Tập 4 – Chương 12 : Thiên Tài Đâu Phải Ngày Một Ngày Hai Mà Thành; Tất Thảy Ma Thuật Đều Dẫn Lối Đến Với Thảm Kịch

 

Gia tộc Escardos là một dòng dõi đặc biệt lâu đời, thậm chí là giữa những Pháp Sư tại vùng vịnh Địa Trung Hải.

Có lời đồn rằng gia tộc này vận hành trước cả khi Tháp Đồng Hồ thành lập — bên cạnh Phù Thủy Kischur Zelrecht Schweinorg cùng những Pháp Sư hoạt động suốt hàng trăm năm sau buổi bình minh của kỷ Công Nguyên. Không ai ở Tháp Đồng Hồ tin điều đó, và, quan trọng hơn cả, chính bản thân hậu duệ nhà Escardos cũng chẳng ngoại lệ. Xét cho cùng, dù trải qua biết bao thế hệ, họ không hề tạo ra được nổi dù chỉ một thành tựu đáng giá. Thậm chí cả Khắc Ấn Ma Thuật của họ cũng chỉ có mỗi tuổi đời là đáng tự hào — phần lớn những thuật phép mà nó khắc ghi đều không thể giải mã, ngay cả là với chính bản thân những người hậu duệ, đến mức mà hậu bối của họ nghi ngờ rằng đây chỉ là một trò lừa gạt ra vẻ cho giống với Ma Thuật thực thụ. Nhưng dù thế, nó vẫn có lưu giữ khả năng duy trì sinh mệnh cao cấp, nhờ thế mà họ mới có thể bám víu vào cái danh nghĩa gia tộc lâu đời của mình.

Dòng họ Escardos tự duy trì bản thân thể theo một phát minh Ma Thuật, thứ khiến cho thế hệ sau này ngày càng thụt lùi. Ngay cả tại Tháp Đồng Hồ họ cũng bị giễu cợt là “đám cổ hủ mục ruỗng.”

Giá như Mạch Ma Thuật của họ có thể phát triển… các trưởng tộc qua nhiều thế kỷ của nhà Escardos vẫn luôn khổ tâm vì điều này.

Kỳ lạ thế đấy, Mạch Ma Thuật của họ vẫn cứ mãi suy yếu qua từng thế hệ. Mặc cho họ có lôi kéo dòng dõi huyết thống mẫu mực thế nào, mặc cho bao nhiêu thế hệ mà họ tiếp tục làm vậy, sự phát triển của Mạch Ma Thuật vẫn chẳng chút chuyển thay, gần như không cách nào cảm nhận nổi. Nhưng dẫu thế thì với họ như vậy vẫn đỡ hơn là tàn lụi.

Nhìn theo khía cạch khác, việc Mạch Ma Thuật của họ vẫn chưa có dấu hiệu chạm đến đầu cuối của vòng đời, mặc cho dòng dõi đã kèo dài từ thưở ban xưa, là một mối họa. Về điểm đó, họ thậm chí đôi lúc còn bị lấy ra bàn luận như một đề tài nghiên cứu, ngay cả là trong Tháp Đồng Hồ.

Nhà Escardos nhận ra rằng việc để cho Khắc Ấn của mình chạm đến giới hạn, Mạch Ma Thuật dần dần chết đi, và bị nuốt chửng bởi dòng chảy thời gian — tan biến như những Pháp Sư — giống những gì đã xảy ra với nhà Makiri mới là hợp lý. Họ lao vào làm việc trong tuyệt vọng, cố sức níu giữ chỗ đứng như những Pháp Sư của mình để tránh khỏi định mệnh trên. Dù cho những Pháp Sư khác cười cợt rằng nó chỉ là một nỗ lực vô ích.

Và sau vài thế kỷ kể từ đó, một “dị vật” đã sinh ra trong gia tộc Escardos.

Mạch Ma Thuật của cậu thật sự mang số lượng vượt trội hơn những thế hệ tiền nhiệm. Chúng chẳng khác gì mao mạch, tuần hoàn Od khắp mọi ngóc ngách cơ thể cậu ta.

