Tập 4 – Chương 10 : Những Buổi Sáng Khác Biệt, Những Quá Khứ Xa Cách (Phần 1)

Tập 4 – Chương 10 : Những Buổi Sáng Khác Biệt, Những Quá Khứ Xa Cách (Phần 1)
5 (100%) 6 votes

THÔNG BÁO


LÌ XÌ ĐẦU NĂM TỪ VALVRARE TEAM CHO MEMBER

 

Ngày 2

 

Khi Ayaka Sajyou tỉnh dậy, tâm thức cô nhận ra mình đứng giữa một khung cảnh lãnh đạm. Chẳng có lấy thứ gì thú vị để nhìn ngắm; cô đang phóng qua một đồng bằng hoang vu. Và ở đằng xa kia cô có thể thấy được một cánh rừng.

Có vẻ như cô đang cưỡi trên lưng một con ngựa. Đập vào mắt cô là một bàn tay bọc giáp sắt đang nắm chặt dây cương.

-Là mơ ư?

Cô nhận ra rằng bàn tay đang nắm dây cương kia không phải của mình. Rồi sau đó là đến việc bản thân không thể nhúc nhích. Còn quang cảnh trước mắt cô, lạ thay, lại nhanh chóng thay đổi. Cô đoán là mình đang chia sẻ tầm nhìn với ai đó. Một giấc mơ như thế này không phải là không có, cô nghĩ vậy. Tuy nhiên, mặc cho Ayaka cố sức thế nào để thuyết phục bản thân theo hướng khác, giấc mơ này vẫn trông qua sức chân thật.

“Richard!” Một giọng nói gọi tới. “Này, Richard!”

Tầm nhìn của Ayaka quay ngoắt lại. Có hơn một tá những người đàn ông mặc giáp ngồi trên lưng ngựa ở phía sau cô, và một trong số họ cưỡi tiến lại gần. Khi con ngựa cuối cùng đến đủ gần để nhìn trọn vẹn, người hiệp sĩ trẻ trung mặc giáp nói:

“Chúng tôi đã đến như ngài dặn đây, Richard. Nhưng ngài thật sự nghiêm túc về việc tìm kiếm nó đấy à? Di sản của Vua Arthur ấy?”

“Tất nhiên,” cô — Richard — trả lời câu hỏi của người kia. “Tôi cuối cùng cũng đã tìm ra manh mối.”

Ayaka trải qua một cảm giác kỳ quái khi những từ đó thoát ra từ môi mình, mặc dù cô chẳng hề nói gì cả.

“Ý ngài là cái câu chuyện tầm phào của tên hát rong say xỉn đó?”

“Chính xác. Những nghệ sĩ hát rong khi tỉnh táo luôn khéo léo thêm những sự thật ẩn sâu trong những câu chuyện mà họ huyên thuyên. Thế nhưng tôi lại chẳng đủ trình mà hòng mò nổi. Còn những thứ mà họ nói khi giác quan đã lu mờ thì lại dễ dàng hơn nhiều để mà nắm bắt.”

Cái lý luận đó nghe thật ngớ ngẩn. Ayaka thấy sốc khi nhưng lời vô lý đó lại phát ra từ miệng mình. Thế nhưng, cái cách nói chuyện đó đã giải đáp mọi thắc mắc của cô nãy giờ.

-Ô, đây hẳn là…

-Họ gọi mình là Richard… Mình là Saber?

Ayaka cuối cùng cũng nhận ra điều đó. Cái sự kỳ quái của giấc mơ này thật khiến cô ngao ngán.

Song, cuộc đối thoại vẫn tiếp tục thẳng vào vấn đề mà không hề để ý tới cảm nhận của cô.

“Hắn chỉ bảo rằng nó là thứ gì đó có liên quan tới Vua Arthur; chúng ta thực sự chẳng biết gì cả. Chúng ta còn nhiều thời gian trong tay, nên ai cũng vậy, ai cũng muốn nó cả. Nhưng ngài là người thuộc hoàng tộc. Đó là thứ gì mà ngài lại khao khát đến mức như vậy chứ?”

“Ồ, bất cứ thứ gì.”

“Sao cơ?”

“Excalibur sẽ là tuyệt nhất, nhưng Caliburn hay Rhongomyniad cũng được, tôi chẳng phiền đâu, hoặc thậm chí là tấm khiên mà người ta kể rằng được ông ấy dùng trong lần tiêu diệt Chapalu(1). Nếu cuối cùng tôi tìm ra được lối vào Avalon và xoay sở để được nhìn thoáng qua vị vua vĩ đại ấy, hay Pháp Sư của ông, thì chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ để khiến cả cuộc đời này đáng giá.”

Giọng nói ngây thơ của người đàn ông dường như là Richard vang vọng xung quanh. Người hiệp sĩ trẻ cạnh anh nhếch môi lên thành một nụ cười.

“Nếu huyền thoại là thật, vậy chẳng phải Excalibur giờ đang nằm dưới đáy hồ trong vòng tay Vivian sao?”

“Vậy thì tôi phải tìm cho được Tiên Nữ Vùng Hồ và kết bạn với cô ta. Chắc cậu cũng biết chuyện của Sir Pelleas nhỉ, việc ông ấy trao đổi lời thề với một trong số họ và sống sót qua khỏi trận Đồi Camlann ấy?”

“Không phải ông ta là một hiệp sĩ lang thang mà thậm chí còn không được tính là một phần của Hội Bàn Tròn sao? Ông ấy chỉ đơn giản nhận thấy cơ hội và bỏ trốn. Dù sao đi nữa, tìm kiếm những di vật của một anh hùng, người thậm chí có khả năng là không tồn tại, không phải là điều mà một người thuộc hoàng tộc nên đích thân theo đuổi như vậy.”

“Chắc chắn rằng khi xét tới việc ngưỡng mộ một huyền thoại vĩ đại, thì dầu có là vua chúa hay thường dân cũng chẳng khác là bao, đúng vậy chứ?”

-Không rõ vì sao nhưng Saber có vẻ trẻ con hơn mọi khi. Sao lại thế nhỉ.

Họ gọi anh là hoàng tộc, nhưng những con người đứng quanh anh lại hành xử giống những người bạn thân hơn là thuộc hạ, và Richard cũng chẳng hề có vẻ phiền lòng.

“Nếu chúng ta có thể xoay sở tìm ra kho báu của Vua Arthur, thì điều đó cũng đồng nghĩa rằng tất cả huyền thoại đó đều là sự thật. Chứng minh được rằng những bản trường ca hào nhoáng đó đều thực sự đã từng cất vang trên mảnh đất ta đang đứng đây! Rằng chúng ta đã thừa kế mảnh đất mà Vua Hiệp Sĩ cùng người của ông từng phi vó ngựa tung hoành! Thế là quá đủ để tôi chấp nhận định mệnh này rồi!”

“Vậy là, nếu họ không tồn tại, thì ngài cũng sẽ không bao giờ có thể chấp nhận? Ngài đúng là chả bao giờ nói được thứ gì nghe hợp lý cả,” người bạn của anh nhún vai bực bội trên lưng con ngựa. “Tiếp theo là gì đây? Không lẽ ngài định dắt chúng tôi đi thám hiểm tìm Chén Thánh?”

“Vô ích thôi.”

“Sao lại thế? Điều gì làm nó khác với Excalibur hay Rhongomyniad?”

“Chrétien từng nói với tôi rằng Chén Thánh không phải là thứ mà ta có thể đạt được chỉ bằng tìm kiếm; chính nó mới quyết định ai là người sở hữu mình. Sở dĩ những Hiệp Sĩ của Hội Bàn Tròn lên đường đuổi theo nó có thể xoay sở để chạm được đến cũng là bởi vì cái dòng chảy định mệnh gọi là Chén Thánh ấy đã tự mình tìm đến với họ. Vậy nên, chúng ta không thể tự quyết việc tìm kiếm Chén Thanh đâu. Nhưng tôi dám chắc rằng nếu mình vẫn kiên trì tiếp tục theo đuổi vinh quanh Hiệp Sĩ, thì rồi cuối cùng một lý do thỏa đáng cũng sẽ tự nó xuất hiện.”

Richard nói luôn miệng về những câu chuyện cổ tích với một dáng vẻ nghiêm túc vô cùng. Một cái tên riêng trong những lời đó khiến bạn anh phản ứng lại.

“Chrétien hử? Lời đồn đã biến gã thành một tên tàn dư mạt hạng của các Druid, một kẻ với đôi mắt đắm nhìn về quá khứ…”

“Ồ, đúng là những thi sĩ, như ông ấy và Vace, hát lên những khúc ca về Vua Hiệp Sĩ cùng Hội Bàn Tròn vô cùng sống động, gần như thể hoài niệm, chẳng khác gì họ đã chứng kiến tận mắt vậy. Nếu cậu có bảo với tôi rằng họ là những yêu tinh sống qua hàng thiên niên kỷ thì tôi cũng chẳng bất ngờ đâu.”

“À thì cũng chả quan trọng. Vốn dĩ cái gã mà ngài nghe ngóng được manh mối về di sản của Vua Arthur cũng chẳng phải Chrétien; chỉ là một tên thi sĩ bợm nhậu trong quán rượu thành phố mà đến tên ngài còn chẳng rõ. Thật chả thể hiểu nổi tại sao ngài lại đi tin cái câu chuyện bịa đặt từ kẻ như thế.”

“Có manh mối là tôi vui rồi. Tôi vẫn chưa trở thành vua. Việc lần theo và học hỏi bước chân của người tiền nhiệm, của Vua Hiệp Sĩ, là điều quan trọng cho tôi sau này, cậu không nghĩ thế à?”

Mặc dù Ayaka không thể nhìn thấy từ góc này, nhưng có lẽ hiện giờ đôi mắt của Richard đang bừng sáng. Cô có thể tưởng tượng ra cái khuôn mặt trẻ con của Richard lúc này trong khi vẫn tập trung để xoay theo tầm nhìn trên đồng bằng này của anh. Rồi, cô nhìn thấy một thứ kỳ lạ.

“Trong khi ngài vẫn còn tự do sao? Thực tế mà nói, thì giờ ngài đã là lãnh chúa của Aquitaine(2) rồi đấy… Gì vậy, Richard?”

“…Có gì đó đang tiến đến.”

Đó một chấm nhỏ trên khoảng đất bằng phẳng. Thế nhưng đám mây sỏi bụi bắn lên từ đằng sau vật thể kia chứng tỏ rằng nó đang tiến thẳng về phía họ. Ban đầu, Ayaka tưởng rằng đó là một con ngựa đang phi ngang qua đồng bằng mênh mông này, nhưng về kích cỡ thì lại sai lệch. Ngay sau đó, tiếng gầm chói tai mà dường như phát ra từ nó đến tới tai họ, và các hiệp sĩ xung quanh cô bắt đầu trở nên rối loạn.

“Cái gì thế, một con lợn rừng khổng lồ?”

“Xe ngựa…? Không, chẳng có con ngựa nào kéo cả… Chưa từng thấy thứ gì như vậy trước đây. Nó có chân không thế? Rồi nó chạy bằng cách nào? Nếu là quái thú, thì cái tiếng kêu đó là sao? Tôi chưa bao giờ được nghe thứ gì giống vậy!”

“Coi chừng, nó đang lao đến đấy!”

“Nhanh quá! Chạy đi, Richard!”

Richard ngó lơ những người bạn đồng hành của mình, những người đã bắt đầu kéo dây cương.

“Tuyệt đẹp…” Giọng của anh nghe thật bình tĩnh. “Không chừng nó chính là hậu duệ của Twrch Trwyth(3).”

Lại thêm mấy từ mà mình chẳng biết. Dẫu vậy nhưng Ayaka không cảm thấy lo lắng. Một phần là nhờ sự vững chắc trong giọng của Richard. Song, phần nhiều là bởi cô nhận ra được cái thứ đang tiến về phía họ, cho dù hình dáng của nó hơi khác một chút so với phiên bản hiện đại quen thuộc với cô.

Thứ đó dần dần chậm lại khi nó tiến lại gần Richard. Sau khi thêm vài tiếng gầm rú khác, nó cuối cùng cũng hoàn toàn dừng lại vài mét trước mặt Richard.

“Cái gì thế này…?”

Người đàn ông suốt nãy giờ vẫn đứng bên cạnh Richard nhìn chằm chằm về phía “thứ đó” với ánh mắt nghi hoặc. Không chừng anh ta định sẽ lao vào giữa nó và Richard nếu cần thiết.

“…Một cỗ xe bằng thép?”

“Bánh xe của nó khá là dày. Và cái đen đen đó là gì? Một kiểu da thuộc?”

Khi lắng nghe lời tò mò của Richard, Ayaka đột nhiên nhận ra.

-Ồ, mình hiểu rồi. Đây hẳn là khi Richard vẫn còn sống… nhỉ?

Nếu đúng là vậy, thì cô có thể hiểu được cái kiểu nói chuyện khôi hài của những người này. Ayaka cũng đi đến kết luận rằng những gì mình đang thấy sau cùng cũng chỉ là mơ.

-Giấc mơ kỳ quái gì đâu. Ý là, ai cũng nói bằng tiếng Nhật hết.

Nhưng nếu đây là thật sự là thế giới quá khứ, vậy thì cái thứ đang đậu trước mặt Richard cùng bạn của anh là hoàn toàn phi lý. Cả thân của nó được trang trí bằng những bánh răng steampunk với những ngạnh gai sắt kiểu gothic, làm cho nó mang một hình bóng xa hoa mà dị dạng.

Ayaka biết rõ đó gọi là gì.

-Một chiếc xe hơi Ắt hẳn là hàng độ.

Đối diện một chiếc ô tô trông y như lôi ra từ một bộ phim hành động, Ayaka tự hỏi đầu óc mình bị gì mà có thể chế ra được giấc mơ như thế này.

-Mà, kể từ khi băng qua hoang mạc để đến Snowfield thì mình luôn bị cuốn vào rắc rối của mấy ông hiệp sĩ hay vua chúa, vậy nên chắc thời gian này rối tung lên hết cũng phải…

Trong khi Ayaka ngẫm nghĩ, tình hình trước mặt cô bắt đầu thay đổi.

Một tiếng nổ to phát ra từ bên trong cách cửa chiếc xe. Những hiệp sĩ cẩn trọng rút kiếm và bao vây lấy phương tiên di chuyển đó.

Khắc sau, chiếc cửa — rõ ràng là được làm cho khít một cách cẩu thả — bị đá tung ra từ bên trong, và một người đàn ông xuất hiện. Rồi, những cửa sổ của chiếc “xe hơi” mở ra, từng cái một, để lộ những thứ tương tự như nhạc cụ và bắt đầu chơi một điệu nhạc chối tai quái đản. Tương phản với bản nhạc nền khó nghe, một giọng vui vẻ vang lên.

“Hề lố, vị quản lý trẻ của vùng Aquitaine và những người bạn tươi tắn của ngài! Ngài khỏe chứ? Đây thì vẫn ổn, nhưng tôi đầu hàng. Hai tay hai chân luôn. Vậy nên, liệu giờ các quý ngài đây có thể hạ kiếm xuống không nhỉ?”

Người đàn ông vừa phát biểu một tràng vô tư với hai tay giơ trên trời mang một phong cách ăn mặc đủ để bì với, hay thậm chí là vượt qua cả cái dáng vẻ kỳ quặc của chiếc xe kia. Gã khoác trên mình một bộ quần áo quý phái với màu sắc khiến trông như một tên hề cung đình hơn là quý tộc. Và đội trên đỉnh đầu là một chiếc mũ kỳ quái. Những cái bánh răng trang trí trên cây gậy gã cầm xoay xoay cùng với những tiếng ồn khó chịu, có vẻ là một dạng máy móc gì đó đang hoạt động.

Cái hình ảnh của người đàn ông này khiến Ayaka có thể chắc chắn rằng, sau tất cả, đây chỉ là một giấc mơ. Trước khi thấy gã, mọi thứ khác với cô trông như một thế giới thống nhất và hoàn mỹ. Cô đã tự hỏi liệu chăng có phải mình đang thực sự thoáng nhìn vào thời đại mà các vị hiệp sĩ chiến đấu trên lưng ngựa, nhưng cái sự xuất hiện đột ngột của người đàn ông này đã phá hỏng tất cả, theo một cách đơn giản là quái đản.

“Gì đây?” Gã đàn ông kỳ lạ tiếp tục nói với những vị hiệp sĩ vẫn chưa hạ gươm mình xuống.

