

Nay Hatsune đã mất từ lâu. Nếu đó là sự trừng phạt dành cho cậu vì đã để cho những cảm xúc sai trái xen vào giữa chị em… thì sao cậu có thể tiếp tục hạnh phúc bên người khác, như đã vô tình quên đi tất cả?

“Thì, ừm…” cậu nói. “Thú thật là, chẳng qua dạo này anh bận quá… Anh chưa có thời gian để nghĩ về chuyện ấy.”

Nên cậu gượng nở một nụ cười trên mặt, ít nhất là cho lúc này.

Chạng vạng. Nắng đang tắt dần, và vạn vật được tắm trong ánh hoàng kim. Không phải thời điểm tốt nhất để con người, với tầm nhìn ban đêm kém của họ, làm mấy công việc thông thường. Càng đúng hơn khi họ còn ở ngoài bức tường tường thị trấn, nơi không có ánh đèn nhân tạo nào cả. Phần nhiều những loài động vật nguy hiểm nhất đều sống về đêm, và những ai vốn bận rộn với công việc đồng áng ngoài bức tường vào ban ngày đều đã cố về nhà từ sớm.

Giữa những cánh đồng gần Friedland…

Một chàng trai và vợ anh ta đang đi bộ về thị trấn. Chàng trai vận đồ đi làm có lấm tấm bùn từ ruộng.

“Chà, thế là lại xong việc một ngày nữa,” anh nói với một nụ cười, vác cái cuốc trên vai. Tay còn lại gãi gãi dưới mũi. Cử chỉ hồn nhiên như một đứa trẻ. Bùn ở tay anh dây cả lên mặt.

“Hì hì! Coi kìa, giờ thì mặt anh dính bùn rồi đó.”

“Ồ! Vậy hả?” Chàng trai vẫn mỉm cười.

Cô gái, có vẻ là vợ anh ta, đang mặc bộ đồ đơn sơ những sạch sẽ. Có vẻ cô không tham gia vào công việc ngoài trời. Khả năng cao, cô đã tới từ thị trấn để đón chồng về nhà. Một người vợ mà đi cả quãng đường dài để gặp hôn thê của mình thực sự là hiếm; điều ấy nói lên việc họ là một cặp đôi hạnh phúc.

Họ vẫn còn trẻ, mới chớm sang tuổi hai mươi. Trong khi bước, có thể cảm nhận một khoảng cách kì cục giữa hai người họ—một dạng lưỡng lự từ cả đôi bên. Họ sẽ cần thời gian để có thể hiểu được suy nghĩ của nhau qua trực cảm. Khả năng cao là, họ chưa ở cùng nhau lâu.

“Cảm ơn vì đã chịu rắc rối để gặp anh hàng ngày nhé.”

“Đừng lo. Em thích thế mà.”

“Với cả bữa trưa em gói cho anh ấy—ngon lắm!”

“Thật không? Em vui lắm.”

“Em đã đi xa như vậy để đưa nó cho anh. Nên anh khó lòng mà phàn nàn được nhỉ?”

“Thì, cái gì tươi cũng ngon hơn mà.”

Có lẽ họ vẫn còn thấy có phần kì quặc khi bước bên nhau mà không nói gì, bởi chàng trai giữ một dòng trao đổi qua lại đều đặn. Nét hăm hở trong giọng anh ta thật ngây thơ và ngọt ngào.

Có vẻ là cô gái không chỉ ra gặp anh vào lúc chạng vạng; cô cũng mang cho anh bữa trưa vào ban ngày nữa. Có vẻ cô thấy đây là bổn phận của người vợ—hoặc có lẽ ấy chỉ là cái cớ để được gặp chàng trai.

“Hôm nay chúng mình, à, bọn anh làm việc ở mương tưới tiêu và những cánh đồng mới Chúa Tể Yukinari phát cho.”

“Ồ, vậy sao?” Cho đến nay cô gái vốn chỉ thuận theo những điều chàng trai nói, nhưng giờ cô hỏi một câu hỏi của riêng mình. “Em chưa gặp Chúa Tể Yukinari bao giờ… Ngài ấy thế nào?”

“Chúa Tể Yukinari á?!” Chàng trai nói, mắt sáng lên. “Ngài là một người tuyệt vời. Ngài dạy bọn anh cách mở rộng những con sông và thậm chí thay đổi dòng chảy của chúng! Ngài phát cho những cách đồng mới và cả phân bón. Anh vốn lo ngại khi mà thổ thần trước của chúng ta qua đời, nhưng anh không nghĩ chúng ta cần phải lo về vụ mùa thu này chút nào đâu!”

Chàng trai có vẻ hơi chút hào hứng. Có vẻ là, anh ta thực sự kính trọng Yukinari.

“Uao, thiệt hả? Anh đã bao giờ thấy Chúa Tể Yukinari làm một việc vĩ đại của ngài chưa?”

“Một việc vĩ đại à? Rồi!” chàng trai xúc động đáp. “Rồi, anh có! Ồ, thấy tận mắt cơ đấy! Có lần, có một tảng đá to bằng cỡ nhà chúng mình. Và ngài chỉ chạm một cái—tay ngài phát sáng, và chỉ một khắc sau cả cái thứ đều biến thành bụi!”

Anh ấy khá là mê mẩn Yukinari—vị thần mới của Friedland. Anh vui vẻ trả lời mọi câu hỏi của vợ mình về “Chúa Tể Yukinari.” Anh nói về những cô gái Berta và Dasa, lúc nào cũng ở bên Yukinari; anh kể câu chuyện đích thân Yukinari đã tới Rostruch để thiết lập giao thương; và rồi anh thuật lại cuộc chiến gần đây với các hiệp sĩ của Lệnh Truyền Giáo…

“Uao, thiệt hả? Thế còn Cô Ulrike thì sao?”

“Cô Ulrike hả? À, nữ thần trẻ con ở cùng với Chúa Tể Yukinari đúng không? Cô bé khá là dễ thương, thổ thần của Rostruch ấy… Mà thực sự, anh ấn tượng vì em biết tên cô bé đấy,” anh nói, chớp chớp mắt. “Mà thực ra… Khoan đã…”

“Vâng? Có chuyện gì ạ?”

“Giờ nghĩ lại thì, chẳng phải em… Chẳng phải em đã gặp Chúa Tể Yukinari hồi ngài gỡ những thứ mà đám truyền giáo đeo cho chúng ta sao? Thánh Dấu ấy?”

Khi Lệnh Truyền Giáo mới đặt chân lên Friedland, chúng đã đánh lừa dân thị trấn bằng lời lẽ của mình và buộc cho đa số họ cái ách Thánh Dấu, chiếc vòng cổ không khác mấy so với cái dùng cho gia súc. Biểu tượng khắc trên nó rõ ràng là của Giáo Hội Chân Chính Harris, nhưng đám hiệp sĩ truyền giáo có thể làm nóng những chiếc vòng cổ này, hỏa thiêu bất kì người thị trấn nào dám đối đầu với chúng. Và dĩ nhiên, những con Dấu không thể bị cư dân thị trấn cởi bỏ.