Sở hữu kỹ năng thiên phú trong điều khiển Ma Lực, năng lực khác người để kết hợp nhiều thuật phép của quá khứ thành một Ma Thuật độc nhất mới toanh, và Mạch Ma Thuật mà toàn bộ dòng họ chẳng ai sánh bằng — đây quả thực là sự ra đời của một người kế thừa chuẩn mực. Tuy nhiên hậu duệ này, người mà nhà Escardos yếu đuối nhưng ổn định tưởng rằng là điều mà họ vẫn hằng ao ước, rốt cuộc lại đẩy họ vào bước đường suy vong.

Đấy là bởi vì khi mà tài năng của cậu bé này bắt đầu nở rộ, thì đồng thời cũng lộ rõ ra rằng cậu ta hoàn toàn thiếu đi cái “tư tưởng” mà có thể coi là yếu tố quan trọng nhất của người Pháp Sư.

 

Từ bé, cậu đã có thể nhìn thấy được “nó”.

Vì lẽ đó, cậu đã tưởng rằng “nó” là điều hoàn toàn bình thường và cho rằng ai cũng có thể nhìn thấy được “nó” như mình. Nhưng chẳng lâu sau, cậu nhận ra rằng mình đã sai.

Sau đó, cậu được bảo rằng mình thuộc về một dòng dõi đặc biệt gọi là Pháp Sư, khi đấy cậu vẫn chưa đầy mười tuổi. Biết được điều trên, cậu đi đến kết luận rằng chính vì mình là một Pháp Sư nên cậu mới nhìn thấy được “nó”. Song, qua những cuộc chuyện trò với cha mẹ cùng những Pháp Sư mà họ có quan hệ, cậu nhận ra rằng mình lại lần nữa sai lầm.

Xem ra chính cha mẹ cậu cũng không nhìn thấy cùng một thế giới như cái hiện trước mắt cậu.

Khi cậu bé này sau cùng cũng ý thức được điều đấy, cậu cảm thấy sợ.

Một nỗi sợ mà cậu ta vẫn mãi chẳng thể tìm ra cách để giãi bày cho người khác thấu hiểu.

 

Khi cha mẹ cậu lần đầu nhận thấy sự lập dị của đứa con trai mình, họ đã thắc mắc liệu phải chăng cậu đã bị ám ảnh bởi thứ ảo tưởng gì đó. Tuy nhiên, sau rất nhiều những khảo nghiệm, họ buộc phải thừa nhận những gì cậu nói đều là sự thật.

Từ nhận định như đinh đóng cột rằng đứa con trai nhà Escardos sở hữu Ma Nhãn mạnh mẽ đã làm dấy lên một hồi huyên náo, nhưng để rồi phát hiện ra rằng cặp mắt đó chẳng hề có gì lạ thường. Chính sự thật đó, sự thật rằng mặc cho điều trên mà cậu vẫn có thể nhìn thấy được “nó”, làm cho những Pháp Sư quanh cậu cảm thấy lúng túng.

Đối với bản thân cậu bé, đó chỉ là chuyện bình thường. Song, cái quang cảnh mà cậu trông thấy đó gần như thể muốn nói lên rằng, “Chúng ta giờ không thể giải thích, mặc dù là con người, nhưng ngươi lại thở bằng mang.” Cứ thế, những gì mình có thể thấy dần dần làm cậu khó chịu.

Sau cùng, cũng vì những thứ mà cậu có thể nhìn thấy đó mà cậu từng nhiều hơn một lần suýt bị chính cha mẹ mình giết hại.

Nhưng cũng nhờ những gì mà chỉ cậu thấy được đấy mà cậu mới sống sót, thế nên cậu không thể hoàn toàn chối bỏ được “nó”.

Cậu yêu Ma Thuật và cậu yêu con người — giả sử như kết cục là bản thân mình căm thù những thứ gắn liền mật thiết với cả hai điều trên thì liệu cậu sẽ trở thành thứ gì? Những nỗi lo âu như vậy cứ mãi quanh quẩn bên cạnh cậu bé từ khi vẫn còn rất nhỏ.

Vào một lần, khi cậu đang trên đường tới một bữa tiệc trên du thuyền nọ, cậu đã gặp một người phụ nữ mà có vẻ như là Pháp Sư, hay gì đó giống vậy. Qua cuộc trò chuyện ngắn giữa hai người để hỏi cậu bé đường đến bến cảng, cô ta ắt hẳn đã nhận ra nỗi phiền muộn của cậu bé .