“Mấy người không biết hai từ ‘tình yêu’ và ‘hòa bình’ à? Giơ cả hai tay lên trời là dấu hiệu của việc đầu hàng… Hay vào thời này thì nó chưa thành truyền thống? Muốn thì tôi vẫy cờ trắng cũng được. Mà thôi cũng chả quan trọng. Dù sao thì tôi cũng đâu có vũ khí. Hoàn toàn không có ý đối địch. Thực tế, tôi vô cùng tôn trọng các bạn đấy — Mọi người chấp nhận cái bẫy tôi đặt sẵn mà chẳng hề do dự, và thậm chí tất cả còn dắt nhau tới nơi hoang vắng này nữa.”

“Một cái bẫy!”

“Ô, chết. Tiếp theo tôi sẽ tiết lộ rằng việc tên thi sĩ say xỉn đó có mặt trong quán rượu đều do mình sắp đặt hết. Chà, thôi cũng chả sao. Sau cùng thì mọi người đều đến đây cả rồi, vậy nên kế hoạch đã thành công mỹ mãn! Tôi làm được rồi!”

Trước những lời của gã ta, những hiệp sĩ siết chặt nắm tay quanh thanh kiếm của mình và bắt đầu chậm rãi xiết lại vòng tròn. Gã-hề nhùn vai.

“Nào, chờ một chút đã nào,” gã nói, gõ gõ lên cây gậy trên vai mình, “thử nghĩ thoáng thêm chút xem nào. Ngay đến cả Alexander Đệ Tam cũng lấy làm thích thú khi một nhân vật tân thời, nổi bật và lạ thường như tôi xuất hiện ngay trước mắt đấy có biết không?”

“Nói nhăng nói cuội thế đủ rồi!”

“Khoan.”

Ayaka nhìn thấy cánh tay của Richard ngăn những vị hiệp sĩ giận dữ lại.

“Alexander Đại Đế là sao?”

“Richard! Lắng nghe một tên khả nghi như thế…”

“Ông ấy không phải Vua Hiệp Sĩ, người mà tôi ngưỡng mộ,” Richard nói với gã lạ mặt trong khi vẫn dùng một tay để giữ người bạn đang cố ngăn anh lại, “nhưng nếu anh có thể nói lên cái tên của vị Vua Chinh Phục vĩ đại đó theo cách so sánh như vậy, thì tôi phải lắng nghe tất cả, bất kể có là câu chuyện hoang đường nào mà anh sắp sửa thốt ra. Phải vậy chứ?”

Sau đó, Richard khoanh tay lại trước gã lập dị và tuyên bố một cách trịnh trọng:

“Anh có thể tiếp tục. Trước tiên, anh thực ra là ai?”

Gã đàn ông bí ẩn cười toe toét, leo lên chiếc xe độ của mình để có thể nhìn xuống những vị hiệp sĩ, và đọc to tên mình lên bằng một giọng rõ ràng, mạch lạc.

“Hãy lấy làm vinh hạnh mà nghe lấy! Tên tôi là Saint Germain! Saint Germain! Tôi chẳng phiền nếu mấy người dừng ở Saint, nhưng thả lỏng và đọc liền lại nào — Saint-Germain! Phải, là Saint-Germain! Gã đàn ông theo chủ nghĩa khoái lạc mang tên Saint-Germain hiện đang đứng trước mặt một đức vua vĩ đại trong tương lai! Một duyên cớ đáng để chúc tụng ăn mừng — hoặc ít nhất với tôi là vậy!”

“Ngươi dám đứng trên Richard, dẫu đã biết rằng ngài là hoàng tộc?” Một vài đồng bạn của Richard hét lên, nhưng họ trông không hẳn là tức giận. Xem ra họ biết rằng Richard không để tâm quá nhiều về địa vị của mình.

Ờm, tất cả những hiệp sĩ ở đây cũng nói chuyện cởi mở với anh ta đấy thôi, Ayaka nghĩ, rồi cô nghe thoáng được Richard lẩm bẩm gì đó khi anh ngước nhìn về phía người đàn ông đang đọc diễn văn phía trên chiếc xe.

“Ô-hô… Khá là ấn tượng đấy.”

-…

Nhớ lại cái điệu bộ của Richard khi anh đọc cái bài diễn văn đó trên nóc chiếc xe cảnh sát, Ayaka đoan chắc rằng việc cô có giấc mơ như thế này là bởi cái hành động lố bịch ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc trong cô. Nhưng ngộ ra điều đó vẫn không giúp cho cô tỉnh dậy.

“Và?” Giọng Richard vang to và rõ ràng trong màng nhĩ cô. “Saint-Germain đây cần gì ở tôi?”

Nghe vậy, với một tràng “trịnh trọng” khác, gã đàn ông tự nhận là Saint-Germain tạo một dáng đứng lố lăng và bắt đầu nói.

“Tôi sẽ ký tên vào cuộc phiêu lưu truy vết theo những câu chuyện các anh hùng quá khứ, một cố vấn để giúp ngài đánh hơi những tàn tích, một nhà tiên tri người tuyên bố lên hồi kết, và đôi lúc có lẽ là một chú chim bồ câu với nhánh cây hy vọng ngoạm trong mỏ mình. Đấy chính là vai diễn mà người đàn ông mang tên Saint-Germain sẽ chơi cho ngài.”

“Anh tham quá đấy. Tóm lại là một Pháp Sư hoàng gia. Phải vậy chứ?”

“Thật đáng tiếc, nhưng tôi không phải Pháp Sư. Cũng chẳng phải yêu tinh, incubus, quỷ hút máu, nhà du hành thời gian, hay một Phù Thủy nhảy qua nhảy lại giữa các thế giới. Tôi chỉ đơn thuần là một quý tộc, và đồng thời, là một tên lừa đảo.”

Gã đàn ông tự nhận là Saint-Germain điệu nghệ xoay xoay chiếc gậy của mình khi tiếp tục.

“Do đó, chẳng cần phải nhớ tên tôi làm gì. Ngài có quên nó ngay lập tức tôi cũng chẳng bận tâm. Giờ, tôi sẽ giới thiệu lại lần nữa. Tôi là Saint-Germain. Saint-Germain, một cái tên mà rất có thể sẽ chẳng đọng lại trong tâm trí ngài. Phải, Saint-Germain! Saint-Germain… Cái tên chẳng phải thứ gì quan trọng; gã đàn ông Saint-Germain này. Là Saint? Hay Germain nhỉ?”

“Trời ạ, Richard. Khóa mồm thằng cha này lại đi.”

Richard không di chuyển, hoàn toàn bỏ ngoài tai đồng bạn của anh, những người đã lại rút gươm lần nữa.

“Chờ đã. Nếu anh là một tên lừa đảo, thì tôi muốn nghe xem anh định lừa tôi như thế nào.”

Ayaka không thể thấy được, nhưng bằng cách nào đó cô biết rằng đôi mắt Richard đang sáng bừng lên như một đứa trẻ.

“Ha ha. Tôi không phải là người sẽ lừa ngài. Khi đối mặt với thế giới mà ngài sắp sửa bước vào — nơi chứa vô vàn những điều huyền bí đã sinh thành nên Vua Arthur — chính ngài sẽ tự cố gắng lừa dối bản thân mình. Tôi ở đây chỉ là để hỗ trợ cái màn lừa đảo hoành tráng đó thôi. Nếu không còn gì khác, thì tôi chỉ muốn nói rằng: ‘chúc mọi sự tốt lành’. Giờ, nâng ly chúc mừng cho cuộc gặp gỡ trọng đại này, nơi mà ngài bắt đầu bước chân trên con đường trở thành huyền thoại.”

Saint-Germain bước xuống khỏi mui chiếc xe, cúi đầu cung kính, và nhìn chằm chằm vào khuôn mặt Richard. Đôi mắt họ gặp nhau. Trước khi Ayaka kịp nghĩ gì, đôi môi Saint-Germain nhấp nháy.

“Và tới người đằng sau đôi mắt kia, mong điều tuyệt nhất mãi mãi ở bên cạnh bạn.”

Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Ayaka. Theo bản năng, cô hiểu được rằng: lời sau cùng của người đàn ông kia không dành cho Richard, mà là với Ayaka người chia sẻ tầm nhìn với anh. Và, như thể để chứng minh điều đó, Saint-Germain nối tiếp bằng một câu mà chẳng ai có thể hiểu nổi, ngoại trừ chính cô.

 

“Tôi đoán là cô đang ngó trộm từ tương lai nhỉ, đứa trẻ với cuộc đời lạc lối.”

 

x                                            x

 

Tới đó, Ayaka tỉnh dậy. Đôi mắt cô tập trung vào trần nhà màu xám và nhận ra mình đang nằm trên giường. Lưng và lòng bàn tay cô hơi ướt mồ hôi. Cô còn có thể cảm nhận được trái tim mình đang đập nhanh hơn bình thường.

“Ô, Ayaka, dậy rồi sao? Cô hẳn là đã kiệt sức mà thiếp đi khi vẫn đeo kính như vậy.”

Quay mặt về phía giọng nói quen thuộc, cô nhìn thấy Saber đang ngồi trên một chiếc ghế cạnh bên giường và đọc một cuốn sách. Nhiều cuốn sách khác, có lẽ lấy từ kệ sách gần bên, nằm trên chiếc bàn trước mặt anh. Cuốn sách đang nằm trên tay anh lúc này mang tựa đề The Life and Death of King John.

“Ờ, nguyên ngày hôm qua tôi bị ai đấy kéo đi hết nơi này đến nơi khác mà,” Ayaka cằn nhằn, hầu như không để ý rằng mình vừa nói điều gì.

“Nếu cô đã hồi phục đủ để mà xỉa xói tôi như thế, thì tôi chẳng còn gì phải lo nữa rồi! Nhưng, cô vẫn phải nghỉ thêm chút nữa cho chắc chắn. Giờ vẫn chưa bình minh đâu.”

“…Cảm ơn. Và xin lỗi. Tôi không có ý trách cứ gì anh đâu.”

Ayaka tự tức giận với bản thân vì lại nói một câu mỉa mai như vậy với người đã giúp cô thoát khỏi biết bao hoạn nạn.

“Cô chẳng việc gì phải xin lỗi cả,” Saber đáp lại với nụ cười vui vẻ. “Không thể phủ nhận rằng tôi đã kéo cô đi khắp nơi, và rất có thể vẫn sẽ tiếp tục làm vậy. Bên cạnh đó, những cô gái thức dậy với tâm trạng khó ở rất là đáng yêu đấy.”

“…Anh đúng là lạc quan.”

Tới đấy, Ayaka nhớ lại “giấc mơ” mà cô vừa trải qua. Với một giấc mơ thì cô nhớ nó khá rõ.

-Nó có thật chỉ là một giấc mơ?

Bản năng cô nói không, nhưng cô sợ phải xác nhận điều đó.

“Mà, trong căn nhà này có cả núi sách đấy. Dưới tầng hầm thì chỉ có mỗi sách phép, nhưng trên tầng hai thì chất đầy sách sử và tiểu thuyết. Cả những câu chuyện về anh hùng nữa. Tôi sẽ chẳng bao giờ thấy chán khi ở đây.”

Khi cô nhìn Saber, đôi mắt anh lấp lánh lên vẻ phấn khích — cô đồ rằng anh ta đã dành cả đêm để đọc sách — Ayaka không thể giữ im lặng nữa.

“Này…”

“Hử? Gì thế?”

“Anh có biết ai tên là Saint-Germain không?” Ayaka đã sắp sửa hỏi vậy, nhưng rồi đông cứng lại ngay trước khi có thể phát ra được những từ đó. Cô nhớ lại đôi mắt mà mình đã nhìn thấy của gã đàn ông kỳ lạ đó vào cuối giấc mơ và cảm thấy sợ hãi để mà tự mình nói lên cái tên của gã.

Ayaka quyết định thử một cái tên riêng khác lấy từ trong giấc mơ. Đó là một cái tên mà cô không biết, vậy nên ý tưởng của cô là dựa theo việc Saber có nhận ra nó hay không sẽ quyết định liệu giấc mơ kia có phải là loại thông thường hay không.

“Này… Anh có biết ai tên… Tôi nghĩ nó là Chréti…Chrétien?”

“Chrétien de Troyes(4)? Hoài niệm thật. Ông ấy là một thi sĩ dưới quyền em gái Marie của tôi. Ổng đọc cho tôi về huyền thoại Chén Thánh nhiều lần đến mức tôi không thể chịu nổi… Xin lỗi. Tôi không cố ý nói dối, nhưng tôi vừa nói sai sự thật. Tôi đã quấy rầy để khiến ông ấy kể đi kể lại Hành Trình Chén Thánh cả trăm lần, nhưng tôi chưa bao giờ thấy chán nó cả.”

“Còn tôi thì cá là ông ta ngấy đến tận cổ, dù vậy…” Cái thái độ phân nửa bực bội thường thấy của Ayaka dành cho Saber bật ra trước sự ngạc nhiên khi cuộc đối thoại lại đang diễn ra trơn tru như thế.

“Mà khoan, cô đã nghe về Chrétien? Bộ cô cùng là fan của Hiệp Sĩ Bàn Tròn à, Ayaka? Chẳng phải họ rất tuyệt vời sao? Tuy nhiên cho dù có là hiệp sĩ kiểu gì đi nữa, Chrétien lúc nào cũng bảo họ là một đám hâm hấp, nhưng đấy chỉ là một phần những gì khiến cho Hội Bàn Tròn trở thành tuyệt nhất!”

Ayaka không hề biết rõ chi tiết về những Hiệp Sĩ Bàn Tròn, mặc dù cô cũng mang máng nhớ được vài cái tên. Tuy nhiên, dựa trên niềm vui mà cô thấy được khi Saber nói về họ, cô đã sẵn sàng để tin rằng họ chắc hẳn là những anh hùng vĩ đại. Những lời của anh cũng đem đến cho Ayaka cơ hội để bình tĩnh suy nghĩ.

-Nói cách khác, đó chỉ là một giấc mơ… phải vậy không?

Sau khi nghĩ lại về nó, cô có thể chắc chắn một điều rằng nó mang cảm giác ít giống một giấc mơ hơn là một cảnh quay góc nhìn thứ nhất trong một bộ phim. Nếu là vậy, có lẽ nào đó là một dạng vận động thần bí? Cô xem xét việc hỏi ý kiến Saber về “giấc mơ” đó của mình để cho chắc. Thế nhưng ngay sau đó, một tiếng gõ chẳng đúng lúc phát ra từ phía cánh cửa.

“Tôi có thể để họ vào không, Ayaka?” Saber hỏi, đồng thời đóng cuốn sách lại.

“…Tôi sẽ để anh quyết định. Dù sao thì tôi cũng chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài tin tưởng vào nó cả.”

Saber cẩn thận quan sát cử chỉ khuôn mặt cô, luôn luôn trong tư thế đề phòng sự việc ở bên kia cánh cửa, và gật đầu.

“Theo như tôi thấy, tóc tai không lượm thượm, cát ngủ cũng không đọng trên mắt và quần áo cô hoàn toàn gọn ghẽ. Mọi chuyện sẽ ổn cả thôi!”

“Hử? Ừ, ờ… Sẽ ổn thôi. Chắc vậy.”

“Ok. Chào đằng kia,” Saber gọi về phía cánh cửa. “Cậu có thể vào.”

Núm cửa xoay vặn, và cánh cửa kiểu cổ từ từ mở ra.

“Cô có ngủ được chút nào chưa?”

Trên ngưỡng cửa là một người chàng trai, người sở hữu khuôn mặt trẻ trung đến nổi đủ để gọi là một cậu thiếu niên. Cậu mặc một bộ quần áo hầu như chỉ một màu đen bít xuống từ cổ, làm gợi nhớ tới một đồng phục của lực lượng đặc biệt, thứ tạo nên một sự tương phản khó tin với cái diện mạo trẻ trung của cậu.

“Ưmm… Sigma nhỉ?” Ayaka hỏi, vẫn giữ đôi mắt đề phòng lên bao súng và con dao của cậu ta.

Thay cho câu trả lời, cậu thiếu niên bình thản thông báo sự tình.

“Căn nhà này đã bị bao vây rồi.”

 

x                                            x

 

Cùng lúc — Trong một nhà trọ rẻ tiền.

Một nhà trọ nằm trên con đường hiu quạnh. Từ xa xa, có thể nhìn thấy những tòa chọc trời thuộc về trung tâm thành phố. Vậy nhưng gần nhà trọ này, chỉ có một vài kiến trúc là xứng đáng với tên gọi đó. Một nơi mà người ta thường sẽ chỉ trông đợi được thấy những kho hàng vật liệu bỏ hoang mà thôi. Nhưng, ngay cả khi đã xét tới tất cả điều đó — và thậm chí là cả việc hiện tại là trước bình minh — thì vẫn có quá ít xe cộ hay người đi bộ xuất hiện quanh đây. Yên lặng đến mức cứ như thể thời gian bị ngừng lại.