Ấy vậy mà Yukinari đã tháo chúng chỉ với một cú chạm. Đây là việc “việc vĩ đại” đầu tiên của ngài được nhiều cư dân thị trấn chứng kiến.

“N-Này…” chàng trai nhìn vợ mình vẻ nghi ngại; cô vẫn chưa trả lời câu hỏi của anh, nhưng đã chìm vào im lặng. “Mà kiểu gì thì, tại sao em lại quan tâm đến Chúa Tể Yukinari đến thế…?”

Cô gái vẫn không đáp, mà chỉ khẽ mỉm cười với chàng trai. Chàng trai chớp mắt liên hồi nhìn vợ mình.

“Khoan… Cái… Em là em, nhưng… là em phải không?” Anh chàng rất hoang mang. Anh không hiểu lắm tại sao tất cả chuyện này lại sai với mình đến thế. Chẳng phải anh đang nhìn vào khuôn mặt của vợ mình hay sao? Vậy mà… “… Em… Em…”

Con người đánh giá con người khác không chỉ ở những đường nét khuôn mặt rõ ràng nhất. Sự thay đổi nhỏ trong biểu hiện, dáng điệu, cử chỉ, cách bước đi hay thậm chí hít thở—có vô vàn tổ hợp của những thứ này, và cùng nhau chúng làm bật lên một cá thể đơn nhất. Có thể sao chép từng cái một, nhưng hợp lại với nhau, trông chúng vẫn có thể không đúng cho lắm.

“Em có thực… là em không?” Anh chàng cảm thấy mình đang bắt đầu nghi ngờ sự tỉnh táo của chính mình. Nhưng mặt khác, nó là một cách thể hiện anh yêu vợ mình nhiều đến mức nào. Cho dù không thể đặt tay vào từng khác biệt nhỏ nhặt, anh biết cô rõ đến mức có thể nhận thức được chúng.

Chẳng có ai khác xung quanh ngoài hai người họ. Nên chẳng có ai để mà cười vào câu hỏi ngớ ngẩn của chàng trai.

Đến cả cô gái trước mặt anh cũng giữ im lặng.

“Cứ… Cứ như thể em là…”

một người khác.

Đó có lẽ là điều anh ta định nói. Nhưng thứ thoát ra từ mồm anh kế tiếp không phải từ ngữ, mà là máu.

“Hựự—?”

Anh chàng ngạc nhiên nhìn xuống ngực mình. Nó đã xảy ra khi nào? Bất chợt quá, kinh ngạc là phải. Nhưng hiện một thanh kiếm dài, mỏng đang xuyên qua người anh. Lưỡi kiếm đã vào trong tận cơ thể, xuyên qua tim, và đi ra ở đằng lưng. Và vợ anh đang nắm tay cầm.

Không. Cô ta không phải. Người phụ nữ này không phải vợ anh.

Anh chàng đánh rơi cái cuốc keng một cái.

“Tạ— sa— …?”

Anh chẳng thể thốt lên lời được nữa.

Cô gái bỏ thanh kiếm ra và chàng trai khuỵu xuống, máu nhỏ xuống ngực, rồi chảy xa hơn sang một bên. Cô gái lặng lẽ nhìn anh một hồi. Rồi cô lẩm bẩm, “Ups, lộ mất tiêu rồi. Mình tham quá rồi chăng?”

Nhưng chàng trai dưới đất không thể trả lời. Anh đã mất quá nhiều máu, và cơn giãy chết đã bắt đầu; có lẽ anh còn chẳng thể nghe cô nói. Nhưng nếu có thể, anh hẳn sẽ nhận ra rằng mối nghi ngờ của mình là đúng: giọng người phụ nữ này đã khác trước, không còn là của vợ anh ta nữa.

Một buổi chiều đẹp đẽ, đầy nắng. Fiona đã được triệu tới một ngôi nhà khiêm tốn ở vùng ngoại ô Friedland. Đây không phải một chuyến viếng thăm cá nhân; mà là một yêu cầu gửi tới phó thị trưởng từ cộng đồng bảo an, với trách nhiệm giữ gìn an toàn công cộng.

“Xin lỗi vì làm phiền khi ngài đang quá bận rộn, thưa Phó Thị Trưởng,” một người đàn ông trung niên, quản lí của cộng đồng bảo an nói. Bác ta có một khuôn mặt được tạo hình bởi mái tóc và đầy râu. Cộng với thân hình to lớn, trông bác hơi giống một con gấu đang đứng bằng hai chân sau. Tên bác là Hans Cutel. Gia đình bác đã là chỉ huy của cộng đồng bảo an trong ba thế hệ.

“Không hề đâu,” Fiona đáp. “Bác nói có gì kì lạ đang xảy ra phải không…?”

“Vâng. Vào trong rồi hãy nói.” Hans gật đầu và ra hiệu vào trong nhà.

Trong lúc bước bên cạnh, Fiona nói, “Tôi tin là mình có nghe ai đó đã chết trong sự cố…”

“Vâng, thưa cô. Nếu chỉ là cái chết bình thường, chúng tôi đã chẳng phải làm phiền đến ngài phó thị trưởng. Nhưng trường hợp này…”

Như đã nhắc, gia đình Hans vốn là một phần của cộng đồng bảo an từ thời ông cố nội của và đã dính dáng đến nhiều chuyện diễn ra ở Friedland. Họ đã chạm trán với nhiều hơn là chỉ vài cái xác chết và mấy vụ giết người trong công việc của mình. Họ biết rất rõ cách để xử lí mấy vụ này, và một vụ giết người đơn giản sẽ chẳng cần đến sự chú ý của Fiona. Cộng đồng bảo an lẽ ra có thể tự họ giải quyết. Họ sẽ đệ trình một bản báo cáo, và đâu sẽ vào đấy.

“Ưg…”

Ngay khi vừa bước vào Fiona liền đưa tay lên bụm miệng. Không khí bên trong đặc quánh, và—

“Xin lỗi. Chúng tôi đã cố thông khí, nhưng mùi vẫn không chịu dứt.” Hans không có vẻ bận tâm về nó cho lắm; có lẽ bác đã quen với nó rồi.

“Không, không sao hết. Đừng lo về chuyện đó.” Fiona củng cố tinh thần và hướng sâu hơn vào trong.

Không thể nhầm lẫn được cái mùi tỏa khắp căn nhà là mùi của cái chết—mùi của thịt đang thối rữa.

Đây là một chỗ ở tương đối theo tiêu chuẩn Friedland. Nó bao gồm mọi thứ người ta sẽ thấy ở bất kì căn nhà nào trong thị trấn, ngoài ra chẳng còn gì khác. Bản thân nó bình thường. Có lẽ đồ đạc trong nhà thì mới. Theo những gì Fiona nghe được trên đường, căn nhà thuộc về một cặp vợ chồng trẻ.

“Phía này.”

Cô theo Hans tới phòng ngủ. Trên chiếc giường nằm chính giữa phòng có duy nhất một cái xác. Giờ thì cái mùi thối rữa như đang hiển hiện trước mặt; Fiona liếc nhìn. Cô đã chứng kiến nhiều thứ với tư cách phó thị trưởng, và đây không phải các xác đầu tiên, song cô chưa từng thấy cái nào bị phân hủy hết sức như cài này.