“Nếu cậu thấy lo lắng về Ma Thuật,” cô đưa ra lời nhận xét tự nhiên khi bước lên một con tàu du ngoạn sang trọng, “hãy bắt đầu bằng việc học về nó. Nếu không thể nhờ cậy gia đình mình, hãy thử với Tháp Đồng Hồ xem.”

Những lời đó của nữ Pháp Sư đó lưu lại mãi trong trái tim cậu bé. Nếu đến Tháp Đồng Hồ, cậu nghĩ, thì biết đâu cậu có thể hiểu được bản thân mình. Và thế là cậu đã đến thảo luận với cha mẹ mình, những người mới vừa thất bại trong âm mưu ám sát cậu lần thứ năm.

“Con muốn rời khỏi nhà và đi học ở Tháp Đồng Hồ,” cậu bé nói. Lúc này cậu vẫn chưa tròn mười tuổi.

 

Kết quả là cha mẹ của cậu đã tống khứ cậu khỏi nhà như quăng bớt cục nợ — dưới cái cớ là để công khai đứa con tuyệt vời của mình ra với thế giới và gửi cậu đến Tháp Đồng Hồ.

Như lẽ thường tình, khi họ thấy một cậu bé sở hữu số lượng Mạch Ma Thuật nhiều dị thường cùng với việc sử dụng Ma Thuật thành thạo vượt xa tuổi đời của mình, rất nhiều giáo sư trở nên phấn khích trước sự xuất hiện của một thiên tài rồi sẽ lưu danh sử sách tại Tháp Đồng Hồ. Nhưng mọi thứ không diễn tiến trơn tru đến vậy. Đúng thật chưa ai từng thấy một Mạch Ma Thuật nào được như của cậu bé, cũng như tài năng xuất chúng để điều khiển chúng. Vậy nhưng, dù cho có sở hữu Mạch Ma Thuật hạng nhất cùng tư chất Ma Thuật, họ vẫn hoàn toàn bất lực trong việc điều chỉnh cái tính khí đặc trưng hay cái tư duy chẳng phù hợp chút nào với một Pháp Sư của cậu bé này.

Các giảng viên dần dần trở nên xa lánh cậu. Họ có một viên đá thô chất lượng hạng nhất nằm trong tay mình, nhưng lại không thể tìm ra được cách để mài dũa nó. Chứng kiến một viên đá thô tỏa sáng rực rỡ hơn cả những viên ngọc bóng bẩy xinh đẹp đã làm tổn thương lòng tự trọng của những giảng viên đó, những người cố gắng chỉ vì lợi ích của bản thân mình. Và rồi sau cùng là họ xua đuổi cậu bé.

Một giáo sư tên Rocco Belfaban là người đã kiên nhẫn chỉnh đốn cậu ta trong khi cậu bị đẩy qua đẩy lại như thế. Song, rốt cuộc thì ngay cả vị giáo sư già cũng bắt đầu thấy khó khăn vì tính cách của cậu bé này — và cả những phần khác nữa.

Rồi một ngày, ông đưa ra đề nghị: một gã tân binh kỳ quặc mới vừa mở lớp. Mặc dù là một trong những Lord của Tháp Đồng Hồ này, tính đa cảm của hắn lại không khác nhiều so với một Pháp Sư trung bình. Biết đâu gã ta có thể dạy cho nhóc này điều mà nó muốn học.

Và thế là cậu bé đến gặp vị Lord mang tư tưởng mới, ủ rũ chắc mẩm rằng mình mới vừa bị đá đít đi thêm lần nữa và người thầy mới này cũng sẽ y vậy.

-Mình sắp chịu không nổi rồi. Đã chăm chỉ đến thế để trở nên giống một Pháp Sư thực thụ, vậy mà tại sao mình vẫn không thể làm được chứ?

-Chắc có lẽ vị giáo sư tiếp theo rồi cũng sẽ ghét mình thôi. Không biết sẽ được bao lâu trước khi đến người khác đây.

Dù rằng cậu bé mang những suy nghĩ như vậy, cậu vẫn cố hết sức để nở nụ cười. Cậu dùng Ma Thuật lên những thớ cơ trên khuôn mặt mình, tuyệt vọng giữ lại biểu cảm vui vẻ. Mặc dù chưa từng được học về nó, cậu vẫn biết cách để tạo ra nụ cười từ khi chỉ một đứa trẻ con.