Trong cái thế giới tĩnh mịch ấy, một vài bóng người xuất hiện, trông như lộ ra từ bóng tối. Chín người đàn ông và phụ nữ mang bộ trang phục thẫm màu, họ trông chẳng hợp chút nào với không gian xung quanh.

“Hoàn tất rà quét,” một trong số họ báo cáo với người đàn ông ở trung tâm. “Không có dấu vết của kết giới hay Ma Thuật được sử dụng quanh đây, và dấu hiệu của việc Ma Lực bị xáo trộn cũng không tồn tại.”

“…Có đúng là chỗ này không?” Bản báo cáo trên gợi sự nghi hoặc cho kẻ trông như lãnh đạo.

-Nếu thông tin của họ chính xác, thì đây là nơi ẩn náu của một Pháp Sư đến từ cái ổ rác rưởi Lý Luận Ma Thuật Hiện Đại của Tháp Đồng Hồ — cái thường được gọi là “Khoa El-Melloi”.

Người của một nhân vật tầm cỡ như thế được chọn làm Master trong Cuộc Chiến Chén Thánh lại đang phè phởn quanh đây mà không lập lấy dù chỉ một cái bẫy canh, việc như thế có thể là thật sao? Những người này được giao nhiệm vụ để đối đầu với một Pháp Sư, chứ không phải là loại thường dân đáng thương bị thôi miên để do thám cho đám Pháp Sư đó.

Kinh nghiệm chiến trận tích góp được của tên lãnh đạo cảnh báo rằng chúng có thể đang bước vào một cái bẫy. Hắn cẩn trọng xem lại kế hoạch của mình để chắc rằng chúng sẽ đưa ra được kết quả hoàn hảo nhất dưới cái tên Zugzwang(5) của mình.

Zugzwang là một nhóm Pháp Sư được lập bởi nhà Einskaya ở Đông Âu. Chúng khởi đầu là những thuộc cấp của dòng họ Yggdmillennia trú tại Romania, một lực lượng mang trong mình sứ mệnh loại bỏ bất cứ lũ sâu bọ nào dám vo ve quanh chúa thượng của chúng. Thế nhưng, quyền lực của nhà Yggdmillennia đã héo mòn từ hơn năm mươi năm trở lại đây. Với việc cuối cùng dòng họ cũng tàn lụi, Zugzwang đã bước theo con đường đánh thuê tự do, trở thành một tổ chức xử lý mọi loại công việc bẩn thỉu.

Là Pháp Sư, kỹ năng của chúng chỉ vào tầm trung, nhưng luôn được khen ngợi bởi năng suất không ngừng nghỉ khi thực hiện công việc. Bằng cách nhận yêu cầu trên nhiều phương diện, từ những khách hàng tức giận với đám chính khách cho đến những gã tài phiệt chẳng biết gì về thế giới Pháp Sư và phe phái trong đó, chúng chỉ vừa đủ để vật lộn với vấn đề tài chính của mình.

Cũng như những kẻ hạch sách khác, chúng yêu cầu một cái giá rất cao cho công việc của mình. Song, chúng vẫn là những Pháp Sư. Chỉ tiền bạc thôi là chưa đủ để thỏa mãn những kẻ này.

Thế rồi, dịp may cuối cùng cũng gõ cửa. Một lời đề nghị hứa hẹn phần thưởng béo bở hơn hẳn những gì chúng từng biết, kèm theo đó là miếng mồi vô cùng hấp dẫn với những Pháp Sư bỗng đâu rơi vào tay chúng.

“Cướp lấy quyền của một Master và tham gia Cuộc Chiến Chén Thánh Snowfield.”

Thoạt đầu, Zugzwang đã nghi ngờ nó. Nhưng rồi khi khách hàng của chúng, một Pháp Sư giàu có, cho họ thấy một hình ảnh qua Khiển Sứ Linh — hình ảnh của trận chiến giữa hai Anh Linh và miệng hố khổng lồ mà nó để lại phía sau — đã không để cho chúng có lựa chọn nào khác ngoài tin tưởng. Hoàn toàn bị thuyết phục rằng cái làn sóng đang bồi đắp ở Snowfield này có thể làm chấn động toàn bộ thế giới huyền bí của Pháp Sư. Rất nguy hiểm, nhưng đồng thời cũng là một cơ hội quý như vàng.

Chúng đã dành cả ngày thiết lập một mạng lưới thông tin khắp thành phố và cuối cùng cũng đã tìm ra nơi ẩn náu của một Master. Chúng đâu biết rằng cái thông tin mà chúng tưởng rằng mình đã đào ra bằng chính khả năng bản thân kia lại thực chất được chủ tâm cho rò rỉ ra ngoài bởi người đàn ông tên Faldeus.

Zugzwang đang thầm lặng bước vào Địa Ngục mà chẳng hề hay biết. Đối với lũ đầu sỏ, chúng chỉ đơn thuần là lũ thí mạng để định lượng sức mạnh mục tiêu của mình — Flat Escardos.

“….Bắt đầu bằng việc xác định vị trí mục tiêu. Tốt từ một đến ba lo tầng hai của nhà trọ. Tốt từ bốn tới sáu lo tầng đầu. Tốt bảy và tám sẽ phối hợp với ta để chiếm lấy văn phòng quản lý. Chúng ta sẽ dùng ám thị để lấy thông tin từ tên quản lý, rồi sau đó điều chỉnh lại ký ức. Lập lại với bất kỳ kẻ nào chứng kiến.”

Khắc Ấn Ma Thuật được truyền thừa lại trong dòng dõi Pháp Sư. Zugzwang đã cố tình phân chia những cái của chúng ra. Phân nửa được ghép cho thủ lĩnh, kẻ được gọi là “vua”. Phân nửa còn lại chia thành tám phần nhỏ hơn, mỗi phần được đặt trong những cấp dưới của hắn, những kẻ đó được gọi là “tốt”.

Thông thường, một Khắc Ấn Ma Thuật được chia thành nhiều phần như thế chỉ có thể tăng cường một chút sức mạnh thần bí. Tuy nhiên, việc đồng bộ tất cả Khắp Ấn của các con tốt với của vua sẽ cho phép vua kích tăng năng lực của những quân tốt lên cùng mức với bản thân mình, đánh đổi lại bằng việc suy giảm đáng kể tuổi thọ và tính linh hoạt trong Mạch Ma Thuật của họ.

Vua sắp sửa để lộ Khắc Ấn trên tay hắn để kích hoạt một Ma Thuật đặc biệt, thì hắn nhìn thấy “nó”.

“Để lộ Khắc Ấn trên tay ra. Ta sẽ đưa tất cả lên cùng cấp độ. Mọi người biết phải làm gì rồi đấy.”

Một người đàn ông với khuôn mặt của hắn đang đứng giữa nhóm, nói y hệt những gì hắn luôn nói.

“Cái gì…?”

Giọng của hắn cất cao, nhưng không một quân tốt nào quay lại nhìn. Chúng hẳn đã chịu một sự tác động thần bí nào đấy, vì rõ ràng chúng thậm chí còn không nhận ra thủ lĩnh của mình hiện diện ở đây.

Cái cảnh tượng này chẳng giống với trải nghiệm xuất-hồn chút nào, vua chứng kiến gã đàn ông mang khuôn mặt của mình hành động y như những gì hắn sẽ làm, ép cánh tay của hắn lên cánh tay của những quân tốt.

-Tệ rồi.

-Dừng lại! Đừng chạm tay với hắn!

Vua cảm nhận thấy một dòng Ma Lực mờ nhạt, nhưng không kịp để hét lên lời cảnh báo.

Ngay cả khi làm vậy, thì liệu giọng của hắn có đến được những con tốt kia? Những mối nghi hoặc như vậy thoáng hiện qua tâm trí hắn. Rồi, gã đàn ông mang khuôn mặt của hắn nói.

“Ba, hai, một… Bắt đầu tích hợp.”

“Gaa…” “Ư!?” “Hự…”

Khoảnh khắc sau đó, tám quân tốt liên kết cánh tay với gã ta co giật như bị sét đánh và đổ sập xuống ngay trước cửa vào nhà nghỉ, hoàn toàn bất tỉnh. Một lời nguyền mạnh mẽ, được ngụy trang thành bước sóng của Khắc Ấn sở hữu bởi vua thật sự, đã xâm nhập vào cơ thể họ trong quá trình đồng bộ.

Vua ngay lập tức nhận ra rằng giờ chúng đã ở trong một tình thế tuyệt vọng. Song, vào cái lúc đã quá trễ ấy — gã đàn ông mang khuôn mặt của hắn đã biến mất dạng. Vua thấy ngón tay ai đó chạm vào phía sau đầu mình, và trước khi kịp nhận ra, hắn cũng đã nằm sóng soài trên nền đất. Thủ lĩnh của Zuhzwang vẫn chưa mất đi nhận thức, nhưng phải cần đến vài giây thì cái ý thức lờ mờ của hắn mới biết được rằng bản thân đã bị hạ gục. Tai phải gã cảm nhận được nền nhựa đường lạnh lẽo. Còn tai trái, thứ ngửa thẳng lên trời, có thể nghe thấy một giọng nam bình thản.

“Ra là vậy. Mấy cái Ma Thuật mà ngươi sử dụng cũng thú vị đấy. Ý ta là, chia Khắc Ấn của ngươi để biến bản thân thành vua của chính nhóm mình. Quả là một sự trùng hợp kỳ lạ…”

Tới đó, một giọng vô tư vang lên từ phía sau gã đàn ông lạ mặt đang lẩm bẩm, giải tỏa đi cái bầu không khí căng thẳng xung quanh.

“Ok cả chứ? Oa! Xem ra tất cả đều hoàn hảo!”

“Sao chép hoàn toàn ký ức đúng là khó thật, nhưng ít nhất thì tôi vẫn có thể đọc những cái ở bề nổi và tái diễn lại thói quen. Tất nhiên, với loại Pháp Sư cỡ tên này, tôi có thể mô phỏng hoàn toàn chính xác lại kỹ thuật của hắn.”

“Ja — Berserker, nói vậy trước mặt người ta là không lịch sự đâu.”

“…Thứ lỗi. Có vẻ như tên này khá kiêu ngạo. Quan trọng hơn, có phải lúc nãy xém tí nữa cậu đã tiếp lộ tên thật của tôi không?”

Berserker. Khi gã Pháp Sư-lai-sát thủ nghe người trẻ tuổi kia — trẻ đến nỗi có thể gọi là nhóc với hắn — nói từ đó, hắn đã hiểu. Nó rõ ràng là kẻ đã hạ Zugzwang bằng chỉ một đốn tay — một trong những thực thể mà trong Cuộc Chiến Chén Thánh được gọi là Anh Linh. Vua cũng đi đến kết luận rằng tên nhóc kia ắt hẳn chính là Flat Escados — mục tiêu của chúng.

-Thất bại hoàn toàn. Chúng thậm chí còn không cho ta cơ hội để khởi động. Thế ra một Anh Linh là như vậy.

Hắn cũng nhận thức rằng rằng mình sắp sửa đối mặt với cái chết. Có cơ may nào để hắn xoay chuyển tình hình? Hắn vắt toàn bộ khối óc của mình để tìm cách, cả dưới quan điểm Pháp Sư lẫn sát thủ dày dạn kinh nghiệm. Thế nhưng, trong cái điều kiện hiện tại, đã quá rõ ràng rằng hắn chẳng thể làm gì được nữa. Với lời nguyền đang gặm nhấm cơ thể mình, hắn thậm chí còn bất lực để nói lên câu khẩn cầu tha mạng. Có lẽ cơ hội sẽ hiện ra khi những kẻ kia tra hỏi hắn về chủ thuê. Nhưng không có những quân tốt bên cạnh thì hắn có thể làm được gì để mà chống lại một Pháp Sư sai khiến Anh Linh này?

-Hiểu rồi. Cuộc Chiến Chén Thánh là như vậy… nếu nó đã hỗ trợ thứ đại Ma Thuật ở cấp độ thế này, thì ta đoán là một Pháp Sư thì ta buộc phải chấp nhận.

Bất lực đến nỗi không thể tự mình kết liễu, vua cầu nguyện rằng cái chết của mình sẽ ít đau đớn nhất có thể.

Rồi, một cuộc hội thoại vô tự lự truyền đến tai hắn.

“Ừm, Master? Chúng ta nên xử lý chúng thế nào đây?”

“Chà, lúc này thì cứ trói lại và ném họ vào phòng trống mà ta thuê trước đã. Mặc dù, tới chín vị khách ghé thăm thế này… cậu có nghĩ là ta nên thuê thêm một phòng không?”

“Chúng ta có thể nhét chúng vào một chỗ. Tôi sẽ vác cho; cậu cứ đợi ở đây.”

“Mà không phải lo việc giữ người ta ra xa khỏi chỗ này đâu; Tôi sẽ đi gia cố thêm chỗ kết giới mà đám người này thiết lập và dùng nó luôn.”

Master và Servant đối thoại mà cứ như thể cả hai đang tán dóc vậy.

Vua ráng sức đảo tròng mắt mình — thứ chỉ có thể hơi nhích một chút — lên, và thấy một cậu thiếu niên tóc vàng cùng một gã đàn ông nhìn y chang hắn. Tuy nhiên, ngay sau đó, gã đàn ông mang khuôn mặt của hắn trông như tan biến, và một tên đô con cuồn cuộn cơ bắp, phải cao hơn hai mét xuất hiện tại vị trí mà gã vừa đứng. Gã to con nhấc bổng cả tám quân tốt lên và rồi vươn một tay tới vua, người sau cùng cũng bị vác đi như thuộc cấp của mình.

 

Vài phút sau.

“Vua” của Zugzwang đã bị ném vào trong một căn phòng trọ. Tại đấy, hắn phát hiện ra rằng không một “quân tốt” nào của mình bỏ mạng.

-Tại sao nó lại để cho chúng sống? Nếu muốn tra tấn để moi thông tin, thì nó cũng chỉ cần tha cho một hai đứa thôi chứ. Đừng… đừng bảo là nó định chuyển hóa cơ thể con người thành Tinh Thế Ma Lực, như những gì mà gia tộc Scladio làm mà người ta bàn tán?

Nhớ lại những tin đồn xung quanh cái hệ thống vô nhân đạo đó làm vua tắm trong mồ hôi lạnh.

Giờ hắn mới đế ý thấy, ngoài hắn và những con tốt của mình còn có vài Pháp Sư khác nằm rải rác trong căn phòng. Khi đang nghĩ rằng những kẻ này ắt cũng là những Pháp Sư chuyên về tình báo và ám sát, thì hắn nghe thấy tiếng gõ cửa cậu cậu trai tóc vàng.

“Chào! Ưm… Xin lỗi vì đối xử thô bạo với mọi người nhé! Vì mọi người nhìn trông có vẻ là dạng sát nhân, vậy nên tôi đã để Berserker bắt hết đấy! Nếu có bất cứ ai ở đây chỉ là Pháp Sư tình cờ đi ngang qua, hay đại loại thế, thì tôi thật vô cùng xin lỗi!”

“…”

Flat Escardos trông rõ lo âu khi quan sát thấy những Pháp Sư đang nhìn chằm chằm nghi hoặc về phía cậu.

“Ta nên làm gì đây, Berserker?” Cậu hỏi người đàn ông to lớn cạnh bên. “Ai nhìn cũng gắt hết. Cậu có thể biến thành thứ gì đó giúp họ thư giãn không? Một đứa trẻ chẳng hạn, hay là một chú hề?”

Gã to con — Berserker — lầm bầm và biến mất. Ở nơi gã đứng trước đó, một bé gái hiện ra.

“Oái! Chúng ta đã nói về vụ này rồi mà! Sao cứ mỗi lần biến thành trẻ con là cậu lại mặc cái bộ đồ tắm đó hả?”

Flat vội vàng đắp người bé gái lại bằng ra giường cạnh đó.

“Nó luôn thành thế này,” Berserker đáp. “Mà tôi phát hiện ra rằng biến thành cô bé này làm tôi thấy yên lòng hẳn ra. Mà không những thế, tôi còn có cảm giác như muốn phanh thây thứ gì đó, nhưng chắc đây không phải ý hay.”

“Như thế thì yên lòng chỗ nào chứ! Giờ thì làm ơn biến lại như cũ trước khi cậu xé xác ai đó hay bị cảnh sát trông thấy! Đấy, thấy chứ? Ai cũng nhìn cậu bằng ánh mắt kỳ quái hết rồi kìa!”