Sự phân hủy thường diễn ra khi ai đó chết trên núi hoặc chết đuối dưới sông—những nơi mà có lẽ cần thời gian để thi thể được phát hiện. Nhưng ngay chính trong thị trấn, trong nhà người ở—thì rất là lạ.

Fiona thấy khó khăn để mà muốn lại gần nhằm khám nghiệm những điểm riêng biệt của cái xác. Mà theo những gì có thể thấy, vùng ngực đặc biệt đen ngòm. Màu sắc cho thấy một lượng lớn máu khô thì đúng hơn là sự phân hủy.

Người này đã ói ra máu ư? Hay là…

“Họ đã chết vì bệnh? Hay là bị giết…?”

Khó mà tưởng tượng được một người vô tình tử nạn trong lúc đang nằm trên giường. Friedland là một thị trấn tương đối yên bình, nhưng bất cứ nơi đâu có lượng lớn con người tụ tập, thì không thể nào tránh khỏi những cuộc cãi vã nghiêm trọng. Và không may thay, không thể nào mà không có những thể loại ẩu đả đôi lúc dẫn đến giết chóc.

“Giết người,” Hans xác nhận. “Có một vết thương ngoài da—trông như vũ khí có lưỡi. Nằm bên trái ngực. Một cú đâm, xuyên thẳng qua tim.” Bác chỉ vào ngực mình.

Hans hẳn đưa Fiona tới căn phòng này vì muốn cô tận mắt chứng kiến thi thể. Thấy rằng khó mà để cô ở lại lâu hơn được nữa, bác dẫn cô trở ra ngoài phòng ngủ.

“Thi thể là của anh chàng sống trong căn nhà này.”

“Vậy là anh ta bị giết trong chính nhà của mình.”

“Cái đó thì vẫn đang trong quá trình điều tra, thưa cô. Có vài vết máu ở hành lang, nên có thể anh ta bị giết ở chỗ khác rồi chuyển đến đây.” Hans nói bình thản, thực sự là thản nhiên. Vậy là bác và người của bác đã khám nghiệm không chỉ cái xác, mà cả bên trong ngôi nhà. “Anh ta mới kết hôn gần đây. Và nói về người vợ thì—”

“Để tôi đoán. Mất tích sao?”

“Đúng là vậy,” Hans gật đầu.

Nếu vợ anh ta còn ở quanh đây, thi thể có lẽ đã được phát hiện sớm hơn.

“Vậy tức là có khả năng cô ấy đã bị bắt cóc?” Fiona nói.

“Không, thưa cô. Như vậy chắc chắn sẽ khiến mọi thứ đơn giản hơn.” Khuôn mặt đầy râu của Hans nhăn nhó. “Theo những gì xảy ra, anh chàng này đang làm việc trong công cuộc phát triển ở một trong những cánh đồng mới ngoài thị trấn. Có vẻ là, anh ta đã không đi làm mấy ngày liền.”

Những người khác làm việc chung dự án đã trở nên lo ngại về sự vắng mặt của anh chàng, và đã tới nhà anh ta để kiểm tra. Theo Hans kể, ấy là bảy ngày trước.

“Khi họ xuất hiện, vợ anh ta mở cửa và nói chồng mình bị khó ở, do cảm lạnh.”

Fiona có linh cảm xấu khi nghe chuyện của Hans. Bảy ngày trước. Không phải mười hay thậm chí mười hai.

“Tôi không phải là chuyên gia,” Fiona nói, cố không nôn mửa trước mùi hôi thôi ngay cả khi nói. “Nhưng tôi thề là thi thể đã ở đó ít nhất mười ngày rồi…”

“Chúng tôi cũng nghĩ vậy, thưa Phó Thị Trưởng. Và cũng xảy ra việc mà sự vắng mặt đi làm không giải thích của anh chàng chính xác bắt đầu từ mười ngày trước…”

Fiona không nói gì cả. Nói cách khác, nếu anh chàng này đã chết mười ngày trước, và bảy ngày trước vợ anh ta lại gặp những dân làng viếng thăm, vậy tức là cô ta biết về cái chết của anh chàng và đã nói dối họ. Hay là, mà khoan. Nếu anh chàng đã bị giết ở chỗ khác rồi sau đó mới được đem về nhà, thì có thể cô gái không biết về cái chết của chồng mình khi nói chuyện với mấy người đồng nghiệp. Nhưng nếu thế, anh ta vẫn sẽ phải mất tích ba ngày tại thời điểm đó. Vậy mà cô ta lại bảo họ anh chàng bị cảm lạnh.

Lời nói dối đã đủ để đuổi các đồng nghiệp của anh đi. Nhưng khi mà anh ta vẫn không đi làm bốn ngày sau, họ bắt đầu nghi ngờ. Nếu cơn cảm lạnh không đỡ hơn, ít nhất anh ta cũng phải gửi lời. Họ lo rằng có khi bệnh đã lây sang vợ anh ta và cả hai người họ đều ốm, nên các đồng nghiệp trở lại nhà của anh chàng.

Tuy nhiên, lần này, cả anh chàng lẫn vợ anh ta đều không ra mở cửa. Nó được khóa chắc, nhưng một người hàng xóm bảo họ rằng có thấy người vợ rời khỏi nhà sáng hôm dó.

Vẫn không biết chuyện gì đã xảy ra, các đồng nghiệp của anh chàng lại bỏ đi.

“Lại ba ngày sau đó nữa,” Hans nói trong lúc dẫn Fiona ra khỏi nhà. “Nói cách khác, là hôm nay. Đám người trở lại một lần nữa. Họ nói là có thể ngửi thấy mùi chết chóc hôi thôi ngay khi bước đến cửa.”

Nói cách khác, mùi hôi của xác chết thối rữa đã thực sự thấm vào cả căn nhà. Cánh cửa vẫn bị khóa chặt, nhưng mùi thì phả ra qua cả cửa lẫn cửa sổ. Giờ thì chắc chắn là có điều không ổn, mấy đồng chí công nhân tranh thủ sự giúp đỡ của người hàng xóm để phá cửa ra, và khi vào trong, họ phát hiện ra thi thể.

“Giả thuyết rõ ràng nhất là có rắc rối gì đó giữa hai người họ, và kết cục là vợ giết chồng. Sau đó, cô ta cố đuổi đám đồng nghiệp của anh ấy đi bằng cách nói rằng anh bị ốm.”

“Phải, hợp lí đấy.”

“Điều đó tức là theo giả thuyết rõ ràng nhất, người vợ chính là hung thủ. Song điều kì lạ về điều đó là cô ta lại sống với thi thể trong vài ngày.”

“Hừm…”

Đúng là, hành vi đó không hợp lí cho lắm. Phải chăng cô ta muốn che giấu việc giết chồng? Nhưng rõ ràng là đằng nào cô ta cũng bị kết tội giết người, vậy tại sao không rời di càng sớm càng tốt? Có thể Friedland là một thị trấn vùng biên giới, nhưng vẫn còn nhiều nơi để một người quyết tâm bỏ trốn trốn được. Cô ta đã có thể chờ thời cơ và gia nhập một đoàn thương gia hướng đến một thị trấn khác khi cơ hội đến.