Để có thể hành xử như một Pháp Sư, cậu bé trút năng lượng của mình để tạo nên một nụ cười gượng gạo. Cứ thế, cậu bé niệm phép để chỉnh những múi cơ trong nụ cười của mình hết lần này đến lần khác. Khi trái tim cậu như sắp sửa buông bỏ trước suy nghĩ rằng mình phải làm điều này mãi mãi…

Người đàn ông đó xuất hiện trước mặt cậu bé.

“Cậu là Flat Escardos? Cậu nhóc mà người ta bảo rằng có thể sử dụng nhiều loại Ma Thuật khác nhau, bất kể Mana hay Od, và thậm chí là chẳng cần kiến thức?”

Một người đàn ông trẻ tuổi với khuôn mặt nhăn nhó cùng cái cau mày chào Flat khi cậu bước vào căn phòng. Anh ta cao một cách thừa thãi và mái tóc cũng dài quá mức cần thiết. Nhưng điều thu hút lấy sự chú ý của Flat nhiều nhất là, trong tất cả những người tự nhận là giảng viên mà cậu từng gặp, người đàn ông này là người sở hữu bên trong lượng nồng độ Ma Lực ở mức thấp nhất.

Flat nhìn chằm chằm tò mò về phía một bóng người nhỏ thó ló đầu ra từ phía sau người đàn ông. Đó là một đứa trẻ cùng tuổi với cậu, người đang lườm sắc như dao về phía cậu và gầm gừ như một con thú.

“Giáo sư! Giáo sư! Thằng này bốc mùi khó ngửi quá! Em đập nó được không?”

“Thôi đi, Svin. Cậu ta là khách. Ít nhất là lúc này.”

Vị Pháp Sư người vừa được gọi là “Giáo sư” quay lại xem xét cậu nhóc vừa mới bước vào căn phòng. Trên khuôn mặt anh chẳng hề có nụ cười giả tạo nào cả.

“Tại sao cậu lại làm cái bộ mặt đó? Đang thử ta đấy hả, hay là chế giễu hử? Còn nếu không phải; nếu đó là cách mà cậu thích nghi với thế giới này, thì tốt hơn hết cậu nên mau mà nghĩ lại đi.”

“Sao ạ?”

“Ta đang nói với cậu rằng trẻ con thì đừng có mà dùng Ma Thuật để ép miệng mình cười.”

“!”

Cậu bé bị sốc. Cậu đã chắc chắn rằng mình đã che giấu hoàn hảo tất cả những dấu hiệu của Ma Thuật và không một ai quan sát từ bên ngoài có thể nhận ra việc cậu đang dùng nó để ép ra nụ cười. Liệu có phải là người này cũng có thể nhìn thấy thứ mà trước giờ chỉ mình cậu làm được? Trong chốc lát, cậu đã hy vọng vậy, nhưng rồi sớm nhận ra rằng mình đã sai.

“Sao thế? Cậu muốn hỏi gì à?”

“…Vâng, thưa ngài. Làm cách nào mà ngài biết được?”

“Bất cứ ai chỉ nhìn thoáng qua cũng nói được cả. Khi cậu cử động môi mình, phần cơ gò má, cơ cười và cơ nâng mép của cậu cử động chẳng hề đúng theo tuần tự chức năng — chứng minh rằng cậu đang dùng Ma Thuật để ép buộc biểu cảm trên mặt theo ý muốn. Chắc là cậu chỉ quan tâm đến mỗi kết quả và cố gắng phỏng theo chúng. Rõ ràng là chẳng hề để tâm đến việc quan sát quá trình. Một lối suy nghĩ quá trẻ con dẫn đến việc vận dụng Ma Thuật mà chẳng có chút kiến thức gì cả. Ta ghi nhận tài năng của cậu, nhưng tốt nhất là cậu nên sửa nó đi.”

Lời giải thích nhanh đó không phải là điều mà cậu bé mong đợi, nhưng cậu chẳng hề tuyệt vọng. Thế giới mà vị Pháp Sư cao ráo trước mặt cậu có thể nhìn thấy hoàn toàn khác với của cậu. Nhưng, cậu lại có cảm giác rằng thứ đó cũng không giống với cái của cha mẹ mình và cả những Pháp Sư khác.