Các Pháp Sư, những người bị trói bằng băng keo đóng gói yểm bùa phép, bắt đầu run rẩy ngay khoảnh khắc nhìn thấy Berserker chuyển sang dạng bé gái. Tuy không rõ tại sao, nhưng chúng có vẻ như đang rùng mình sợ hãi theo bản năng, bị khủng bố sâu tận bản ngã. Berserker phát ra một tiếng càu nhàu con nít, rồi lại biến mất và hiện ra dưới dạng một thanh niên mang dáng vẻ khiến hắn trông chả khác gì một quý tộc Anh.

“Thế này thì sao?” Berserker nói qua tâm trí với Flat. “Có gì đó liên kết với giới quý tộc Anh vào thời tôi sống. Cũng như cô bé ban nãy, biến thành nhân dạng này làm cho tôi thấy nhẹ nhõm. Nó là một trong những giả thuyết nổi bật nhất về danh tính thật của tôi. Ừm Trong dạng này, tôi không còn bị thúc giục phanh thây kẻ khác nữa, mà thay vào đó là khao khát được làm nhơ nhuốc linh hồn của họ.”

Flat gật đầu và tử tế đáp lại.

“Có khả năng cậu sẽ trở nên bình tâm hơn khi chuyển sang dạng khớp với một giả thuyết đáng tin cậy về danh tinh thật của cậu đấy. Mà, cố gắng đừng để cái ham muốn đó lấn át bản thân.”

“Giả sử vào lúc nào đó tôi biến thành dạng quá ư là loạn trí, thì rất có thể là Linh Cơ của tôi sẽ thay đổi và không còn là Berserker nữa. Nếu điều đó xảy ra, hãy dụng một Lệnh Chú để buộc tôi tự kết liễu sinh mạng nay. Rõ chưa?”

“Jack…”

“Đấy là một thỉnh cầu khiêm tốn của tôi, Master. Tôi chẳng ao ước gì việc danh tính của mình được xác định theo cách thiếu hoàn hảo như vậy.”

Flat chẳng đồng ý hay từ chối thỉnh cầu đó. Thay vì vậy, cậu chuyển hướng sang các Pháp Sư trong nỗ lực hòng tránh né việc đối thoại tâm trí.

“Thế để tôi giới thiệu họ cho cậu thì sao? Đang nằm trước vòi hoa sen kia là Lexarm, Kotcheff ở trước mặt tủ lạnh, và Dikhail ở phía trước ghế sô pha. Cái người ở góc phòng mang tóc đen phai màu nhuộm vàng là Sagara. Kế đến, chín người vừa mới tới đây cùng nhau là, ưm…”

Flat hỏi Berserker, người đáp lại dựa trên những ký ức sơ sài mà hắn sao chép được.

“Gọi đám đó là Zugzwang được rồi. Chúng là chín người với chỉ một linh hồn duy nhất.”

“Phải! Vậy thì là Zugzwang! Bây giờ chúng tôi sẽ rời khỏi nhà trọ này, nhưng tôi sẽ đặt dấu phong lên mọi người để đến tối mới đồng loạt tự hủy. Mà sẽ rất là rắc rối nếu mọi người chuyển sang giết lẫn nhau hay làm gì đó tương tự, vậy nên tôi sẽ niêm phong Mạch Ma Thuật của tất cả thêm khoảng ba ngày nữa nhé.”

Niêm phong Mạch Ma Thuật của những kẻ này. Những từ đó được cậu thiếu niên này nói nhẹ nhàng đến mức làm cho đám Pháp Sư đã tỉnh lại phải cau mày. Cũng như việc rõ ràng là cậu có ý định tha mạng cho chúng.

“Master, làm thế liệu có cho Zugzwang nhiều lợi thế quá không? Chúng có đến chín người cơ mà.”

“Ồ, đúng nhỉ. Nếu vậy, hãy đem bốn người kia vào căn phòng mà chúng ta đang dùng và hẹn giờ cho dấu phong của họ tự hủy sớm hơn ba mươi giây. Thời gian chênh lệch như thế chắc là đủ để họ rời khỏi nếu muốn rồi.”

Trái lại, lắng nghe cái giọng vui vẻ của Flat dường như khiến cho đám Pháp Sư cau có này phẫn nộ. Phẫn nộ trước cái thực tại rằng một kẻ chẳng có lấy một chút cương quyết như Pháp Sư đúng nghĩa lại vô hiệu hóa chúng đơn giản bằng cách nhờ cậy thứ vũ khí được biết tới là một Anh Linh kia. Vậy nhưng, cái cảm xúc đó chẳng giữ được bao lâu mà đổi ngoắt theo hướng ngược lại.

Berserker nhìn lũ Pháp Sư đang trừng mắt về phía Flat.

“Master,” hắn hỏi, vuốt vuốt cằm mình, “liệu có thật là an toàn khi tha cho chúng?”

“Cậu muốn giết họ đến thế cơ à?”

“Không… Đúng là số mệnh chúng ta đã định là phải tham gia vòng tử chiến — thực tế, tôi có cảm giác gần như thể mình đã giết chúng vài lần trong quá khứ — nhưng chắc là nó xảy ra ở một thế giới thuộc dòng thời gian khác hoặc là một kiểu chấn động nào đó trong thế giới này. Tôi sẽ tuân lệnh Master mình. Nhưng, có bất cứ lý do nào để không giết chúng ư?”

“Chúng ta sẽ không giết họ, Jack. Một mạng người còn nặng hơn cả Trái Đất đấy, cậu biết không?”

Với một Pháp Sư mà nói thì những lời đó là quá sức tồi tệ. Những tù nhân đó gần như run lên vì tức giận khi lắng nghe chúng. Thế nhưng, lời tiếp theo của cậu lại kích động một cái khác.

Cho đến lúc này, chúng đã thừa nhận năng lực về mặt thần bí của Flat, nhưng vẫn nghĩ cậu là “một tên oắt giàu có hư hỏng, tuy sở hữu Mạch Ma Thuật nhưng thiếu đi tinh thần Pháp Sư”, và “một tên Pháp Sư tệ hại, kẻ chẳng thể từ bỏ sự mềm yếu của con người”. Chính lúc đó, lời phát ra từ miệng cùng đôi mắt của cậu đã buộc chúng phải cân nhắc lại.

“Mạng sống nhân loại, bao gồm cả của những người kẻ kia, là những mảnh đáng giá để nhảy khỏi Trái Đất.”

Đôi mắt đó.

Đôi mắt của Flat khi cậu nói lời đấy chẳng phải đôi mắt của một Pháp Sư, hay là của con người bình thường. Chúng là những chiếc lỗ được lấp đầy, tựa như có gì đó đã rơi tràn ra ngoài, hoặc giống như thể chúng nhìn thấu tất cả mọi người.

Khi cảm nhận được sự hiện diện đó, chẳng giống với bất cứ thứ gì từng trải nghiệm trước đây, toàn bộ lũ Pháp Sư đã hiểu ra: cậu thiếu niên trước mặt chúng không phải Pháp Sư. Song cậu cũng chẳng hề tương tự như lũ quái vật hay hình nhân; cả cơ thể và tâm trí kia đều là của con người. Dù vậy, bản năng của lũ Pháp Sư mách bảo chúng rằng cậu ta đang nhìn vào một “cái đích” hoàn toàn khác biệt. Và về thứ mà cậu thiếu niên Flat Escardos trông thấy, chúng chẳng cách nào nắm rõ được. Berserker cũng có cảm nhận tương tự trong vài ngày qua khi dành thời gian bên cạnh Flat, nhưng hắn cố tình tránh né việc nhắc đến nó. Hắn cảm thấy rằng Master của mình không phải là dạng có thể mô tả bằng phạm trù “thiện” và “ác”.

Và như thể để chứng minh điều đó, Flat tiếp tục nói mà chẳng thể hiện một chút hàm ý tốt xấu nào cả:

“Chỉ giết họ thôi chẳng phải là thật xấu mặt và phí phạm sao?”

Lũ Pháp Sư đông cứng trong sợ hãi. Chỉ mình Berserker là nhận ra được thoảng chút gì đó cô độc lướt qua khuôn mặt của Flat khi cậu nói vậy.

 

Còn hai mươi tiếng cho đến khi Bảo Khí của Jack—

 

x                                            x

 

Cùng thời điểm — Khu đô thị Snowfield — Phố giang hồ.

“Con người thời nay đối xử với cuộc đời thật quá nông nổi. Ta thật thấy thương hại cho chúng,” Filia — hay chính xác hơn là thứ chiếm hữu cơ thể  Filia — nói, vừa ngó nhìn xung quanh về phía con phố nhỏ hừng sáng ban mai, hơi cách biệt với khu nhà trọc trời. Lưu lượng giao thông ít ỏi ở đây thật giống với những gì mà người ta mong đợi, nhưng không khí của nó lại khó mà đem đến cái cảm giác an toàn.

“…Nông nổi?”

Lời đáp phát ra từ một nữ Pháp Sư mang vẻ nhút nhát bước phía sau Filia. Filia nhún vai trước cử chỉ rụt rè đó của cô ta và tiếp tục.

“Đúng vậy, chúng đang lãng phí, hoặc ta nên nói rằng chúng đang sống quá vội vàng và liều lĩnh. Chẳng có gì sai trái khi phơi mình trong một khắc trụy lạc, nhưng tại sao chúng lại không thưởng thức cái khoảnh khắc đấy trọn vẹn hơn nữa?”

Ánh mắt của Filia ngừng lại tại chỗ một nhóm đàn ông say xỉn ồn ào cùng lũ du côn mặt mày thô thiển, những kẻ trông như hòa làm một với con phố.

“Lũ trẻ kia đang tự đưa vào cơ thể mình những loại khói thuốc lạ, và bọn còn lại thì khắp người bốc mùi máu tanh tởm lợm của những nạn nhân mà chúng xuống tay. Chẳng việc gì ta phải phản đối hay căn ngăn việc chúng say sưa sa đọa và quăng đi chính mạng sống của mình, nhưng ít nhất thì cũng phải làm theo cách dễ nhìn hơn chứ.”

Vẻ ngoài của Filia khiến cô trông khá nổi bật trên con phố giang hồ này. Mái tóc màu bạc tái gần như trong suốt của cô khẽ rung. Đôi mắt rực đỏ bùng cháy trên làn da trắng nõn như tuyết. Dáng hình của cô mang một sự cân đối quá đỗi toàn mỹ — đến mức trông gần như không phải con người tự nhiên — nhưng những biểu cảm đầy sức sống đang hiện trên khuôn mặt kia, phỏng chừng là bởi ảnh hưởng của thứ gì đó đã thổi hồn vào thân xác này, đã tựa lại cho nó một phần tính chất con người.

“Hê, này mấy gái. Nếu mấy em đến đây vào lúc này, thì phải bAaBABOBOAAAABOBOBO.”

“Ngươi đang cản đường đấy. Ta chưa nghe thấy bất cứ câu từ bẩn thỉu nào, vậy nên ta sẽ tha cho ngươi. Giờ cút ngay, hoặc là chết.”

Lũ đàn ông mặt mày thô thiển đã nhiều lần gọi tới với cô. Thế rồi với chỉ một cái liếc từ cô, tất cả bọn chúng đổ sấp xuống đất với miệng sủi bọt. Nữ Pháp Sư theo sau biết rõ tại sao: Lớp Ma Lực dày đặc đến mức khó tin phủ quanh Filia đã tụ lại thành một điểm mà ngay cả những người bình thường, những người còn không có lấy một Mạch Ma Thuật cũng có thể cảm nhận được và bắn trực tiếp vào não bộ của lũ du côn kia.

-Đó là Od? Hay Mana? Có một vài yếu tố cấu thành trong nó không hề khớp với cả hai khái niệm kia…?

Cảm nhận được cái dòng thác Ma Lực cuộn xoáy xung quanh Filia, nữ Pháp Sư đó hoàn toàn bị sự kinh hãi chiếm giữ. Từ nó, cô có thể nhận thấy được một Ma Lực không thể đong đếm nổi đang bao trùm Filia. Song, điều thực sự đáng sợ là việc nó chỉ tỏa ra trong bán kính ba mét quanh cô ta, tạo thành một vòm bán cầu của Ma Lực. Không chỉ thế, cái vòm đó còn tuyệt đối không để bất cứ giọt năng lượng nào thoát ra ngoài. Cô có thể nhìn thấy cái nguồn lực huyền bí đó đang luân chuyển xung quanh, tựa như một ngôi sao thu nhỏ với Filia là lõi.

Thực thể trước mặt cô không phải Pháp Sư.

Filia, một homunculus của nhà Einzbern. Cô gái này trước đó đã được thông báo về cô ta. Tuy nhiên, giờ cô ta là một thực thể khác xa với những homunculus, Pháp Sư, hay thậm chí là Anh Linh bình thường, và chỉ lưu giữ lại duy nhất ngoại hình của Filia.

“Cả ngươi nữa, Haruri,” thứ trong nhân dạng Filia nói với nữ Pháp Sư, người khúm núm sợ hãi trước khuôn mặt của thứ mà mình hoàn toàn chẳng biết là gì. “Ma Thuật tự-hiến-tế không phải là hiếm ở thời đại của ta, nhưng ít nhất thì hãy hiến tế bản thân theo cách mình thích. Nhìn ngươi khổ sở như thế thật gai người.”

Nữ Pháp Sư — Haruri — lạnh người trước câu của Filia. Cô cảm giác tựa như thể tâm can mình đã bị nhìn thấu.

Haruri Borzak.

Cô là một Pháp Sư lang bạt không thuộc về Tháp Đồng Hồ, nhưng kỹ năng trong lĩnh vực Ma Thuật Hắc Ám của cô phải thuộc hạng nhất. Francesca đã tìm thấy nữ Pháp Sư này khi cô đang trên ngưỡng cố thử một cách tiếp cận thần bí đến Hoa Kỳ hòng theo đuổi một mục tiêu nào đó.

Ma Thuật Hắc Ám đòi hỏi vật hy sinh. Nhưng Haruri là một người đi ngược với quy tắc thông thường, người luôn luôn chỉ hiến dâng máu thịt của bản thân mình. Cô cũng không tạo ra những lời nguyền chết người, nhưng bù lại thì rất thành thạo việc phản lại chúng. Tài năng trong lĩnh vực thần bí của cô gái này có thể nói là đứng vào hàng cấp cao.

Mặc dù cô tự hào về việc sử dụng Ma Thuật và là một Pháp Sư tài giỏi, một biến cố nào đó đã khiến cô ôm ấp trong mình lòng căm thù mạnh mẽ với thế giới Ma Thuật. Sỡ dĩ cô chấp nhận lời đề nghị của Francesca cũng là vì muốn tìm kiếm cơ hội để phá hủy nó.

Nếu bằng cách nào đó đoạt được Chén Thánh, cô dự định sẽ dùng quyền năng của nó để vô hiệu hóa mọi tấm màn che đậy được duy trì kỹ lưỡng bởi cộng đồng  Pháp Sư. Sự nhận thức của toàn thế quần chúng chắc chắn sẽ làm suy yếu khái niệm Thần Bí và tách biệt Pháp Sư xa khỏi Khởi Nguyên. Thậm chí, cô có thể còn đi xa đến mức ước cho khái niệm về Ma Thuật sẽ biến mất khỏi thế gian này.

Haruri chằm chằm nhìn Filia. Cho dù là thứ gì đang trú ngụ trong homunculus kia đi chăng nữa, thì nó cũng đã dễ dàng ngăn Berserker lại, xem Servant đó chẳng khác gì con cún con của mình. Mặc dù Haruri đã thành công trong việc thiết lập khế ước nhờ sự thu xếp của Filia, Haruri vẫn chẳng thể xem Servant mà cô triệu hồi là sở hữu của bản thân mình.

Cô chuyển mắt lên trên, và nó ở đó, bước theo sau họ. Anh Linh Robot kỳ quái này, giống như vật thể pha tạp giữa một con nhện cơ giới và sư tử, thậm chí còn không linh thể hóa. Nó bò cạnh những tòa nhà như một con nhện khổng lồ bước ra từ phim ảnh. Thế nhưng lạ thay, Haruti lại không thể cảm nhận được bất cứ thứ gì giống như Ma Lực từ nó cả. Chưa hết, nó dường như cũng không phát ra tiếng ồn nào, và chẳng có tí dấu hiệu hoảng loạn nào từ những người bên trong các tòa nhà mà nó bò ngang qua.

“Đừng lo,” Filia, căng phồng lên vẻ tự hào, nói với một Haruri hoang mang. “Sự hiện diện và hình thể của hắn hoàn toàn được cô lập. Ta đã làm vậy để chỉ ta và ngươi có thể nhìn thấy được hắn.”

Filia thoải mái nói, nhưng Haruri, người hiểu rõ đấy là thứ kỳ tích thế nào, và lại lần nữa thay mới cảm xúc sợ hãi trước cái thực thể trước mặt mình. Một ngày trọn vẹn đã trôi qua kể từ khi họ gặp gỡ, và Haruri vẫn hoàn toàn mờ tịt danh tính thật hay mục đích của cô ta.