Có một sự kỳ quái trong vụ này mà Fiona không tài nào chạm tới được. Phải chăng người vợ đã phát điên sau khi giết chồng mình?

“Chúng ta không rõ một việc như vậy có thể dẫn đến điều gì,” Hans nói giọng thờ ơ. “Cộng đồng bảo an sẽ đề cao cảnh giác, nhưng… có lẽ, là phó thị trưởng, ngài có thể đảm bảo toàn thể Friedland được canh phòng chặt chẽ được không?”

“Phải rồi.”

Vẫn không chắc rằng người phụ nữ là hung thủ, nên công khai sự vụ ra xme chừng là bất cẩn. Nhưng còn có những người và tổ chức bên cạnh cộng đồng bảo an đóng góp cho an ninh công cộng. Cô cha là, chắc ít ra có thể bàn luận với họ. Yukinari chẳng hạn—cậu không những có sức mạnh to lớn, mà lại còn khá thông minh. Có khi cậu sẽ không chỉ nảy ra một cách hay để giữ an toàn cho thị trấn; mà còn phá được luôn vụ án—nhận ra điều gì đó mà Fiona và những người khác đã bỏ lỡ, chẳng hạn.

“Được rồi. Tôi sẽ nói chuyện với một số người tôi nghĩ là có thể giúp chúng ta.”

“Vâng. Cảm ơn,” Hans cúi đầu nói.

Fiona đưa ra vài lời động viên cho những thành viên của cộng đồng bảo an đang chờ bên ngoài, rồi cất bước trở lại dinh thự.

Yukinari là thần của Friedland.

Fiona và cư dân của thị trấn trông chờ cậu thế chỗ thổ thần của họ, vị mà Yukinari, theo sự vụ, đã giết. Và một phần của việc làm thần là bảo vệ thị trấn và các vùng ven nó.

Thổ thần là một con vật mà, vì lí do này khác, đã trở nên thông minh và bắt đầu gia tăng sức mạnh tâm linh của mình, cuối cùng hình thành một liên kết tâm linh với mảnh đất lãnh thổ của nó. Kết quả là, thổ thần cực kì mạnh và về cơ bản là bất tử, và chúng có thể thao túng mảnh đất được liên kết gần như là một phần cơ thể của chúng.

Ngay cả một nơi tương đối hoang cũng có thể được khiến cho màu mỡ hơn ở một mức độ nào đó, ít gặp thiên tai hơn, bằng cách hợp nhất với thổ thần. Đó là lí do tại sao con người thờ phụng những sinh vật này là “thần của đất,” hay thổ thần. Những thực thể này làm những điều vượt xa sức mạnh của con người. Thổ thần có thể khiến một khu vực trở thành ở được đối với con người.

Tuy nhiên, bị hợp vào đất cũng đồng nghĩa với việc thổ thần bị hấp thụ bởi lãnh thổ của nó. Nhằm kiểm soát “thân thể” đồ sộ của mình, ý thức của thổ thần dần dần bị xé mỏng đi, trở thành một phần của đất. Sau cùng chính sự tồn tại của nó bắt đầu phai nhạt dần bởi thổ thần trở nên không thể níu giữ lấy những suy nghĩ và cảm giác khiến nó là chính mình được nữa.

Nhằm ngăn chặn sự tiêu tan này, thổ thần tìm cách bảo toàn sức mạnh tâm linh của nó, trí thông minh của nó. Có một vài cách để thực hiện, nhưng đơn giản và hiệu quả nhất là ăn một sinh vật thông minh khác. Và có một loài sinh vật vừa có sức mạnh tâm linh bẩm sinh nhiều nhất vừa có số lượng lớn nhất: loài người.

Vì lí do này, thổ thần sẽ đòi hỏi vật tế sống từ những người sống trong lãnh thổ của chúng. Và để đảm bảo nguồn cung vật tế ổn định, vị thần sẽ bảo vệ con người của nó khỏi những đợt tấn công từ các quái vật khác, đặc biệt là ngoại thú và á thần. Nó sẽ tấn công bất kì sinh vật nào như vậy lại gần mảnh đất của nó.

Yukinari đã giết một vị thổ thần này.

Kết quả tất yếu là tất cả những á thần và ngoại thú từng bị xua đuổi bởi thổ thần nay lũ lượt kéo đến Friedland. Nếu một á thần ăn đủ người và gia tăng đủ sức mạnh tâm linh, nó có thể trở thành một á thần mạnh mẽ hơn; sau khi đạt đến trạng thái á thần, nó có thể tìm cách để trở thành thổ thần.

Nhưng chẳng có gì đảm bảo vị thổ thần kế tiếp sẽ giống như vị trước. Có thể nó sẽ có thói tham ăn hơn, đòi gấp năm mười lần lượng vật tế so với vị thần cũ. Thay vì đánh cược một cách nguy hiểm như thế, Fiona và cư dân thị trấn xét rằng khôn ngoan hơn cả là tôn Yukinari làm vị thần mới và nhờ cậu đảm nhiệm vai trò của thổ thần.

Vậy thành ra Yukinari là người canh giữ Friedland và đánh đuổi hoặc tiêu diệt bất kì á thần hoặc ngoại thú nào dám tấn công.

“Sao mà, ngươi—!”

Yukinari làm một cú quét ngang với Durandall—khẩu Winchester M92 Randall Tự Chế của cậu, mẫu súng cacbin tùy chỉnh để bao gồm cả kiếm. Nhưng đối phương của cậu nhanh và lẹ hơn vẻ bề ngoài, né đòn của cậu. Kẻ địch nhảy lùi ra sau, nới rộng khoảng cách.

“Xem chừng con cá này lớn hơn mình tưởng,” Yukinari lẩm bẩm, liếc nhìn xuống chỗ áo bị xé bởi móng vuốt của sinh vật.

Hiện tại, Yukinari đang ở hơi xa Friedland. Cậu đang đi tuần quanh vùng ngoài cánh đồng, chạy dọc quanh ngoại ô thị trấn. Cậu đang cưỡi phương tiện hai bánh—hay đúng hơn là, bốn bánh mà cậu tạo ra, Sleipnir.

Mặc cho kích cỡ lớn, Sleipnir thực chất lấy mẫu từ xe mô tô và không thể được hơn hai người ngồi, nên chỉ có Dasa đi cùng Yukinari.

Và trong chuyến đi tuần này, hai người họ phát hiện ra một con ngoại thú.

Một sinh vật bốn chân phủ lông đen. Có lẽ ở thời điểm nào đó nó từng là một con sói. Giờ thì khó mà nói được, bởi nó gần to gấp đôi con sói thường. Vả lại, đầu nó chẳng còn giống sói, đã trở thành một thứ cho phép nó há mồm rộng hơn, có lẽ là để ăn con mồi cho hiệu quả. Rắn đôi khi ăn những thứ lớn hơn mình gấp nhiều lần; tương tự, con quái vật này trông như có thể nuốt chửng một con người nhỏ bé.