Tại thời điểm đó, nó chỉ là một linh cảm mờ nhạt. Nhưng dẫu vậy, cậu bé vẫn giải trừ phép tác dụng lên khuôn mặt mình và gật đầu cái rụp với vị Pháp Sư kèm them nụ cười thật sự đầu tiên mà cậu có được từ rất lâu rồi.

“Tên em là Flat! Em rất mong được tham gia lớp của Giáo sư ạ!”

“…Từ chối — đấy là ta muốn nói vậy, nhưng cậu đến cùng với một lá thư giới thiệu từ ngài Belfaban, vậy nên ta không thể tùy hứng mà làm cậu thất vọng được.”

Vị Pháp Sư thở dài, rồi cau mày nhìn cậu bé — Flat — khi anh tiếp tục.

“Tốt thôi. Lớp học sắp bắt đầu. Ngồi ở một góc và ít nhất hãy làm quen với không khí ở đây.”

Nghe vậy, cậu nhóc phía sau vị Pháp Sư — cậu nhóc mà anh gọi là Svin — mở to mắt chòng chọc về phía vị Pháp Sư rồi tới Flat.

“Cái gì?!” Cậu hét lên. “Nó thật sự sẽ trở thành đệ của em à?! Cái thằng bốc mùi khó chịu này chắc chắn sẽ đem đến rắc rối cho thầy đấy, Giáo sư! Nên cắn nó trước khi thầy bị nó cắn!”

“Oa. Cắn á? Cậu nói cứ như Le Chien vậy… Nhưng, cậu khá là ngầu đấy chứ!”

“Đấy?! Nó nói như thằng ngáo, nhưng lại chẳng có mùi gì giống như là đang nói láo cả! Nó bốc mùi hư hoàn toàn rồi ! Quá nguy hiểm! Tiêu diệt nó trước khi nó tiêu diệt cả ngôi trường đi!”

Nhìn cảnh Svin sủa như một con thú vì lý do nào đó lại khiến Flat thấy vui. Trở thành mục tiêu cho một thứ cảm xúc thẳng thừng như vậy — ngay cả khi đó là một mối ác cảm của loài thú — là một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ đối với cậu. Nó rất khác với cái cách mà những bạn học ở những lớp học trước đây nhìn cậu — luôn giữ khoảng cách, cứ như họ đang nhìn vào một thứ quái dị.

Flat run lên xúc động. Đôi mắt của cậu bừng sáng. Cậu nhìn chằm chằm vào khuôn mặt của cậu nhóc bốc ra thứ mùi giống y như loài sói, hổ hay sư tử và bắt đầu lẩm bẩm gì đó dưới hơi thở của mình.

“Lobo…? Beetho…? Không, có lẽ sau cùng thì vẫn là Le Chien…”(17)

“Đợi chút! Mày tốt hơn hết là đừng có mà gọi tao bằng mấy cái đó!”

Svin trông như sẵn sàng để nhảy vồ tới bất cứ lúc nào. Thở dài, vị Pháp Sư đặt một tay lên giữ đầu cậu lại.

“Yên nào. Có muốn bị đuổi khỏi lớp không hả?”

Cùng lúc đó, những Pháp Sư trẻ bắt đầu lũ lượt tập trung vào trong căn phòng.

Xem ra không phải chỉ có mình Flat là người mới trong lớp học này. “Lord kìa…!” Một số nói, mắt sáng bừng. “Đó là Lord sao…?” Số khác thì tự hỏi. Tất cả những đôi mắt đó đều chăm chú vào vị Pháp Sư. Lát sau, khi mà Flat đã tự ném mình về một góc căn phòng học, như những gì được bảo, và cậu nhóc thú tính đã tự yên vị ở chính giữa hàng ghế đầu, vị Pháp Sư giới thiệu tên mình trước cả lớp.

“Khoa Lý Luận Ma Thuật Hiện Đại, Giảng Viên Hạng Ba Waver Velvet… đó là tên ta cho đến một khoảng thời gian ngắn trước.”

Sau đó, anh đọc lên cái tên thuộc về người đàn ông thay đổi định mệnh của vô số Pháp Sư, tính cả Flat trong đó, và khắc ghi lên lịch sử tại Tháp Đồng Hồ.

“Giờ, ta là Đệ Nhị. Ta mượn cái tên Lord El-Melloi II.”

 

x                                            x

 

Ngày 2. Buổi Trưa. Đại Lộ Trung Tâm.