Mặc dù những vết thương cô nhận phải khi triệu hồi Berserker đã được chữa lành bởi Filia, Haruri vẫn trì hoãn và trở lại Xưởng Phép để tu sửa những Lễ Khí bị hư hại, các Mạch Ma Thuật bị tổn thương và quan trọng nhất là tập hợp lại tin tức trong khu vực. Tại một thời điểm trong khoảng đó, Fillia đã biến mất. Cô ta sau đó quay lại giữa buổi tối, phàn nàn rằng mình đã dành cả ngày để “quan sát đủ loại quốc tịch vì thấy tò mò” nhưng lại nói rằng “khá là nhàm chán khi thấy cái vẻ bóng bẩy của chúng”.

“Dẫu vậy,” cô ta nói thêm, nắm lấy tay Haruri và kéo cô ra ngoài, “so với thời của ta, chúng vẫn có rất nhiều thứ khác mà ta có thể khen ngợi được.”

Haruri là kiểu rụt rè và gặp khó khăn khi nói chuyện, nhưng cô vẫn thu hết can đảm để hỏi:

“Ưmm… Chúng ta đang đi đâu vậy?”

“Tới nơi của những Servant khác, tất nhiên là vậy rồi.”

“Sao cơ?”

Haruri chết lặng. Cảnh đó có vẻ làm khiến Filia thấy khó hiểu.

“Ngươi đang chiến đấu trong một Cuộc Chiến Chén Thánh, đúng chứ? Ta chỉ đang giúp ngươi một tay để chiến thắng thôi. Dù sao thì mục tiêu của ngươi và ta cũng trùng với nhau.”

“…Cô đang định đi tới căn cứ của một Master khác đấy à?”

“Phải, ngay đằng trước kia. Nơi với những hàng nhà máy bẩn thỉu chỉ được cái kích cỡ đang hoạt động cho chúng. Mà thành thật thì ta muốn tránh xa mấy chỗ nồng nặc khói bụi như vậy.”

Thứ trú ngụ bên trong Filia thở một dài một cái, rồi ngước nhìn về phía bình minh đang từ từ ló dạng trên bầu trời và lẩm bẩm với chính mình.

“Ta không thể chịu nổi việc khu vườn của mình bị vấy bẩn… Phải nhanh chóng gột rửa nó thôi.”

 

x                                            x

 

Cùng lúc — Đồn cảnh sát.

Orlando Reeve, giám đốc Sở Cảnh Sát Snowfield, đã cắt đứt sợi dây liên kết giác quan với Servant của mình, Caster. Ông không bắt Servant của mình đi trinh sát, và ngược lại cũng chẳng việc gì phải cung cấp thông tin cho Caster. Do đó, cảnh trưởng không bao giờ nhìn vào được thế giới nội tâm của Servant mình hay ký ức ở dạng những giấc mơ, ông cũng chẳng coi chúng là điều cần thiết.

Ông đã triệu hồi lên Caster “Giả” — Alexandre Dumas cha — kẻ hiện tại đang thực hiện việc chế tạo nên, hoặc có lẽ là làm nhái, các Bảo Khí ở một khu biệt lập. Cũng vì không chia sẻ giác quan với nhau nên họ không thể giao tiếp qua tâm trí được. Thay vì vậy, hai người bọn họ thường liên lạc bằng điện thoại.

Một ngày đã trôi qua kể từ đợt tấn công của Assassin. Cảnh trưởng cùng các thành viên phe cảnh sát cuối cùng cũng đã có thể đi lại, và rồi lại phải đón nhận thêm biến loạn mới nổ ra. Những tin tức về dịch bệnh lây lan trên những con vật nuôi và hội chứng rối loạn thần kinh ảnh hưởng lên thường dân, những người bỗng đột nhiên tuyên bố rằng mình không thể rời khỏi thành phố, đã tạo nên một làn sóng hoảng loạn lan khắp Snowfield và tới tai cảnh trưởng. Áp lực sắp xếp phân loại các thông tin dữ liệu hiện đè nặng lên ông, cả dưới tư cách một trong những kẻ đầu sỏ của Cuộc Chiến Chén Thánh lẫn một cảnh sát trưởng với nhiệm vụ bảo vệ trật tự xã hội.

Khi ông vẫn đang làm dở việc trên thì điện thoại reo lên báo hiệu một cuộc gọi đến từ Dumas.

“Hề lố! Ông anh bắt máy nhanh thế! Làm thêm ca đêm đấy à?”

“Đại loại vậy. Từ khi triệu hồi ông đến giờ tôi chẳng thế ngủ được giấc nào đàng hoàng.”

“Ha! Nếu còn rãnh để mà ở đó phàn nàn, thì sao không đi mà gọi thêm Hyppolyte Durand(6) ấy? Anh biết hắn mà nhể, cái gã xây nhà cho tôi ấy! …Tất nhiên, giờ nó là của thằng khác rồi. Château de Monte-Cristo. Có nghe về nó bao giờ chưa?”

“Tất nhiên. Giờ nó đã là một công trình tưởng niệm của ông.”

Một biệt thự mà gần như có thể gọi là một tòa lâu đài nhỏ tọa lạc ở vùng Île-de-France(7) . Ngôi biệt thự sang trọng nằm bên bờ sông Seine đấy, thứ mà Dumas đã đổ toàn bộ gia sản vào để xây dựng vào giai đoạn thành công nhất cuộc đời,  có thể mô tả như một biểu tượng huy hoàng tại đỉnh cao của một nhà văn.

“Ờ, tôi đã thử mò về nó và thực sự thấy bất ngờ. Ai có thể ngờ là cái ngôi nhà mà tôi từng bán tống bán tháo khi không có lấy một cắc dính túi lại còn tồn tại đến tận ngày nay, chứ chưa nói tới việc nó trở thành bảo tàng của tôi như vậy!”

“Nhờ nó mà ông có được đám hâm mộ trung thành với các tác phẩm của mình.”

“Không sai. Tôi không biết có tính cả bức họa tình nhân của mình trong đó, nhưng, hê; các tác phẩm, nhà cửa và gái gú tình nhân, tất cả giờ đều đã tuột khỏi bàn tay này rồi. Mà làm mấy món đó chắc cũng đáng công khi có thể khiến ai đó say mê thích thú với chúng.”

“Các tác phẩm và nhà cửa thì không nói, nhưng thời hiện đại người ta không đánh giá quá cao việc có nhiều tình nhân đâu.”

“À thì, sao cũng được,” Caster tiếp tục, lờ đi câu chọc ngoáy xen ngang của cảnh trưởng, “đám bạn của tôi đặt tên cái ổ nơi tôi viết lách đó là ‘Chateau d’If’, anh tin nổi không. Gọi cái phòng mà một nhà văn tự nhốt mình để tập trung bằng tên một nhà tù như thế là không được lịch sự cho lắm đâu, nhưng tôi cá là năng suất của mình ở đó sẽ tăng mạnh đấy.”

“…Hy vọng là ông không đề ra cái ý tưởng đem các Bảo Khí ngược xuôi giữa thành phố này và Pháp.”

“Thật chứ, đã hơn một trăm ba mươi năm kể từ khi thằng này nghẻo rồi đấy. Tôi cứ tưởng là giờ ít nhất thì mấy người cũng phải chế ra cái máy gì đó để chuyển hàng liền tắp lự rồi chứ.”

“Dịch chuyển tức thời giữa nơi này và Pháp thập chí còn chẳng thể gọi là Ma Thuật nữa rồi. Việc như thế phải cỡ đặt một chân lên lãnh địa Ma Pháp.”

Nói xong, cảnh trưởng chợt nghĩ.

“…Nhưng, ông hẳn phải khá là gắn bó với cuốn sách đó nên mới đi đặt tên chính ngôi nhà của mình là Château de Monte-Cristo. Hay chỉ là người ta tự quyết định việc gọi nó như vậy?”

“Ai biết? Tôi có cảm giác là mình đặt cho nó cái tên đấy là để bóng gió nhắm tới ai đó, nhưng cả đời tôi chả gặp đứa nào tới phàn nàn thế cả. Mà giờ thì vụ đó cũng chả được tích sự gì mấy nhể, đúng không?

Rất hiếm khi Dumas lại né thẳng một chủ đề như vậy. Cảnh trưởng bực tức, nhưng quyết định không nói về nó nữa. Ông thấy hối hận vì lại đi kéo cuộc nói chuyện ngắn này dài đến vậy.

“Thế? Ông gọi tôi có việc gì?”

“Hê, có vài anh bạn đằng ấy bị phá nát Bảo Khí khi đánh với con quỷ hút máu đó đúng không? Tôi đã lập sẵn kế hoạch để sửa chúng rồi.”

“May thật. Vẫn như mọi khi, người giao hàng…”

“Ngừng ngay đó. Tôi không cần bất cứ tên giao hàng nào cả. Thay vào đó, có người mà tôi muốn anh gửi cho mình.”

Cảnh trưởng cau mày lại trước lời đề nghị của Dumas.

“…Tôi đoán đây không phải yêu cầu phụ nữ như mọi khi.”

“Ờ. Phái cái lực lưỡng sĩ quan mà anh tuyển chọn, Hội Calatin ấy, đến chỗ của tôi. Không cần phải là tất cả, nhưng càng nhiều tay lão luyện càng tốt. Ô, và cả mấy đứa với Bảo Khí bị hỏng nữa. Tương tự thế với tên nhóc bị ngoạm mất tay.”

“…”

Lời đề nghị của Servant mình khiến cảnh trưởng phải ngừng một lát. Ông đã phổ biến thông tin cơ bản về sự tồn tại cũa Dumas cho Hội Calatin, nhưng ông không thể ngay lập tức quyết định cho phép họ gặp mặt trực tiếp. Nếu là vài ngày trước, cảnh trưởng hẳn sẽ xem đó là việc không cần thiết, và cả Dumas cũng chả có ý muốn gặp người của ông. Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, ông quả thực muốn thay đổi.

“…Tôi tưởng ông bảo tôi rằng mình không cần bất cứ hỗ trợ nào để chế tác Bảo Khí.”

“Đúng thế. Việc này sẽ không làm cho đống Bảo Khí mạnh hơn chút nào cả. Và việc chó gì phải quan tâm tới cái tính tương thích với cái lũ người cổ lỗ tầm thường đấy. Tinh chỉnh cho người dùng không phải việc của tôi.”

Trước khi cảnh trưởng kịp hỏi, “Thế thì tại sao?” gã thô lỗ Dumas đã cho ông câu trả lời.

“Lần này tôi chỉ là một khán giả. Tôi chỉ làm công tối thiểu cho anh để trà tiền vé mà thôi.”

“…?”

“Chỉ… là một khán giả, nếu có một diễn viên mà tôi thấy khoái, tôi muốn thể hiện thiện chí của mình bằng một hai bó hoa cho kẻ đó thôi mà.”

Cảnh trưởng nghiền ngẫm những lời của Dumas một lúc, rồi thở ra một hơi thật dài. Sau vài giây im lặng nữa, ông đưa ra quyết định.

“…Được rồi. Nhưng họ là sỹ quan của tôi trước khi trở thành những Pháp Sư. Hãy hứa với tôi rằng ông không làm bất cứ điều gì với Mạch Ma Thuật hay tâm trí của họ.”

“Anh biết là tôi đếch phải cái loại Pháp Sư như mấy tay Eliphas Levi(8) hay Paracelcus mà đúng không? Bộ anh thực sự nghĩ là tôi có thể móc ra được mấy trò rắc rối như thế à?”

“Bỏ qua những ý kiến trái chiều về việc liệu M.Levi có phải là loại Pháp Sư mà Hiệp Hội nên thừa nhận… Điều cơ bản nhất để tạo ra một Bảo Khí là gán cho vũ khí một ‘huyền thoại’. Cách nói chuyện của ông không giống như loại có thể xoay sở được ‘mấy trò rắc rối như thế’ đâu.”

“…À thì, cũng có khả năng là tôi sẽ can thiệp vào định mệnh của họ. Anh không cần phải quá lo. Tôi sẽ cố hết sức để đảm bảo rằng mình sẽ chỉnh họ tốt lên.”

Cảnh trưởng sắp sửa cho cái tên Dumas trơ trẽn này vài lời khuyến cáo thành thật, nhưng ông kiềm lại ham muốn ấy và nhanh chóng kết thúc cuộc gọi.

“…Xin lỗi, lại có chuyện gì đó rồi. Tôi sẽ liên lạc lại sau để báo khi nào mình gửi người tới.”

“Ha ha! Đếch được nghỉ ngơi hử, ông anh? Nhớ mà phòng sẵn vài viên thuốc dạ dày đấy! Giời ạ, thời nay đúng là lắm chuyện mà! Chăm sóc bụng biếc mình đi nhé, Ô kê? Thân ái và quyết thắng!”

Sau khi gác máy, cảnh trưởng liếc nhìn sang phía bên cạnh. Thư ký riêng của ông, cũng đồng thời là một thành viên của Hội Calatin, đang đứng ở đó và chìa ra một bản báo cáo.

Cảnh trưởng im lặng gật đầu, rồi đọc lại tập tài liệu. Nó ghi chép về việc con homunculus nhà Einzbern đã xuất hiện trong thành phố và cùng hành động với một Pháp Sư mà Francesca đem đến —một Master của một trong những Servant Thật. Điều ông lo lắng nhất chính là báo cáo về đích đến của họ.

Trước đó, cảnh trưởng đã được biết về những Master mà Francesca cùng Faldeus đem đến đây như những quân tốt của chúng. Cashura, kẻ được sắp xếp để triệu hồi Saber, đã chết dưới tay Assassin. Tên lính đánh thuê sử dụng Ma Thuật Sigma lại chỉ liên lạc với mình Fladeus. Doris Lusendra, hậu duệ của một gia tộc điều khiển Ma Thuật Cường Hóa và được xem là đã vứt bỏ ngay cả khái niệm nhân tính, hiện cũng nằm ngoài mạng lưới giám sát của phe cảnh sát. Kết quả là Haruri, người mà họ vẫn còn theo dõi được, trở nên vô cùng quan trọng với cảnh trưởng.

Tuy nhiên, việc cô ta hành động chung với con homunculus nhà Einzbern là điều chẳng tốt lành gì.

-Phải chăng con bé đó đang bị tẩy não, hay là de dọa…? Không, xét trên bản chất của Haruri Borzak, có khả năng là nó đã thỏa thuận gì đó và đổi phe.

Bản thân Haruri không phải là một Pháp Sư mạnh về khoản chiến đấu, vậy nên cô ta sẽ không thể tạo được vấn đề gì quá lớn. Ông chỉ cần đề phòng những lời nguyền chết người và mấy cái tương tự, nhưng những mối de dọa đó đâu phải chỉ mình cô ta độc quyền, ông vốn đã lập sẵn các biện pháp đối phó hợp lý với chúng rồi.

Vấn đề ở đây là Anh Linh nào mà cô ta đã triệu hồi. Dữ liệu về các Master được truyền xuống từ “bên trên”, thế nhưng nó lại không bao gồm việc ai sẽ triệu hồi Anh Linh nào. Ông cho rằng, từ quan điểm của người bề trên, ngay cả Hội Calatin cũng rơi vào danh mục những quân tốt xài tạm.

Song, cảnh trưởng vẫn nắm được ít nhất nơi mà những Master mà ông cần đề phòng nhất tạo căn cứ. Từ đó, ông có thể suy luận ra rằng Haruri cùng con homunculus nhà Einzbern đang hướng đến một trong những địa điểm đó.

“Khu công nghiệp… Chẳng lẽ chúng định tiếp cận con ác quỷ của Gia Tộc Scladio?”

 

x                                            x

 

Gã đàn ông tên Bazdilot Cordelion từ lâu đã quyết không để mình mộng giấc chiêm bao.

Hắn tự áp đặt thôi miên để đẩy cơ thể vào một giấc ngủ nông và bộ não thì chìm vào giấc ngủ sâu trong khoảng vài phút mỗi lần. Đó là một biện pháp cho phép hắn hoạt động liên tục trong khoảng thời gian dài, cũng như ngay lập tức hành động khi tỉnh dậy nếu kẻ thù xuất hiện.

Một giấc ngủ ngắn tận dụng sự phân chia nhận thức là một phép đơn giản, thứ được sử dụng rộng rãi bởi đám tay mơ. Dù thế, việc phân chia nhận thức của một cá nhân chẳng khác gì một kiểu tự sát tạm thời, chỉ có rất ít Pháp Sư mới thường xuyên sử dụng biện pháp này.