Ấy vậy mà mặc cho bề ngoài cổ quái, trông nó cũng có vẻ… giống con người. Không hẳn là kiểu người sói; mà là kiểu người thú.

Khó mà tìm ra nổi một sinh vật gớm guốc hơn. Bất cứ ai đầu óc bình thường mà thấy nó hẳn đã chết ngất. Nhưng điều này không có nghĩa là tất yếu Yukinari phải coi nó là một đối thủ đáng sợ.

Durandall được nạp những viên đạn .44 Magnum với đầu thiết kế đặc biệt để săn bắn. Cậu cũng có thể dùng vỏ quá tải để tăng sức mạnh xuyên phá, nhưng chỉ khi đã sẵn sàng để làm hư hại khẩu súng trong quá trình. Bắn tỉa từ xa dĩ nhiên là không thể, nhưng cậu có một cách để tấn công con thú mà không phải giáp lá cà với nó.

Nhưng hôm nay, phản ứng của Yukinari đã quá trễ; con quái đã nhảy lên người cậu từ ngọn cây. Do đó cậu đã thấy áo mình bị rách và vết xước trên vai trái trước khi kịp bắn nổi một phát.

“Yuki…!” Dasa thét lên, hốt hoảng.

Yukinari dừng Sleipnir lại và nhảy khỏi yên.

“Ở yên đấy,” cậu ra lệnh. Dasa khẽ gật đầu.

Có lẽ con ngoại thú định sử dụng chiến thuật thả diều, bởi nó đã tạo khoảng cách khỏi Yukinari và Dasa, lẩn tránh trong đám cây cối. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó đã chạy mất. Âm thanh xào xạc lá vẫn gần bên.

Nó vẫn chưa từ bỏ ý định ăn thịt họ.

Yukinari di chuyển về phía trước, Durandall trong tay.

“Ra đây. Ta ở ngay đây nè,” cậu nói vào bụi cỏ.

Một khắc sau—

 

 

Rrroowr!

 

Một tiếng hú ngắn, sắc lẻm, và ngoại thú xồ ra khỏi bụi cây thấp. Yukinari giơ tay trái trống không lên. Ngoại thú há to mồm ra để ngoạm cậu. Răng nanh nó xé toạc ống tay áo; nó nuốt chửng bàn tay, rồi khuỷu tay, và rồi hàm nó sắp sửa chạm đến…

“…Ê.”

Chúng chẳng bao giờ có cơ hội.

Tay Yukinari, nay ở sâu trong họng con quái, nắm chặt lấy thứ gì đó bên trong. Con quái kinh ngạc rúng động và đứng hình.

Người ta bảo nếu thò tay vào mồm con chó và nắm lưỡi nó, cả người nó sẽ không cử động được nữa. Ngoại thú lại khá là giống chó. Yukinari không biết liệu điều đó có tức là nó có điểm yếu tương tự không, nhưng cậu luận ra nó sẽ không thích có cánh tay người thò xuống thực quản mình, nắm lấy vài cơ quan bên trong chút nào cả.

Nói chung, ngoại thú được tạo thành từ những con thú bị thu hút vào một sinh vật lõi đơn nhất. Do đó, giống như sâu và một số loài bò sát, chúng có thể tách thân ra; điều này tức là ngoại thú có thể tách rời nhằm chạy khỏi Yukinari.

Yukinari, dĩ nhiên, sẽ không để nó làm vậy.

Yukinari giương Durandall, đâm vào người sinh vật. Khi đã chắc nó gần như ngập vào trong ngoại thú, cậu lại bắn.

Một tiếng rống.

Một viên .44 Magnum trúng vào ngoại thú từ khoảng cách gần hơn cự li gần. Nhưng một phát là không đủ. Yukinari buông tay cầm Durandall một lát, kéo đòn bẩy nạp đạn và bắn thêm năm viên vào kẻ địch.

 

Vrrahhh!

 

Điều này rõ ràng là có tác dụng, hoặc có lẽ cậu đã ăn may trúng một phát vào sinh vật lõi. Ngoại thú mất sức và bắt đầu co giật. Yukinari rút tay trái ra khỏi mồm sinh vật—nhưng rồi nhăn mặt.

“Yuki, anh… ổn chứ?”

Dasa một tay cầm Ớt Đỏ. Cô nàng hẳn có ý định yểm trợ cậu nếu cần thiết.

“Chắc rồi. Anh đoán mình đang khá là bốc mùi,” cậu nói, nhìn xuống tay mình.

“Yuki, anh không được… mất cảnh giác.”

“Ừm, có lẽ anh hơi hấp tấp,” cậu nhăn mặt nói.

Đã hơn sáu tháng kể từ khi cậu tới Friedland. Có lẽ là bởi việc cậu đi tuần mỗi ngày, nhưng không thể phủ nhận rằng cậu có hơi thoải mái quá.

Mà, đột nhiên, Yukinari chìm vào im lặng.

“Yuki? Chuyện gì thế?”

“Khoan một chút.” Cậu đang chăm chú để ý con ngoại thú nằm dưới đất. Bản thân đây là vấn đề của việc không mất cảnh giác. Bản năng sinh tồn của thú hoang đôi khi hơn hẳn trí thông minh con người. Một số loài động vật được biết có trò giả chết, khiến cho nhìn qua khó mà nói được chúng đã thực sự nghẻo hay chưa.

Yukinari lại đâm Durandall vào kẻ địch, nhưng không có phản ứng. Cậu nghi ngờ việc một con vật giả chết có thể che đậy phản ứng đến mức này. Cậu cáo xước da con quái, nhưng máu từ từ chảy ra. Bằng chứng cho thấy tim đã ngừng đập.

“Ồ…” Dasa nói.

Nguồn cơn cho sự ngạc nhiên của cô nàng là tiếng uỳnh khẽ khi thi thể sụp đổ. Liên kết tâm linh bị phá vỡ, nó phân tách trở lại thành những con vật hợp thành. Yukinari thọc từng con bằng Durandall, để chắc con lõi đã chết hẳn, nhưng không hề có phản ứng từ con nào cả.

Mãi lúc đó Yukinari mới chịu đặt vũ khí lên mình Sleipnir. Cậu quỳ xuống thi thể lớn nhất và dùng cả hai tay để cạy mở hàm nó ra.

“Anh nghĩ vậy,” cậu gật đầu. Cậu lôi ra cái thứ mà có vẻ là cậu đã mong đợi.

“Băng tay…?” Dasa nhìn nó. Nó phủ trong nước bọt ngoại thú. Làm bằng đá cuội và kim loại, nó bị kẹt trong răng của con quái.

“Anh đã cảm thấy nó khi thò tay vào trong,” Yukinari nói.

“Nó là của một người… mà nó ăn ư…?”

“Có lẽ.” Yukinari nhăn mặt. “Có lẽ ai đó làm rơi, nhưng anh không thể tưởng một con ngoại thú tự dưng lại đi ăn một cái băng tay.”