 

Mười năm đã trôi qua kể từ ngày họ lần đầu gặp mặt, và quả thực định mệnh của Flat đã thay đổi. Định mệnh đó đã trải nghiệm một cú y như nhảy nhào lộn khi cậu từ tình cảnh dần dần bị đẩy khỏi thế giới và giờ đây đã tự mình tham gia vào một Cuộc Chiến Chén Thánh tổ chức ở Hoa Kỳ. Để đổi lại thì căn bệnh viêm loét dạ dày là thứ mà vị Lord El-Melloi II đáng kính nhận được, nhưng đó là chuyện của khi khác.

“Vậy, đi thôi nào, Berserker.”

“Ừ, đi thôi.”

Flat lúc này đang bị Jack còng tay, người đã biến thành một viên cảnh sát. Thậm chí có là Flat thì cũng chẳng ngu ngốc đến mức tới đó với điệu bộ mọi khi. Cậu đội trên đầu một chiếc mũ lưỡi trai kéo thấp qua mắt, đeo một cặp kính râm và khoác áo jacker da, thứ chẳng hề hợp với mình. Không những thế, bên cạnh việc tự cải trang, cậu còn điều chỉnh lượng Ma Lực lưu chuyển trong cơ thể và chuẩn bị vài phép nhằm ngăn không cho những Pháp Sư khác nhận ra.

“Ê,” cậu nói. “Thả ra. Thả tôi ra. Tôi vô tội. Tôi không có giết vợ mình! Cái gã với cánh tay giả mới là thủ phạm thật sự!”(18)

“Ờ… tôi nghĩ cậu đừng có phát ngôn gì hết thì hẳn sẽ tốt hơn đấy.”

“T-Thế à?”

Flat hét lên như thế bằng giọng đơn điệu một cách hoàn hảo. Thế nhưng, trước câu đáp lại của Jack, cậu xụ xuống im re và nặng nề ủ rũ đi theo sau hắn.

Khi họ sắp sửa bước qua lối vào, cậu ngước lên, xóa sạch toàn bộ biểu cảm đọng trên mặt mình.

“…Gì vậy.”

“Kết giới, rất nhiều lớp và dày cộm. Hình như gần đây chúng mới bị phá? Tại tôi có cảm giác rằng chúng được dựng lại rất vội.”

“Hiểu rồi… Thế bao nhiêu giây thì được?”

“Năm là đủ để lừa nó về sự tồn tại của cậu,” Flat đáp gọn và co rúm người lại tại chỗ.

“Chuyện gì đây?” Một viên sĩ quan tình cờ đi ngang qua lối vào ngay lúc đó hỏi Jack.

“À, chỉ là một tên say xỉn và gây rối giữa thanh thiên bạch nhật thôi. Tôi giải hắn đến không vấn đề gì, nhưng hắn bảo là mình thấy không khỏe vậy nên tôi đang cho hắn được nghỉ một lát.”

“Ra là vậy. Cực nhỉ… Mà đừng để hắn ói mửa ở đây, được chứ? Họ vẫn chưa hoàn tất toàn bộ việc điều tra vụ đánh bom khủng bố hôm qua đâu.”

“Chắc rồi. Không cần phải lo.”

Khi cuộc đối thoại diễn ra phía sau lưng, Flat lặng lẽ thì thầm những câu chú độc quyền của của mình.

“…Game select.”

Flat vẫn giữ thế ngồi xổm và đặt một tay lên mặt sàn, chèn một thuật chú mới vào trong một phần kết giới mà cậu chạm vào. Giờ, cậu đã bắt đầu quá trình hack trên diện rộng lên những lớp rào chắn kia.

Cậu đang để cho Ma Lực của chính bản thân thấm vào các khoảng trống giữa những lớp kết giới xếp lên nhau đầy phức tạp, chiếm quyền điều khiển quá trình “sửa chữa” trong khi lừa hệ thống cảm biến — làm chúng tin rằng cậu là một trong những người dựng nên chúng.

Chỉ sau tầm khoảng bốn giây cậu đã hoàn tất thuật chú trên và nhét nó vào bên trong những lớp kết giới. Nó tựa như một phần mềm tự động, thứ sẽ tiếp tục sửa đổi những phần cốt yếu của các kết giới kia theo ý Flat muốn.