Bazdilot từng nghe nói rằng có những lính đánh thuê Ma Thuật đã sử dụng một lượng cố định phép tạo ngủ cho nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, hắn về căn bản chẳng ưa gì những giấc mơ, và cũng chính vì thế mà cự tuyệt không cho bản thân trải nghiệm giấc ngủ REM(9) .

Cũng chính vì thế nên Bazdilot thấy nghi ngờ.

Và từ một khoảnh khắc nào đấy tiếp theo, hắn biết rõ rằng mình đang “mơ”.

Mặt biển nhuộm ánh hoàng hôn trải dài trước mắt hắn. Trong giấc mơ này, hắn thấy mình đang cưỡi trên một con tàu khổng lồ, phô diễn quang cảnh nó xẻ đôi những con sóng bạc đầu khi lướt qua mặt nước óng ánh vàng kim.

Tuy nhiên gần như ngay tức khắc, hắn rút lại suy nghĩ ban nãy. Đây không phải giấc mơ; đây là một hiện tượng chia sẻ ký ức được cấu thành từ những thông tin và Ma Lực không phải của riêng mình hắn.

Góc nhìn của hắn lúc này cao hơn hẳn so với mọi khi. Nhìn từ đấy xuống, hắn thấy một gã đàn ông tóc vàng, người bắt đầu cất lời với nụ cười ngạo nghễ trên mặt.

“Hử? Muốn biết tại sao tôi không sợ anh à…? Sao anh lại đi hỏi một thứ hiển nhiên đến thế chứ? Rõ ràng là bởi vì tôi là một hiền nhân sở hữu trí tuệ vượt qua cả thần thánh.”

Rất có thể đây là những ký ức sở hữu bởi Servant mà hắn đang cung cấp Ma Lực — Alcides.

Bình tĩnh quan sát, Bazdilot biết được rằng gã đàn ông kia đang nói bằng một thứ ngôn ngữ cổ đại của vùng quanh biển Aegea. Có thể là bởi những kiến thức thời hiện đại được ban cho một Anh Linh, hoặc có khả năng là do chính sự tác động của hắn thông qua mối liên kết giữa hai người, dầu thế nào đi nữa, tâm trí Bazdilot đã ghi nhận nó như một thứ ngôn ngữ mà hắn thường dùng.

Chủ nhân của ký ức này — phỏng chừng là Alcides — đứng trên boong một chiếc thuyền với cấu tạo quá tráng lệ để xem là hàng cổ đại. Kề cận bên hắn có thể nhìn thấy được một số người. Ngay cả trong ký ức được chia sẻ này, Bazdilot cũng có thể nhận thấy mỗi người trong số họ đều khoác trên mình một lượng Ma Lực với mật độ suýt chút chạm ngưỡng khủng khiếp. Nếu một người bình thường mà nhìn vào ký ức này, Bazdilot nghĩ rằng chắc chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ để khiến cho tinh thần của họ vỡ vụn.

“Anh thấy đấy, con người về bản chất là loại đần độn. Những kẻ ngu chọn một kẻ ngu khác để dẫn dắt và đóng vai nhà vua của chúng. Vậy nên quốc gia chẳng bao giờ yên ổn, chiến tranh nổ ra và người ta chết đói. Chính điều đó là lý do vì sao một người như tôi cần phải nắm lấy quyền lực và vinh quang.”

Thế nhưng, xét trên mặt “sức mạnh”, hắn không hề cảm nhận sự hiện diện mạnh mẽ toát ra từ gã tóc vàng đang diễn thuyết trước mặt mình cũng những người khác, mặc dù gã ta quả thật dường như có nhận được một sự bảo hộ thần thánh nào đấy. Khi Bazdilot cường hóa giác quan của mình và cẩn thận kiểm tra gã, hắn nhận ra gã ta có vẻ như đang được thứ Ma Lực ngụ trong chính chiếc thuyền bao phủ lên cả cơ thể.

“Ngay cả những kẻ sợ hãi trước anh cũng chỉ là một lũ ngu vô vọng. Chính vì chúng ngu, nên chúng không thể hiểu con quái vật như anh. Chúng tìm mọi cách lợi dụng mà chẳng thấu hiểu anh chút nào, vậy nên chúng sợ anh dù cho luôn mồm ca ngợi anh như một vị anh hùng. Thật đúng là một bọn hèn mạt. Chúng chả khác gì lũ mọi rợ dốt nát cúng tế và xu nịnh một con sói ăn thịt người, cái loại còn chẳng phải quái vật, chứ đừng nói đến một sứ giả của thánh thần.”

Gã ta nói bằng một giọng rõ ràng, vang vọng. Cách hắn diễn đạt chẳng phải kiểu tự say sưa với chính ngôn từ của mình, mà giống như thể những lời đó, chỉ một và duy nhất, là sự thật vô cùng hiển nhiên.

Phản ứng của những con người xung quanh hắn có nhiều kiểu khác nhau. Một số gật đầu cùng đôi mắt tỏa sáng, trong khi số khác thì thoáng nhăn mặt như muốn nói rằng, “Anh ta lại thế nữa rồi”. Gần mũi tàu, một nữ cung thủ tỏa ra khí chất hoang dã đang nhìn chòng chọc về phía gã tóc vàng với sự nghi ngờ hiện rõ. Gã ta hoặc không nhận ra ánh nhìn đó của cô ta hoặc vờ như không để ý, bởi vì hắn vẫn tiếp tục bài diễn văn của mình.

“Đất nước của tôi — đất nước mà tôi dựng lên sau này — sẽ khác. Tôi sẽ ban sự giáo dục cho mọi thần dân của mình. Tôi sẽ xây dựng một ngôi trường trong thành phố tuyệt hơn mọi cái khác và để cho tất cả mượn lấy kiến thức uyên thâm của tôi đây. Ai rồi cũng sẽ biết đọc biết viết, có vậy thì họ mới không bị lũ thương nhân vô liêm sĩ lường gạt. Tất nhiên, họ sẽ không bao giờ có thể sánh bằng trí tuệ của tôi, vậy nên tôi sẽ phải bù lại cho họ những điểm thiếu sót.”

Một gã mồm miệng đích thực.

Bazdilot tiếp tục lắng nghe bài diễn văn của gã, dù rằng chẳng cảm thấy một chút ấn tượng mạnh mẽ nào về hắn. Alcides, một trong những thính giả nguyên bản, lắng tai nghe tràng độc thoại lê thê trong im lặng.

“Sau cùng, tôi rồi sẽ trở thành một vị vua; tôi đã chuẩn bị nhiều thủy thủ đoàn đến thế này mà. Miễn là mọi người nghe theo, tôi sẽ ban thưởng xứng đáng cùng một mảnh đất thịnh vượng cho tất cả. Một mảnh đất nơi đem đến sự an toàn cho mọi người. Tại mảnh đất đó… Hay lắng nghe cho rõ! Tại mảnh đất đó, không một ai sẽ nhìn vào anh mà sợ hãi!” Gã đàn ông tóc vàng tuyên bố, dang rộng hai tay và ngắt miệng Alcides lại, người sắp sửa định nói gì đó. Cử chỉ đấy gần như thể để nói rằng những lời nói của gã cũng chính là thế giới này.

“Vì chỉ cần anh là người của tôi, bằng hữu của tôi, tài sản của tôi, thì tất cả mọi người đều sẽ thấu hiểu anh.”

 

x                                            x

 

Tới đấy, Bazdilot quay trở lại với thực tại. Xung quanh hắn trải ra khoảng không gian ảm đạm thường thấy của Xưởng Phép mình, thứ nằm dưới chân một xưởng chế biến thịt.

Bazdilot để ý thấy mình đang ngồi trên một chiếc ghế. Sau đó, hắn lấy ra một chiếc đồng hồ bỏ túi và xác nhận rằng kể từ khi hắn bắt đầu ngủ thì chính xác năm phút đã trôi qua.

Sau một hồi im lặng ngắn để ngẫm lại những gì mình vừa thấy, hắn chậm rãi đi đến kết luận.

“Hiểu rồi. Vậy ra đó là thuyền trưởng của tàu Argo.”

Ngay lúc đấy, một phần không gian trong Xưởng Phép quặn lại, và một khối Ma Lực đậm đặc vật chất hóa thành hình dạng con người.

“Ý ngươi là gì?” Alcides hỏi Master hắn.

“Ký ức của ngươi đã lọt vào giấc ngủ của ta. Ta cho rằng đấy là bởi mối dây liên kết Ma Lực giữa hai ta. Một thằng nhóc ngạo mạn đứng trên một con thuyền phun ra những điều vô nghĩa về thiên đường của nó, đấy là thứ mà ta đã thấy.”

Bazdilot chẳng hề có ý định che giấu những gì hắn thấy hay ấn tượng của bản thân về nó. Alcides chìm trong im lặng một lúc, rồi cười thầm khi lắc đầu, dường như thể hồi tưởng lại quá khứ xa xăm.

“…Thiên đường của hắn? Ta không nghĩ có bất cứ ai khác lại có thể tuôn ra được những lời khó mà tin tưởng như vậy trên một con tàu.”

“Một tên vô dụng. Vào thời đại ngày nay, những kẻ như chúng ta hẳn sẽ bóc lột hắn đến tận xương tủy, và rồi quăng đi như thứ đồ bỏ — chỉ đơn giản là một thằng đần chẳng biết thân biết phận. Tại sao một anh hùng tầm cỡ ngươi lại cố công chèo lái cho một kẻ như hắn?”

Bazdilot, vẫn với nét mặt vô cảm, đưa cho Alcides một bản phác họa nhân vật và một câu hỏi dựa trên những gì hắn trông thấy. Lời đáp của Alcides đến ngay lập tức.

“Gã đàn ông đó chỉ là một tên hề thô thiển với tất cả khuyết điểm lẫn sự méo mó của bản ngã con người bên trong. Cũng không thể phủ nhận việc hắn lúc nào cũng bảo với những bạn đồng hành của bản thân rằng mình là người có thể tận dụng tốt nhất bọn họ. Chính điều đó đem đến cho hắn ánh mắt lạnh lùng của Atalanta.”

Atalanta. Nghe được cái tên của nữ thợ săn được kể rằng từng một lần là bạn thuyền của Alcides trên tàu Argo, Bazdilot đồ rằng cô ta ắt hẳn chính là người phụ nữ xuất hiện trong cái khung cảnh mà hắn vừa chứng kiến.

“…Nhưng nó gợi lên cùng một giấc mơ bình đẳng cho ta, kẻ bị kinh sợ như một con quái vật, và cho nữ hoàng của Lemnos, và thậm chí là cả những con quái vật trên bờ biển hiểu được ngôn ngữ loài người. Hắn nhắm đến ngai vàng của một vị vua, chứ không phải thần thánh. Dù vậy, ta nghi ngờ về việc hắn có phân biệt hai điều đó.”

Đấy là một lời đánh giá gay gắt, nhưng không có tí dấu hiệu nào của sự mỉa mai trong giọng của hắn.

“Hắn là một gã đáng thương, kẻ quên đi lời dạy từ người thầy chung Chiron của chúng ta để rồi bị ám ảnh bởi khao khát của chính mình. Tuy nhiên về những câu chuyện cuồng dại mà hắn dệt nên, thì chẳng có gì sai lầm trong chúng cả.”

Alcides giải thích về người đàn ông từng là thuyền trưởng của tàu Argo với một giọng khoan thai; một giọng của người nam nhi đang tả lại giấc mộng thủa xưa mà mình từng ấp ủ.

“Gã ta, kẻ bị bôi nhọ bởi sự hèn hạ và lòng tham lam, là con người giống con người nhất mà ta từng gặp. Nếu phải gặp thất bại, ta chẳng muốn kết cục là những lời nguyền, sấm sét hay lửa địa ngục được lũ thần giáng xuống ta. Ta muốn linh hồn mình bị thiêu rụi bởi lòng tham vô đáy của một kẻ như thế — của một con người.”

“…Nghe gần như thể ngươi trông mong việc đấy.”

“Tất nhiên. Nhưng là sau khi ta đã trả được thù.”

Sau đó, cứ như tình cờ, hắn bắt đầu hồi tưởng về chiếc tàu tráng lệ mà mình từng cùng phiêu lưu — Tàu Argo.

“Con thuyền đó đích thực là ngôi đền của lũ trộm cắp. Bên ngoài nó tỏa sáng rực rỡ, nhưng sâu tận bên trong là một vòng xoáy của bại hoại, tham lam và bội nghĩa — chứa đựng tất cả nghiệp chướng mà con người gánh chịu. Ta ngờ rằng có kẻ nào hiện diện trên con tàu đó mà lại không thể xuống tay giết ta, cả gã thuyền trưởng cũng thế. Và ngược lại, cả ta cũng vậy.”

“Xem ra ngươi rất gắn bó với con thuyền đó.”

Một lời nhận xét pha nữa mỉa mai, phát ra từ một bộ mặt cứng đơ hoàn hảo. Alcides chẳng xác nhận hay phủ định nó. Hắn bình thản kể tiếp câu chuyện về hồi kết của gã thuyền trưởng.

“Cuối cùng, gã đàn ông đó đã đánh mất tất cả. Ta nghe nói rằng là hắn đã suy sụp mà chết rục bên xác chiếc thuyền chúng ta từng chia sẻ niềm vui, cũng như sầu muộn… mặc dù đấy có lẽ là một hành động thương xót chân thật của con tàu dễ đổi ấy.”

Chứng kiến cảnh Alcides suy tư kể lại câu chuyện làm dấy lên một mối nghi hoặc trong tâm trí Bazdilot.

-Quá lắm mồm. Không ngờ một kẻ như hắn lại khát khao được chuyện trò về quá khứ như vậy…

Về phần Alcides, hắn đáp lại những nghi ngờ đấy bằng cách nắm lấy cây cung và nhẹ nhàng đặt chót đỉnh của nó lên mặt sàn. Cơn khát máu của Alcides dâng trào, tỏa ra cái rét lạnh lẽo sắc bén xuyên khắp khoảng không Xưởng Phép kèm theo những đợt sóng âm thanh lan truyền ra từ chấn động.

“Ta nói nhiều như vậy chỉ đơn giản là để truyền đạt ý nghĩa của điều ta sắp sửa cất ra. Ta không muốn hiểu lầm rằng ta ban phát chết chóc chẳng vì lý do gì cả, như những gì bọn vô pháp tự gọi là thần vẫn làm.”

“…Ý ngươi là gì khi nói vậy?”

Ngay cả khi đứng trước khuôn mặt lột trần cơn khát máu của Alcides, Bazdilot vẫn không lay chuyển chút nào.

Giữa cái áp lực dữ dội đến mức có thể xé nát cơ thể của một con người bình thường trước cả khi linh hồn hắn bị nghiền vụn, Alcides hạ thấp giọng mình và đưa ra một “lời cảnh báo” cho Master của hắn.

“Có lẽ hắn đúng là một tên kiêu ngạo đần độn không thể cứu chữa, một kẻ chẳng biết vị thế của bản thân, nhưng cho dù thế… thì hắn vẫn là bạn của ta. Ngươi, kẻ không có mặt trên chiếc thuyền đấy, ta sẽ không cho phép nhà ngươi tùy tiện xúc phạm bạn ta như vậy.”

Đó là một lời đe dọa trực tiếp. Bazdilot đoán rằng nếu hắn tiếp tục đưa ra nhận xét miệt thị nào khác về tên thuyền trưởng đó, Alcides chắc hẳn sẽ không nương tay mà tấn công hắn.

“Ra là vậy. Hiểu rồi. Ta sẽ không xin lỗi, nhưng ta hứa sẽ không bao giờ nhắc tới chủ đề này lần nữa.” Sau một khoảng ngắn im lặng, Alcides khỏa yên cơn khát máu và quay lưng lại với Bazdilot. Nhìn theo lưng hắn, Bazdilot hiểu ra tại sao một cuộc đối thoại tầm thường như thế lại len lỏi theo mối liên kết Ma Lực vào trong tiềm thức mình. Đối với gã đàn ông mang tên Alcides này, khoảng thời gian mà hắn đồng hành cùng con thuyền đó nhất định là một trong số ít những khi mà hắn được đối xử như một con người, chứ chẳng phải như đứa con của một vị thần. Còn lại có lẽ là thời niên thiếu và cái khoảng thời gian mà hắn còn vui vẻ bên cạnh vợ con mình, những người với số mệnh định sẵn phải chết. Những tàn dư của con người Alcides, những thứ bị đối xử như sỏi đá lót đường, giờ đây hẳn đều tụ hợp để tạo nên nhân dạng này của hắn.

-Một gã méo mó, người thực hiện những suy nghĩ vặn vẹo mà chẳng vương chút trắc ẩn. Hắn khắc ghi mọi món nợ mình trao, chờ thời sử dụng chúng trong tương lai sau này.