“Đúng là thế.”

“Nói cách khác, có khả năng nó ăn thịt chủ nhân của cái bằng này trong lúc anh ta hoặc cô ta đang đeo nó.” Cái băng bị kẹt ở rằng và tránh được bị tiêu hóa.

Sau một hồi im lặng, Yukinari nói, “Anh không trông mong gì vào điều này, nhưng mà…” Rồi, cậu lại nắm lấy Durandall và thọc nó vào bụng con quái. “Vì là nó đã chết rồi, nên anh không nghĩ sẽ có máu phun ra gì cả, nhưng cứ lùi lại đi. Cho chắc.”

“Mn…”

Dasa ngoan ngoãn lùi lại và nhìn Yukinari rạch bụng con quái ra bằng vũ khí của mình. Khi vết rạch đã đủ rộng, cậu lại bỏ súng sang bên và bắt đầu cảm nhận cái lỗ bằng hai bàn tay của mình.

“Ưg…” Mặt cậu nhăn lại trước mùi tiêu hóa hôi thối bốc ra từ bụng sinh vật khi ngón tay cậu lục tìm thứ bên trong. Cậu thấy thứ mình tìm, cắt nó ra bằng Durandall, và cuối cùng đưa ra chính xác thứ cậu mong đợi: một cái sọ người, hay chí ít là một phần của nó.

“Có phải ai đó từ Friedland không…?” Dasa hỏi từ chỗ mình ở cách xa một quãng.

“Chúng ta không biết chính xác lãnh thổ của con này đến đâu, nhưng thiết nghĩ mọi xương xẩu đều sẽ bị tiêu hóa hoàn toàn trong khoảng thời gian nó cần để tới từ một làng hay thị trấn khác.”

Sự thật là, đến cả hộp sọ cũng không còn nguyên vẹn. Kiểm tra phần còn lại trong dạ dày thì thấy vài mẩu xương chậu và khúc xương đùi, những khúc xương tương đối chắc. Mọi thứ khác có vẻ như đã bị tiêu hóa. Yukinari dự đoán quá trình sẽ phải mất đến hơn một hai ngày…

“Cái gì đây? Nhẫn à…?” Có thứ gì đó còn sót lại cùng đống xương; có lẽ nó sống sót được vì làm bằng kim loại. “Có lẽ hai thứ này sẽ đủ để nhận diện chủ nhân của chúng.”

Nó không phải là thứ đồ được sản xuất hàng loạt, và nhìn kĩ hơn thì thấy có vẻ một cái tên được khắc ở mặt trong. Nó cực kì bẩn, hiện tại khó mà nhìn ra được, nhưng làm sạch một chút là ổn thôi. Và một khi biết được những đồ vật này thuộc về ai, có lẽ những vật dụng này có thể được trao trả lại cho gia đình của họ.

“Nếu họ đến từ Friedland, thì mình phải có trách nhiệm,” Yukinari lẩm bẩm.

Rõ ràng là, cậu không thể tuần tra mọi thứ bên ngoài thị trấn và những cánh đồng, cũng như không thể để mắt tới mọi cá nhân bất cẩn lượn lợ tới vài nơi nguy hiểm. Ấy vậy mà cậu không khỏi nghĩ rằng giá như mình mạnh hơn, đủ mạnh để á thần và ngoại thú biết đường tránh xa lãnh thổ của cậu, thì có lẽ đã ngăn được việc người này trở thành nạn nhân.

“Không phải lỗi của… anh, Yuki.”

“…Cảm ơn.”

Cậu lau tay trái bằng một miếng vải rồi lại leo lên Sleipnir.

Khi trở lại Friedland, Yukinari đi thẳng đến dinh thự Schillings.

Đây thực chất là quy trình bình thường của cậu. Yukinari là thần của Friedland, và với màu tóc và mắt bất thường, cùng với phong cách ăn mặc tương đối độc đáo, cậu có xu hướng nổi bật hẳn lên. Hay đúng hơn là, một cách tự nhiên cậu thu hút sự chú ý của cư dân thị trấn. Dân tình có khuynh hướng nghĩ rằng bất cứ lúc nào thần của họ ra ngoài, thì tức là có lí do quan trọng; dự liệu và lo âu sẽ lan tỏa. Cho dù Yukinari chỉ cảm thấy tự nhiên muốn đi dạo, người thị trấn vẫn sẽ cho là có ý đồ sâu xa trong cuộc đi chơi của cậu.

Và thế là thành ra cậu bắt đầu và kết thúc những chuyến đi của mình tại dinh thự của Fiona, như một cách để bảo mọi người rằng đây chỉ là chuyến đi tuần bình thường. Kể từ hồi đến Friedland, Yukinari đã nhận ra rằng đến cả những vị thần cũng có vấn đề của riêng mình.

Dĩ nhiên rồi…

“Cả cái này nữa,” cậu lẩm bẩm trong lúc đỗ Sleipnir trước dinh thực và nhảy xuống, cực kì nhận thứ được cái túi lông nhỏ bên hông mình. Nó chứa đựng, dĩ nhiên, chiếc băng tay và nhẫn cậu thu hồi từ ngoại thú. Những khúc xương thừa cậu đã gói riêng và chở bằng Sleipnir. Cậu tính là sẽ chôn cất chúng ở nghĩa trang Friedland sau này.

Fiona là phó thị trưởng của thị trấn. Lẽ dĩ nhiên thông tin đến chỗ của cô. Có thể cô không biết mọi chi tiết, nhưng nếu có người bị mất tích trong thị trấn, chắc chí ít cô cũng phải có báo cáo về sự vụ. Có thể nó sẽ cho Yukinari lời gợi ý cần thiết để tìm ra người sở hữu món đồ trang sức này.

Cậu ung dung chào gia nhân, như mọi khi khi bước vào dinh thự Schillings.

“Hửm?”

Trong phòng khách, cậu thấy Berta và Ulrike. Berta, cậu cho rằng, đã lại tới để chăm sóc Angela, vẫn còn ở căn phòng dưới lòng đất, và Ulrike hẳn đã đi cùng cô từ thánh địa để đề phòng. Nên không ngạc nhiên lắm khi thấy hai người họ ở đó, nhưng cả Fiona cũng ở trong phòng, và có vẻ đang bàn bạc với họ điều gì đó.

“Sao thế? Có gì không ổn à?” Yukinari hỏi, bối rối trước bầu không khí ảm đạm.

Fiona ngước nhìn, có vẻ là giật mình khi nghe cậu nói. “Yukinari, đúng lúc lắm,” cô nói.

“Vậy sao?” Những chuyến viếng thăm dinh thự này, như đã đề cập, hoàn toàn là thủ tục. “Có chuyện xảy ra à?”

“Phải, đó là—” Fiona khẽ lắc đầu. “Xin lỗi. Trước hết, hãy nói về chuyến đi tuần của anh.”

Rõ ràng là cô cho rằng cậu sẽ đưa lời báo cáo điển hình “không có gì bất thường.” Cô đã có thể dễ dàng bảo cậu hoãn lại; rằng cô có dấu hiệu không phải là một phó thị trưởng có quy củ.