-Có lẽ tên thuyền trưởng đó đích thực là một anh hùng.

Bazdilot chỉnh lại những quan điểm của mình về gã đàn ông tóc vàng mà hắn nhìn thấy trong giấc mơ mới đây. Khi hắn đang suy tính kế hoạch tương lai, thì thiết bị liên lạc trong Xưởng Phép nhận được cuộc gọi từ xưởng chế biến phía trên mặt đất.

“…Có chuyện gì?”

Tên Pháp Sư thuộc hạ trên tầng một đáp lại giọng lạnh như băng của Bazdilot bằng thứ gần như thể tiếng hét.

“Là-là nhà Einzbern! Một con homunculus của nhà Einzbern đang ở đây, và…”

Đấy là tất cả những gì gã thuộc hạ nói được. Một tiếng nổ dữ dội vang lên và cuộc gọi bị cắt ngang với âm thanh như cơ thể con người đổ ập xuống sàn.

Không nói lời nào, Bazdilot đứng lên và quay mắt về phía những bậc thang dẫn lên mặt đất.

Alcides xem ra cũng nhận ra có thứ gì đó không bình thường.

“…Chỉ có duy nhất một sự hiện diện,” hắn lẩm bẩm, cung nằm trong tay, “nhưng đồng thời cũng như thể có nhiều hơn chỉ một.”

Có lẽ đấy là trực giác của một anh hùng, hoặc cũng có khả năng là liên quan tới Tâm Nhãn của hắn. Alcides đồ rằng cái sự hiện diện vô cùng yếu ớt mà hắn cảm nhận được và thứ gì đó đã hạ người của Bazdilot là những thực thể riêng biệt. Như để chứng minh cho điều đấy, hắn ngay sau đó nghe được âm vang của hai đôi chân đang bước xuống những bậc thang đằng kia.

 

Thứ xuất hiện trong Xưởng Phép vài giây sau đó là một người phụ nữ mang nước da trắng không tì vết với mái tóc nhợt bạc của homunculus và một cô gái — dường như Pháp Sư — người có vẻ đang cố gắng nấp sau kẻ còn lại.

Thấy vậy, cả Bazdilot và Alcides cùng hiểu ra. Lý do tại sao chẳng ai trong hai bọn chúng có thể xác định được dù chỉ chút ít sự hiện diện của người phụ nữ này, người với vẻ ngoài của một homunculus nhà Einzbern, là bởi cô ta đang nén ép Ma Lực lại để chúng chỉ bao quanh độc bản thân mình.

Đối mặt với một vòm cầu đậm đặc Ma Lực với bán kính tầm vài mét, Alcides lẳng lặng chuẩn bị cánh cung, trong khi Bazdilot cất lời với vẻ mặt băng giá.

“Một con rối của nhà Einzbern, phải vậy không? Ngươi đến đây làm gì?”

Đối nghịch hẳn với Bazdilot, kẻ không để một chút cảm xúc nào hiện ra trong giọng mình, homunculus kia vui vẻ nói với một nụ cười thân mật trên khuôn mặt.

“Ồ, cái bộ dạng nhớp nháp bùn lầy chưa kìa… Ngươi quá nửa đã không còn là con người, đúng chứ?

 

Trong trường hợp đó… Ta không nghĩ là ngươi sẽ phiền nếu bị ta giết cùng với cái tên Anh Linh bại hoại đằng kia đâu nhỉ.”

 

x                                            x

 

Thế giới âm u này lấp đầy bằng sự hiện diện của rừng cây rậm rạp.

Những cây thông khổng lồ ở khắp mọi hướng vươn tới trời cao như những tòa nhà. Những chiếc bóng thăm thẳm từ tán lá cây phủ toàn mặt đất, chẳng khác gì  muốn nói rằng mình không chấp nhận để cho những mầm non mới nở được hít thở khí trời.

Giữa nơi ảm đạm u tối ấy, một chiếc bóng đen thẫm hơn cả thế sa xuống. Nó mang trên mình cái sắc sậm màu của mặt đất. Tuy nhiên, trên thực tế, bên trong nó tràn đầy thứ Ma Lực đậm chất cùng hào quang rực rỡ của sức sống. Và bên trong cái khối đất đấy, thứ uốn éo như nấm nhầy, một số “lời” liên tục được lặp lại. Hay nói chính xác hơn, chúng thậm chí còn không phải là những lời nói; chúng là những khối u tích tụ của thứ gọi là “ý chí”. Cục đất bẩn thỉu mới sinh này đang ngâm trong mình một thực thể như vậy.

 

Xuyên, và rồi khâu lại thật nhanh.

Mi là ngọn giáo xuyên thủng vạn vật, và cũng đồng thời là mắc xích thứ sẽ mau chóng khâu lại chân lý của chúng ta — chân lý của thế giới này.

Mi nhận được kiến thức cần thiết để trở thành một con rối hoàn hảo cùng nhiệm vụ phải thực hiện điều trên.

Ơn huệ đầu tiên và cuối cùng của chúng ta, được gửi đi để cảnh báo những kẻ ngạo mạn đang bước đi trên khắp đại địa.

Mi sẽ dẫn dắt chúng. Nhắc nhở loài người về vai vế của mình.

Xuyên, và rồi khâu lại thật nhanh.

Nhưng trước tiên, hãy học.

Người cần phải biết.

Biết về bản chất con người.

Trong cánh rừng của Enlil(10) , Utu(11) đã hạ sinh một con người “hoàn chỉnh”.

Quan sát, trò chuyện, và chọn lấy khuôn hình của mình dựa trên kẻ đó.

Và rồi sau đó Ninurta(12) sẽ ban cho ngươi một phần sức mạnh của ông.

Trước khi chúng ta thả mi vào rừng cây của Uruk, mi phải ở cùng “con người” mà Utu nuôi nấng.

Hãy trở nên hoàn hảo. Hãy trở thành một hình nhân.

Ngươi là một khối đất, thứ sẽ mô phỏng theo mọi sinh mệnh.

Hãy trò chuyện với nhân loại.

Xuyên, và rồi khâu thật nhanh.

 

Những lời vang vọng từ chính bản thân thế giới vào trong tận lõi của khối đất bùn ấy. Khối đất ấy chỉ đơn giản tồn tại trong bóng tối của cánh rừng, và lần theo những câu từ chỉ thị.

Nó phải hiểu con người. Nó phải gặp “con người hoàn chỉnh” mà Utu được cho là đã nuôi lớn.

Rồi, khi không khí trong khu rừng trở nên lạnh hơn, “nó” xuất hiện trước mặt khối đất bùn. Giọng nói bên trong khối đất vọng lên, và nó ngay lập tức hiểu rằng đây chính là “con người hoàn chỉnh” đó.

“Thứ” đó — “Thứ” chẳng thể gọi là nam hay nữ — mà đống bùn bắt gặp khi nó đơn thuần lan qua cánh rừng cất tiếng kêu—

Một tiếng kêu chứa đựng lòng căm thù bất diệt và phẫn nộ trường cửu dành cho toàn bộ thế gian.

 

x                                            x

 

Trong khu rừng.

“Sao thế? Cậu nghe như đang gặp một cơn ác mộng.”

Enkidu nhẹ nhàng vuốt ve lưng Master của mình — chú sói bạc — khi nó chầm chậm mở mắt ra.

Nhìn thấy ánh sáng lấp ló qua những tán cây xung quanh, nó cọ đầu mình lên Enkidu trong sự nhẹ nhõm. Sau khi chú sói cất lên vài tiếng sủa, khuôn mặt Enkidu trở nên u ám và anh nói với nó bằng chất giọng chân thành tạ lỗi.

“…Ra vậy. Đấy hẳn là những ký ức có từ trước khi tôi sinh ra. Thật xin lỗi vì đã làm cậu hoảng sợ.”

Enkidu lặng lẽ nhắm mắt. Sau đó, nhớ lại cái thời đại của quá khứ xa rất xa, anh lẩm bẩm, phân nửa là dành cho chính mình:

“Utu và những vị thần khác — Tất cả ngoại trừ Ishtar và Ereshkigal — thực sự tin tưởng rằng ‘cô ta’ là một ‘con người hoàn chỉnh’. Mà thực ra… Nếu tôi không gặp Shamhat và Gil sau ‘cô ta’, thì có lẽ tôi cũng tin là vậy.”

Con sói bạc khẽ rên, như thể để an ủi đuôi mắt buồn bã của Enkidu. Enkidu thoáng nở nụ cười đáp lại chú sói. Sau đó, vừa ngước nhìn lên bầu trời sao sáng chỉ hơi chút khác biệt so với ngày trước, anh nói về định mệnh của những vị thần.

 

“Vào thời điểm đó, có lẽ, đã là quá trễ để ngăn cuộc chia ly giữa họ với những con người xứ Babylonia.”

 

x                                            x

 

Khách san Crystal Hill — Tầng trên cùng.

“Hừm… Vẫn quá kém so với ngự phòng của ta ở Uruk.”

“Thật ạ? Nhưng nó đẹp thế này mà,” Tiné Chelc ngạc nhiên kêu lên.

“Đương nhiên; nó vốn lấy ra từ kho báu của ta,” Servant của cô, Vua Anh Hùng, nói với tông giọng có chút không vừa ý. “Tất cả đồ đạc của ta đều có chất lượng tốt nhất. Nhưng cái bầu không khí của thời đại này hoàn toàn chẳng đủ để cân trọng với kho báu của ta. Đầu tiên, kích cỡ thế này khó mà coi là đủ. Một căn phòng như vầy là quá tù túng để bộc lộ chính xác sự vĩ đại của Uruk.”

Căn phòng khách sạn cao cấp mà Vua Anh Hung đảo nhìn khi anh nói trông chẳng hề giống nó đã từng vài giờ trước. Mặc dù đòn công kích của Alcides đã phá nát cửa kính, nhưng nó vẫn là căn phòng sang trọng nhất chốn Snowifeld. Đồ đạc và giường ngủ đều là hàng có chất lượng tốt nhất. Đối với Tiné, người đã quen với việc sống trong một khu định cư ở hoang mạc, chúng là những thứ như đến từ thế giới khác. Thế nhưng…

Đêm trước, khi mà Vua Anh Hùng vừa kể hết câu chuyện dài đằng đẵng về việc xây dựng tường thành Uruk và rồi chuyển sang chủ để về việc thành phố Uruk hoàn hảo đến nhường nào, anh đã tuyên bố ý định bày trí lại căn phòng này. Rõ ràng anh không tin việc Tiné cùng cấp dưới của cô có thể hoàn toàn thấu hiểu được những kỳ quan của Uruk thủa xưa. Vậy nên, sau khi ra lệnh cho những thuộc cấp vận đồ đen dưới quyền Tiné “chuyển tất cả đồ đạc ra hành lang,” anh đã tự lấy những món hàng trang trí thuộc thời Babylonia từ trong kho báu của mình ra.

Đôi mắt Tiné mở to trước vẻ đẹp của chúng.

Tấm thảm trải dưới đất làm cô liên tưởng rằng mình đang bước trên những đám mây. Bồ dụng cụ ăn lấp lánh mà cô chưa từng được thấy sắp xếp gọn gàng trên chiếc bàn mà dường như được chạm khắc từ đá. Ngay cả thiết kế của những món đồ trang trí bằng vàng kia, thứ đứng trên làn ranh xấu đẹp mà chỉ cần một lỗi nhỏ thôi là hỏng hết tất cả, cũng dung hòa với không gian quanh họ. Tất cả dựng nên một sắc đẹp giản dị như một cánh đồng bằng vàng trĩu hạt.

-…Bộ giáp thường mặc của Vua Anh Hùng còn lộng lẫy hơn tất cả những thứ này, một trong những người mặc đồ đen nghĩ. Rồi họ nhận ra rằng mạng sống của mình chẳng đủ để trả cho việc nói to một câu như vậy, tất cả cùng tắm trong mồ hôi lạnh và nén cái suy nghĩ đó vào nơi sâu nhất trong tâm trí.

Về phần những viên đá quý, ngay cả vô số những viên Ngọc Lưu Ly — không phải là loại đặc biệt hiếm có — xuất hiện từ trong kho báu của Vua Anh Hùng cũng chẳng giống bất cứ cái nào mà Tiné từng thấy. Bề mặt của những viên đá đó, bọc trong vỏ chàm gần như trong suốt, được điểm xuyết với những mảnh pha lê tựa như gợn sóng bạc đầu. Chúng tạo cho cô cái ảo giác như thể cả một đại dương đã được niêm phong bên trong, tách chúng làm đôi sẽ làm nó tuôn tràn và tạo thành các vì sao cùng sinh mệnh. Giả như Vua Anh Hùng mà nói thế thật, Tiné có lẽ cũng sẽ tin răm rắp.

Và Vua Anh Hung phàn nàn rằng căn phòng này, ngay cả khi đã tô điểm với những viên ngọc khổng lồ đẹp đẽ nhường ấy, vẫn còn “quá kém.”

“Có lẽ ta nên bắt đầu lại từ đầu bằng việc xây dựng một cung điện hoàng gia — không, phải là một thành phố. Ngươi nghĩ sao, Tiné?”

“Chúng thần, những người không thuộc về Uruk, thật chẳng dám bước chân trên con đường của một thành phố như vậy.”

“Vớ vẩn. Có là thần dân Uruk hay không chẳng ảnh hưởng đến việc kẻ đấy đứng trên đá sỏi lót đường của nó.”

Vua Anh Hùng nhìn xuống Tiné và gạt đi lời ứng khẩu của Tiné.

“Từ quan điểm của ta, tất cả đều ngang hàng; đều là lũ tạp chủng. Xuất thân sang hèn chẳng tạo ra điều chi khác biệt hơn một mảnh vàng lá. Những kẻ mà ta công nhận là thần dân Uruk phải là những kẻ mang trong mình ý chí để tự mình khai khẩn những mảnh đất hoang.”

Sau đó khuôn mặt anh dịu lại, có lẽ là đang hồi tưởng về những thần dân Uruk.

“Thậm chí có cả một tên tạp chủng từ một ả hầu bàn quán rượu trở thành đại tu sĩ và hét vào mặt ta mãi tận cho đến khi ta xây dựng lại đất nước, ngươi tin được không? Ta sẽ không bao giờ hiểu được đức tin của ả dành cho mụ nữ thần ích kỷ Ishtar đó, nhưng đấy cũng chính là phẩm chất mà thần dân của ta phải có.”

“Một người như vậy…”

“Ả không phải là duy nhất. Tất cả thần dân Uruk đều phải vật lộn ghê gớm để có thể sống, nhưng không một ai xem đó là khổ cực. Cũng có những kẻ phụ thuộc và tôn kính ta, nhưng tuyệt nhiên chẳng có đứa nào tâm địa dối gian chỉ độc có miệng lưỡi tâng bốc ta cả. Bất cứ kẻ nào chỉ thoáng nghĩ tới việc đó thôi cũng đều sẽ chết như một con chó ở chốn hoang vu mà chẳng cần đến ta tự tay kết tội. Đấy chính là kiểu thời đại mà thần dân Uruk đã từng sống chung.”

Khi Vua Anh Hùng, người đang tắm trong những tia sáng ban mai lọt qua cửa sổ, nói đến đấy, anh liền quay về phía Tiné. Có lẽ cô lúc này đang dùng một loại Ma Thuật nào đó, vì cô gái này trông vẫn rất tỉnh táo và căng thẳng dù cho chẳng được chợp mắt.

“Ta cho phép ngươi nghỉ ngơi,” Vua Anh Hùng nói với Tiné vẫn bằng cái giọng hơi chút không vừa lòng.

“Ngươi sinh ra là con người; cứ theo lẽ thường mà đáp lại lời khẩn cầu từ bản năng mình.”

Một lời phê bình dành cho thuộc hạ của mình, và anh dừng lại trước khi chút nữa nói rằng mình nhìn thấu cả Ma Thuật mà cô sử dụng.

“Nh-nhưng thưa Bệ Hạ! Đối với thần thì tự thỏa bản thân mà lười biếng trong khi Bệ Hạ vất vả mà chẳng chợp mắt thật…”

“Vậy thì đây là thánh chỉ: nghỉ ngơi. Sẽ là nỗi nhục cho một vị vua nếu để ngay cả một tùy tùng tạm thời phải chết vì lao lực.”

Dẫu vậy, Tiné vẫn còn do dự. Vua Anh Hùng xóa sạch mọi biểu cảm trên mặt và nói lại.

“Ta tin là mình đã nói điều này với ngươi: Ta không cản việc ngươi hiến dâng sinh mạng mình cho ta, nhưng với ta thì thứ linh hồn thiếu chín chắn như vậy là chẳng cần thiết.”