“Tôi có tìm thấy thứ hơi kì lạ,” Yukinari nói. Gần như cảm thấy có lỗi, cậu trình ra chiếc băng tay và nhẫn từ trong túi và đặt chúng lên bàn.

“Gì thế này?” Fiona hỏi. “Trông như là… băng tay và… nhẫn?”

“Ừm. Thực ra…” Và Yukinari tiếp tục đưa ra một phiên bản rút gọn các sự kiện. Việc cậu bị ngoại thú tấn công. Việc cậu dễ dàng đánh bại con quái nhưng tìm thấy xương trong người nó có vẻ là của con người. Việc những phụ kiện này cũng đươc tìm thấy ở đó. Xét theo tình trạng của xương và đồ trang sức cậu đoán nạn nhân không ở xa lắm khi họ bị ăn thịt. Nói cách khác, có khả năng cao là một người từ Friedland.

Fiona lắng nghe cậu nói với vẻ đau đơn trên khuôn mặt—nhưng khi Yukinari bảo cô về cái tên khắc trong chiếc nhẫn, cô tái nhợt hẳn đi.

“Yukinari. Anh chắc chứ?”

“Ế… Ừm. Tôi nghi nó là… tên của người sở hữu chiếc nhẫn này. Mà cũng không chắc được.” Có phần bị dọa bởi phản ứng của Fiona, Yukinari nhặt chiếc nhẫn lên và đưa cho cô. Cậu vốn đã rửa nước bọt ngoại thú đi và phơi chiếc nhẫn, nên trông nó không còn bẩn thỉu một cách kinh tởm nữa.

“Có chuyện gì vậy?” Yukinari hỏi.

“Mình chưa bao giờ mong đợi lại có được vật chứng từ bên trong một con quái vật,” một phút sau Fiona lẩm bẩm. Rồi cô nhìn Yukinari như thể vừa nhớ ra cậu ở đó. “Thực ra chính tôi cũng đang tìm người phụ nữ này. Vấn đề tôi muốn giải quyết có liên quan đến cô ấy…”

“Biết ngay mà. Mất tích hả? Gia đình cô ấy hẳn là lo lắm.” Yukinari cảm thấy đôi chút tội lỗi.

Nhưng Fiona nói, “Không, họ không đâu.”

“Gì cơ…?”

Thế thì có thể là gì?

“Thực ra, có điều kì lạ đang xảy ra trong thị trấn,” Fiona nói. “Hoặc tôi nên nói là, đã xảy ra trong thị trấn.” Cô liên hệ đến việc xác chết thối rữa của chàng trai đã được phát hiện trong căn nhà, và vợ anh chàng có lẽ là hung thủ. “Nên theo giả thuyết, nếu cô ấy là hung thủ, chúng tôi nghĩ sẽ nguy hiểm khi mà để một người làm điều kì lạ như vậy được tự do.”

Và Yukinari, hoàn toàn tình cờ, đã phát hiện ra thứ có vẻ là những gì còn lại của cùng một người phụ nữ.

“Nên có lẽ con ngoại thú đó đã tấn công trong lúc cô ta cố gắng bỏ chạy. Dẫu thế nào, cô ta sẽ không thể gây hại thêm được nữa.” Chỉ có một nét nhẹ nhõm trên mặt Fiona.

Chính xác cô đã muốn nói chuyện với Yukinari về cuộc tìm kiếm người phụ nữ này và khả năng tăng cường phương pháp giữ an toàn cho thị trấn. Nhưng với sự qua đời của nghi phạm, thì chẳng có gì phải lo nữa. Ấy vậy mà…

“Khoan, chờ đã,” Yukinari cau mày nói. “Tất cả những gì chắc chắn là cái tên trên chiếc nhẫn. Chúng ta không biết liệu những chiếc xương tôi thấy trong con quái có thuộc về người phụ nữ hay không.”

Cậu đang nghĩ về những cuốn tiểu thuyết trinh thám mình từng đọc ở thế giới trước, khi còn là một học sinh trung học bình thường. Đây có thể là đánh lạc hướng, một nỗ lực cố ý để đưa cuộc điều tra đi sai hướng. Thi thể và vật dụng cá nhân vốn là những thứ tách rời nhau. Chỉ vì chúng được tìm thấy cùng nhau không có nghĩa những gì còn lại thuộc về người phụ nữ bị tình nghi. Có khi người phụ nữ đã cố đánh lạc hướng những người truy đuổi bằng cách cho người khác mặc đồ của mình và để ngoại thú ăn thịt họ.

Và rồi còn có…

“Ngày.”

Tiếng nói khẽ không phải Yukinari mà từ Dasa.

“Ngày làm sao cơ?” Fiona hỏi.

“Anh chàng bị giết mười… ngày trước. “Cô gái được… ghé thăm bảy ngày trước. Và cô ta được thấy lần cuối ba ngày trước.” Cô bình tĩnh liệt kê ra những sự việc. “Nhưng những gì còn lại… chúng tôi tìm được trong ngoại thú hẳn… ít nhất đã phải bảy ngày.”

“Ồ!” Fiona thốt lên. “Cô chắc về điều đó chứ?”

“Ít nhất là bảy ngày,” Dasa nói. “Có lẽ là mười ngày hơn. Xương… đặc biệt khó tiêu hóa. Ở phòng thí nghiệm… của chị tôi, chúng tôi biết điều đó khi phải tiêu hủy những… thi thể dùng cho thí nghiệm.”

Theo lời Dasa, nhà giả kim Jirina đã tạo ra vài homuncili, con người nhân tạo, trước Yukinari. Nhưng mặc dù về mặt thể chất chúng tương tự như con người, chúng lại thiếu năng lượng tâm linh hoặc bản ngã; vả lại, tim chúng không tự đập. Chúng, thực tế mà nói, là những xác chết—và bởi chúng không có tác dụng, Giáo Hội đãbí mật ra lệnh tiêu hủy chúng.

Nhưng vì chẻ ra hay mang thiêu thì sẽ thu hút quá nhiều sự chú ý, Jirina chọn cách phân hủy thi thể trong axit. Gần như thể các xác chết đang được tiêu hóa trong một dạ dày nhân tạo. Ngay cả thế, phải mất hơn mười ngày mọi thứ mới mất hẳn.

Chẳng ai biết liệu dạ dày ngoại thú có chứa đựng chính xác các hóa chất tương tự không, nên không thể nói chắc, song có vẻ là axit dạ dày của sinh vật đó sẽ không mạnh hơn tác nhân Jirina sử dụng. Tức là…

“Nó không ăn khớp,” Fiona lẩm bẩm.

Anh chàng đã bị giết khoảng mười ngày trước. Bảy ngày trước, vợ anh ta đã xuất hiện trước cửa nhà và bảo những vị khách anh chàng bị khó ở với cơn cảm lạnh; đó là lí do cô ta bị tình nghi ngay từ đầu. Và cuối cùng, một nhân chứng đã trông thấy cô ta ba ngày trước. Ấy vậy mà dường như ít nhất bảy ngày đã trôi qua kể từ khi chủ nhân chiếc nhẫn bị ngoại thú ăn thịt.

Vậy thì người phụ nữ mà nhân chứng trông thấy là ai?

Về việc đó, nếu những gì còn lại thực sự thuộc về cô gái, và nếu cô ta đã bị ngoại thú ăn thịt hơn mười ngày trước, vậy tức là cô ta đã chết khi chồng mình bị giết.

“C-Có khi nào cô ấy là… một con ma không…?” Berta hỏi đầy sợ hãi.

Chắc là ngay cả ở thế giới mà quái vật đi lại như rươi theo nghĩa đen, thì ma vẫn còn đáng sợ chán, Yukinari nghĩ. Nhưng có lẽ quái vật và ma đáng sợ vì những lí do khác nhau. Nỗi sợ ngoại thú và á thần và thổ thần là phản ứng mang tính bản năng cắm rễ trong khát vọng tránh khỏi cái chết. Nhưng việc sợ ma là một điều thuộc về trí óc hơn—chúng bất chấp những dự tính thông thường về thế giới, khiến con người tự đặt câu hỏi về vị trí của mình. Sống và chết. Tồn tại và không tồn tại. Ma khiến cho đến cả những giả định chính gốc này dường như còn đáng ngờ.

“Cá nhân tôi không tin vào ma, nhưng vì để bàn luận thì cứ cho là chúng tồn tại,” Yukinari nói. Fiona, Dasa, Berta và Ulrike đều nhìn cậu. “Ý tôi là, có lẽ cô ta là xác sống thì đúng hơn là ma…”

“Xác… sống…?” Dasa hỏi, hoang mang.

Trong tất cả người có mặt, Dasa là người am hiểu loại kiến thức hiếm hoi này nhất, nhưng đến cả cô nàng dường như còn chẳng biết thây ma là gì.

“Xin lỗi. Nó, ờ… Khi một sinh vật sống chết đi, nhưng rồi… thế nào đó lại bắt đầu cử động…” Nó thành ra khó giải thích một cách ngạc nhiên.

“Ở thế giới này, nơi mà y học và những điều tương tự không phát triển nhiều, ngay cả bản thân định nghĩa về cái chết còn có chút mơ hồ. Thậm chí ở thế giới trước của Yukinari, đã có sự tranh cãi về việc liệu chết não hay tim ngừng đập mới tạo thành cái chết thực sự, và ngay cả khi sóng não ngừng hoặc tim không còn đập, các tế bào cơ thể vẫn còn sống sót một lúc nữa. Nếu những tế bào ấy được nhanh chóng chuyể sang một người sống khác, chúng còn có thể tiếp tục mà không chết.

Rõ ràng, mấy điều đó chẳng có ý nghĩa gì với mọi người trong căn phòng này. Nếu đã gọi là “xác chết biết đi” mà họ còn không hiểu, thì cậu còn nói được gì nữa đây? Nhưng rồi—

“Giống tôi nè!” Ulrike xen vào. Nhỏ dường như tự hào một cách kì quặc về kết luận này. “Là sinh vật sống thì tôi đã qua đời, nhưng là một cái cây tôi tiếp tục sống và cử động!”

“Ờm— thì— phải, chắc đúng vậy…”

“Xác chết biết đi” chính xác không phải một lời khen, nhưng Ulrike trông hài lòng đến nỗi Yukinari kiềm chế chỉ ra điều này. Cậu quyết định là họ đã quá lan man; đã đến lúc phát triển cuộc trò chuyện.

“Nhưng dù sao thì,” cậu nói, “những thứ còn lại đã ở đâu?”

“Ở đâu…? Ồ!” Berta dường như hiểu được điều cậu đang hướng tới. Cho tới buổi sáng hôm đó, những thứ còn lại cùng chiếc nhẫn đã bị tiêu hóa trong dạ dày ngoại thú. Cho dù xác chết có sống dậy và đi loanh quanh, cho dù nó có nói được—cho dù bất kì điều gì có thể hoặc đã xảy ra, nó vẫn không thể là người phụ nữ bị tình nghi.

Vậy thì, còn khối sức mạnh tâm linh thì sao? Thực chất, lại dấy lên câu hỏi về ma quỷ.

Nhưng điển hình, sức mạnh tâm linh không thể tự mình tồn tại. Nó đòi hỏi một vật chứa, và nếu có tràn ra khỏi vật chứa đó, nó sẽ sớm tiêu tan. Vật chứa là một cơ thể sống, cùng với chất lỏng đỏ—Dầu Thánh—được Giáo Hội Chân Chính Harris sử dụng. Sức mạnh tâm linh là một hiện tượng có thật và được công nhận ở thế giới này, nhưng chính xác nó không phải là ma.

Cho dù, theo giả thiết, sức mạnh tâm linh có thể xuất hiện dưới dạng ma ở một vài tình huống cụ thể, thì nó giết người chồng kiểu gì được cơ chứ? Và cho dù có thể đi nữa, khó mà tưởng tượng con ma sẽ cứ thể đâm vào người anh ta bằng thứ gì đó sắc nhọn. Nó sẽ thành chính xác là không cụ thể bởi nó không có vật chứa sống.

“Và điều đó tức là…” Fiona lẩm bẩm, nghiêng đầu, “không phải cô ta…?”

“Đó có vẻ là lời giải thích tốt nhất,” Yukinari nói.

Người vợ đã đeo nhẫn cho người khác và để họ bị ngoại thú ăn thịt. Sau đó, cô ta giết chồng và biến mất—ít nhất điều này sẽ giải thích được những điều mọi người đã nghe và thấy.

“Chỉ là tôi không biết tại sao,” Yukinari nói tiếp.

Tại sao phải rắc rối như vậy? Xét cho cùng, việc Yukinari đánh bại ngoại thú và nhận ra nó đã ăn thịt ai đó hoàn toàn là may mắn một cách ngớ ngẩn. Việc đánh lạc hướng sẽ không có tác dụng nếu chẳng ai nhận ra nó. Nếu cô ta chỉ muốn giấu cái chết của chồng, thì tại sao phải để quái vật ăn thịt người khác? Tại sao không cho nó chồng của cô ta?

Vậy phải chăng đây chỉ là những hành động không thể giải thích của một cá nhân rối loạn? Hay là…

Yukinari không nói gì cả. Cậu chẳng thể nghĩ ra điều gì khác. Với việc không một ai có thể nghĩ ra một lời giải thích thực sự hợp lí, một sự im lặng gượng gạo và ớn lạnh bao trùm căn phòng khách của dinh thự Schillings.

 


Xin chào! Đây là website chính thức của nhóm dịch truyện ValvrareTeam. Mấy đứa cùng sở thích cùng làm với nhau thôi. Light Novel trên đây được chúng tôi dịch hoàn toàn miễn phí ra phiên bản tiếng việt, tuy nhiên chúng tôi không khuyến khích các bạn sao chép lên website khác. Cảm ơn vì đã quan tâm."
© 2017 ValvrareTeam. Mã nguồn sử dụng Wordpress. Máy chủ sử dụng Vultr
Made with in Novel