“T-Thần xin bệ hạ lượng thứ.”

 

Khi đã nhìn thấy Tiné biến mất vào trong phòng ngủ sau khi bày tỏ lòng biết ơn của mình, Vua Anh Hùng chuyển sự chú ý tới những thuộc cấp áo đen của cô ta, những người vẫn còn ở trong phòng. Sự căng thẳng lan truyền qua họ khi chứng kiến cử chỉ đó của vị vua mà thông thường luôn hành xử như thể họ không tồn tại.

“Các ngươi cũng đã làm việc rất chăm chỉ. Tôn kính một con bé thiếu chín chắn như vậy là thủ lĩnh của mình hẳn phải là gánh nặng không nhỏ.”

“T-Tất nhiên là không ạ. Chúng thần không bao giờ…”

Vua Anh Hùng thu hẹp mắt lại về phía gã đầu tiên cố ép nụ cười xuống.

-Đứa thứ nhất.

Gilgamesh, người đã chứng kiến chẳng biết bao nhiêu mà kể con người khi là một anh hùng, một bạo chúa, một vị vua anh minh và một Anh Linh ngay lập tức nhận ra gã đàn ông đó là kẻ phản bội. Tuy nhiên, anh không vạch trần sự thật đấy, hay thậm chí là thông báo qua thần giao cách cảm cho Tiné.

-Mười con chuột, ta tin là vậy… nhưng vẫn còn nữa.

Nặn ra nụ cười tự mãn trong tâm thức, anh bắt đầu quay chiếc cốc trong bàn tay mình, phản chiếu lại ánh dương buổi sớm.

-Mà, chả sao cả. Chúng là thuộc cấp của Tiné, không phải đầy tớ của ta. Việc này là để cho nó tự phát xét lấy lũ phản bội, hoặc là chẳng phát hiện được để rồi bị đâm từ phía đằng sau…

-Nếu ngươi nhất quyết rằng mình không phải một đứa trẻ, tạp chủng ạ, thì hãy cho ta thấy tinh thần của ngươi đi nào. Là vua của ngươi, ta sẽ dành thời gian quý báu của mình để định lượng giá trị thực sự của nó.

Sau đó, anh nói với bản thân trong một giọng mà chẳng đến được tai ai.

“Tạp chủng, nếu ngươi chỉ đơn thuần là một đứa trẻ mà ta lầm tưởng hơn thế, vẫn mãi trôi dạt trong cơn mộng tưởng đến tận bây giờ.

 

Thì ngay cả những cơn ác mộng của ngươi cũng còn tốt hơn bội phần so với thực tại.”

 

x                                            x

 

Trong giấc mơ.

 

Kuruoka Tsubaki thức dậy trong ánh sáng buổi sớm rọi qua cửa sổ.

“Chào buổi sáng, Ngài Đen!”

Cái khối màu đen khổng lồ che kín trần nhà uốn éo vui vẻ đáp lại câu chào của cô bé.

Những chú chim cất tiếng hót bên ngoài cửa sổ. Trong khu vườn bên kia, những chú chó và mèo vui vẻ đùa giỡn mà chẳng đánh nhau.

“Chào buổi sáng, Tsubaki. Bữa sáng sẵn sàng rồi đấy.”

Cánh cửa mở ra và mẹ cô bé bước vào. Mùi thơm của thịt xông khói bốc qua những bậc cầu thang đến với căn phòng.

“Vâng! Chào buổi sáng, mẹ! Con đến ngay!” Tsubaki đáp lại với một nụ cười hồn nhiên.

Đây có thể gọi là một ngày bình thường, yên ổn cho cư dân Snowfield. Và tấm màn lại một lần nữa vén lên, để lộ ra những ngày thường nhật mà Tsubaki khao khát hơn bất cứ điều gì.

“Đúng như mình nghĩ! Trước đó hẳn mọi người đều đã đi du lịch!”

Sau khi ăn xong bữa sáng, Tsubaki ra ngoài vừa đi dạo vừa vui đùa với những con thú và nhận ra thành phố đã thay đổi so với ngày hôm qua. Xe cộ giờ đây lâu lâu lại chạy dọc theo các đại lộ, và cũng dễ dàng bắt gặp những người dân rải rác khắp nơi trong thành phố này.

Từ trước đến nay, phần lớn thời gian Tsubaki đều bị giam ở trong nhà và biết rất ít người ngoại trừ gia đình mình. Mặc dù vậy, lúc đầu khi phát hiện ra việc mọi người biến mất khỏi thành phố, cô bé này lại cảm thấy lo lắng và sợ hãi. Nhớ lại cái cảm giác đó, cô cảm ơn “Ngài Đen” lần nữa , kẻ đã bước vào trong bóng râm.

“Cảm ơn nhé, Ngài Đen. Nếu không có bạn thì mình hẳn sẽ rất đói và sợ hãi. Cá là mình còn có thể chết luôn ấy chứ.”

Chiếc bóng màu đen chỉ đơn giản rung rinh thân mình để đáp lại lời của cô bé. Cái cảnh khối màu đen đó lắc lư trong chiếc bóng của một bốt điện thoại công cộng nằm trên con đường hiu quạnh, quả thực chẳng khác gì sản phẩm của một bộ phim kinh dị, nhưng Tsubaki lại mỉm cười hồn nhiên với nó và dường như tin tưởng tuyệt đối thứ này.

 

Bản thân Tsubaki cũng không rõ tại sao mình lại dễ dàng chấp nhận cái thứ màu đen dị thường đó. Mặc cho còn nhỏ — không, chính bởi vì cô còn nhỏ — sẽ chẳng có gì lạ về việc cô đi theo tiếng gọi bản năng và ôm lấy nỗi sợ. Thế nhưng, vì lý do nào đó, Tsubaki lại chẳng bao giờ thấy sợ. Cứ như thể là cô cảm thấy an toàn khi ở bên cạnh thứ kia. Và chính vì cô chẳng bao giờ tự mình thắc mắc về điều đấy, vậy nên sẽ không một ai quan tâm tới mối quan hệ giữa cô và cái khối màu đen đó cả.

 

Không một ai cho đến ngày hôm đó, khoảnh khắc đó.

 

“Này, mình có thể xoa đầu chó và mèo của cậu không?”

Tsubaki bật ngờ vì bỗng nhiên được ai đó gọi. Khi cô vội vàng quay lại và nhìn thấy một cậu bé mà cô chưa từng gặp đang đứng ngay đấy. Cậu ta trông lớn hơn Tsubaki vài tuổi, mặc dù dưới góc nhìn người lớn thì cả hai cũng đều chỉ là trẻ con.

“Ưmm… Ừ. Tất nhiên rồi!”

Tsubaki do dự một chút, và rồi vui vẻ cho phép cậu bé kia. Cô không hề để ý rằng vào khoảnh khắc cậu ta xuất hiện, chiếc bóng màu đen — Pale Rider — đã cuộn phình lên như để đề phòng, rồi sau đó trở lại kích cỡ bình thường trong sự yên tâm vào khoảnh khắc Master mình mỉm cười với cậu bé.

Cậu bé kia, mặt khác, có lưu ý nhận ra cái khối màu đen uốn éo ấy, nhưng khi thấy nó dịu xuống thì cậu lại thở dài một hơi nhẹ nhõm.

Tạ ơn trời đất. Nó đã xem ta là bạn của Tsubaki. Tí nữa thì tiêu; ngay cả ta cũng chẳng cách nào đoán trước được hành động của cái loại Servant máy-móc này, cậu bé nghĩ khi vuốt ve má chú chó và nở một nụ cười hồn nhiên với Tsubaki.

“Jester.”

“Hử?”

“Tên mình là Jester Karture. Rất vui được gặp cậu.”

 

x                                            x

 

Xưởng Phép của một Pháp Sư.

Trong cái Xưởng Phép u tối, kẻ đầu sỏ cùng Servant của cô ta vui vẻ nằm lăn trên giường mà nhai kẹo tóp tép, hoàn toàn chẳng biết chuyện hai đứa trẻ ngẫu nhiên gặp nhau trong mộng giới của một cô bé.

“Măm… Ngon quá. Để tôi thử chỗ kia luôn nào.”

“Ăn cho lắm vào và phát phì bây giờ,” cô gái — Francesca — cảnh báo.

“Không, méo có vụ đó đâu; Tôi là một Anh Linh mà,” cậu trai Caster — Francois Prelati — cười rộng tới tận mang tai, vừa xé một bịch kẹo khác.

Francesca phồng má đáp lại.

“Hay thật đấy. Không biết tui có trở thành như vậy được không ta. Cậu có nghĩ nếu tui làm một thứ gì đó tuyệt đỉnh dưới cái tên Francesca này, thì tui cũng sẽ trở thành Anh Linh không?”

“Tôi nghĩ cô cũng sẽ chỉ hợp làm một với tôi thôi. Thực ra, cô hiện tại và cô mà Anh Linh Tọa sao chép thành một Anh Linh là những thực thể khác biệt vốn chỉ có cùng ký ức mà thôi, vậy nên tự hỏi rằng liệu mình có thể ‘trở thành’ một Anh Linh hay không ngay từ đầu đã rối lắm rồi. Dù vậy, tôi có nghe về những ngoại lệ được triệu hồi đến đủ loại thời đại khác nhau trong khi vẫn còn sống nhăn.”

Những lời của Prelati khiến Francesca nghiêng đầu bối rối khi cô đang nhai một món bánh ngọt Nhật Bản gọi là dorayaki.

“Tui tự hỏi liệu chăng Artie cũng nằm trong số đó. Mà cũng chả quan tâm làm gì, cô ta có được triệu hồi đến đây lần này đâu. Và tui cũng mới biết được nó có thể chọc một cú cực thốn về phía đám sếp mình nếu ta có được cơ hội ngược đãi cổ đấy.”

“Ra vậy… Chắc có lẽ cô đúng. Tôi nghe bảo rằng cô ta có một khoảng thời gian vất vả trong lần bốn ở Fuyuki, nhưng chẳng có vẻ gì là mấy sếp của chúng ta đã đến đó để hỗ trợ cô ta.”

“Có lẽ họ đoán ra được là không cần phải làm vậy. Mà dù sao thì có thử cũng chẳng được. Ở Anh là một nhẽ, nhưng làm gì còn đủ Thần Bí lưu lại trên thể giới này để họ vượt qua nổi đại dương từ cái hồ đó chứ. Cũng chính vì thế mà cậu mới có thể tách được kết cấu bên ngoài của thế giới hay… Ô?”

Dù rằng nội dung cuộc đối thoại của họ là vô cùng khó hiểu, đôi nam nữ này vẫn trao đổi câu chữ với nhau trong bầu không khí tán dóc giữa một cặp thiếu niên thiếu nữ… Cho đến khi hình ảnh trên một trong vô số màn hình xung quanh được nhìn thấy bởi cô gái và đôi tay cô đông cứng lại trên giữa đường với tới một bịch kẹo khác.

Đó là một hình ảnh tại địa điểm thuộc sở hữu của một Pháp Sư đóng vai trò quân tốt trong tay Francesca — màn hình đó đang chiếu cảnh ở một khu công nghiệp mà ở đó cũng là nơi Xưởng Phép của Bazdilot yên vị. Trên đó, một trong những ống khói nhà máy từ từ gãy đổ, và một bóng hình dị dạng, to lớn bất thường hiện ra trong đám mây bụi mù.

“…Cái gì kia? Một con quái vật khổng lồ? Con nhện bự từ Thung Lũng Pha Lê ư?”

Cậu trai Prelati ngồi thẳng dậy trên giường và quan sát với vẻ thích thú. Cái thứ khổng lồ dị dạng đó cùng Alcides dường như đang giao chiến với nhau, và một sự tàn phá nghiêm trọng đang bắt đầu lan rộng ra khắp khu công nghiệp.

“Con nhện đó chưa dậy sớm vậy đâu. Đó có thể là con mèo bị nguyền rủa của Anh Quốc.”

“Tui thì thấy nó trông chả giống chó hay mèo gì cả. Bộ ai đó đã triệu hồi một tên khổng lồ hay vua người Pict(13) à?”

Tới đó, Francesca nhận ra một khuôn mặt quen thuộc đang bỏ chạy ở một góc màn hình.

“Haruri?”

Ở khoảng cách như vậy, Francesca không cách nào nhìn rõ được, nhưng, ngay sau đó, dường như cái bóng hình dị dạng khổng lồ đó di chuyển để làm khiên chắn cho cô gái kia khỏi đống đổ nát đang lao xuống, chặn đứng tất cả mà không để sót lấy một mảnh vụn. Khi nhận ra rằng con tốt mà mình chuẩn bị, vì lý do nào đấy, lại cho phép thứ gì đó tàn phá Xưởng Phép của Bazdilot, Francesca dán chặt mắt mình vào màn hình với nụ cười ngây ngất trên mặt.

“Không thể nào. Thiệt luôn? Oa, xuất sắc lắm Haruri! Tui chỉ đem cô đến lấp đầy danh sách, nhưng rồi cô lại triệu hồi lên một thứ đỉnh đến như vậy! Đấy có thật là Anh Linh không thế? Ngoài vụ đó ra, chẳng phải cái lượng Ma Lực kia có gì đấy hư cấu sao!? Ôi, cơ địa tui nhức nhối cả lên rồi! Tui yêu những cô gái dám thách thức sự kỳ vọng của người khác như thế! Cô là tuyệt nhất đấy! Sau này tui phải đến tặng cô một cái ôm thật nhiệt cùng bánh kẹo hay gì đó mới được!”

Francesca giờ đang thở rất mạnh, má thì ửng đó cả lên. Servant dạng-nam của cô, ngược lại, phản đối Master của mình bằng giọng kiểu như bực bội.

“Này! Che hết màn hình rồi.”

 

Và sau đó, cư dân thành phố đón chào bình minh.

Bình minh này, đối với những người dự phần trong Cuộc Chiến Chén Thánh, đánh dấu khởi đầu của cuộc xung đột toàn diện.

Bình minh này, đối với những thường dân nơi vùng Snowfield, đánh dấu sự khởi đầu của vòng xoáy hủy diệt.


(1) Tên gọi khác theo tiếng Pháp cổ của Cath Palug – Con mèo khổng lồ xuất hiện trong huyền thoại về Vua Arthur. (Tiện cho ai chơi FGO thì nó cũng chính là con Fou đấy :v).

(2) Một vùng nằm ở phía Nam nước Pháp ngày nay, bao gồm 5 tỉnh Dordogne, Gironde, Landes, Lot-et-Garonne và Pyrénées-Atlantiques.

(3) Một con lợn rừng hoang nguyền rủa mà Vua Arthur cùng người của mình đã săn đuổi trong huyền thoại.

(4) Là một nhà thơ và người hát rong người Pháp cuối thế kỷ 12. Ông được biết đến với các tác phẩm nói về vua Arthur, và tạo ra nhân vật Lancelot. Xem Thêm

(5) Một thuật ngữ tiếng Đức trong cờ vua, đại khái là ám chỉ việc người chơi buộc phải đưa ra quyết định trong tình thế nan giải.

(6) Một kiến trúc sư người Pháp chuyên về kiến trúc nhà thờ thời Trung Cổ.

(7) Một vùng phía Bắc nước Pháp, bao gồm 8 tỉnh Essonne, Hauts-de-Seine, Paris, Seine-Saint-Denis, Seine-et-Marne, Val-de-Marne, Val-d’Oise, Yvelines.
(8) Một tác gia và nhà huyền bí học nổi tiếng người Pháp.
(9) Giấc ngủ bao gồm 4 giai đoạn lớn : Ngủ nông (vừa chợp mắt) – ngủ sâu – REM – thức giấc. Trong đó REM là viết tắt của Rapid Eye Movement – là giai đoạn xuất hiện những giấc mơ.

(10), (11), (12) Các vị thần trong của nên văn minh Sumer cổ đãi. Trong đó Enlil là thần của gió, không khí, đất và bảo tố; Utu là thần của mặt trời, công lý, đạo đức và sự thật; Ninurta là thần của luật lệ, ghi chép, trồng trọ và săn bắt.

(13) Một tộc người cổ sống ở miền Đông và Bắc Scotland vào cuối kỳ đồ sắt tới sơ kỳ Trung Cổ.

 


Xin chào! Đây là website chính thức của nhóm dịch truyện ValvrareTeam. Mấy đứa cùng sở thích cùng làm với nhau thôi. Light Novel trên đây được chúng tôi dịch hoàn toàn miễn phí ra phiên bản tiếng việt, tuy nhiên chúng tôi không khuyến khích các bạn sao chép lên website khác. Cảm ơn vì đã quan tâm."
© 2017 ValvrareTeam. Mã nguồn sử dụng Wordpress. Máy chủ sử dụng Vultr
Made with in Novel