“Game over,” Flat lẩm bẩm với một nụ cười, và chậm rãi đứng dậy.

“Cảm ơn ngài cảnh sát. Tôi cảm thấy ổn hơn rồi.”

“Hiểu rồi. Vậy giờ đi thôi.”

-Hắn trông chả giống bị say gì cả…, viên cảnh sát thắc mắc khi nhìn vào khuôn mặt của Flat, nhưng vẫn để yên cho cặp đôi đó đi. Có lẽ viên sĩ quan này cũng có nhiệm vụ riêng cần phải giải quyết.

Và như vậy, Flat cùng Jack bước chân vào trong đồn cảnh sát.

Trong Cuộc Chiến Chén Thánh này, Flat hoàn toàn có thể xem là Master mang ít lập trường nhất. Dù vậy, cậu vẫn bước tiếp một bước về phía trước. Cái lòng quyết tâm mà cậu giữ trong tim mình, nó mờ nhạt đến mức tựa như trong suốt, nhưng nhờ thế mà đem đến cho nó một sự tinh khiết không thể chối cãi.

Và chính nó là thứ sẽ đương đầu trực diện với lũ nấp mình sau nơi góc tối của những biến động ở tại chốn này.

 

x                                            x

 

Crystal Hill — Hai mươi mét sâu dưới lòng đất.

Thành phố Snowfield không hề sở hữu hệ thống tàu điện ngầm. Thay vào đó là một khoảng không gian rộng lớn nằm ẩn dưới năm mươi mét đất tại trung tâm thành phố — một không gian nằm dưới sự điều khiển của những Pháp Sư và viên chức chính phủ xây dựng nên thành phố này.

Nằm giữa khoảng không gian đó và bề mặt phía trên — hai mươi mét dưới lóng đất — là một khu vực đã qua chỉnh lý khác mang quy mô nhỏ hơn. Một trong số đó được giao cho Caster — Alexandre Dumas cha — như một “Xưởng Phép”.

“Ý là, ngay trên đầu ta là nguyên một sòng bạc, phố đèn đỏ và mấy nhà hàng cổ điển các kiểu, và ta thậm chí còn đếch được thả tự do để lên đó quẩy à? Cái sự tàn nhẫn này, nói về nó chút nào. Vậy, rốt cuộc thì ta đến đây dưới tư cách Anh Linh làm gì thế?”

Dumas thở dài và chuyển sự chú ý về phía năm người trẻ tuổi đứng trước mặt mình.

“Nếu kiếm được tiền, thì mấy chú tốt hơn hết nên đi mà xài. Hiểu chứ? Tiền nó như đồ ăn á; cứ mãi bận nghĩ rằng nó quá ngon để lãng phí thì rồi mấy chú sẽ thấy chúng chả ra khỉ gì.”

Hắn càu nhàu, nhưng cái tay thì chả chịu dừng di chuyển.

“Ta đã bảo ông anh — sếp của mấy chú — trước đó rồi. Trở lại cái thời xưa lắc xưa lơ đó, ta đã dùng gần hết tiền bản thân làm ra và tự xây lấy một căn biệt thự mà mình mơ ước. Tầng hai của nó, ta chất đầy trên đó đủ loại tượng bán thân của mấy tay thiên tài: Lão Hugo, Geothe, Homer, Shakespere, cả mấy tác phẩm nữa. Và nằm tại vị trí đáng tự hào nhất chính là tượng bán thân của ta, giờ hiểu chưa? Vét cả kho bạc để thuê được một tay điêu khắc hạng nhất về làm nó đấy. Đỉnh mà đúng không?”

“Ưm… Ừm. Đỉnh… Hiểu theo nhiều hơn một nghĩa.”

Dumas vẫn ngoáy bút liên hồi mà không để ý tới câu đáp nghi hoặc phát ra từ phía sau mình. Hắn đang viết những dòng chữ bằng tiếng Pháp trên thứ gì đó trông như một cuộn giấy.

“Cái thằng chó đẻ Balzac đó tới ngó nhà ta một cái và sủa , ‘Ờ…Nhìn sơ qua thôi cũng là quá đủ để thấy là ông đang đùa rồi. Mà, cái kiểu trò đùa cỡ này cũng hay ho thật.’ Thế đếch nào mà tập trung làm việc được khi thằng khốn đó cứ đá xéo hay là sỉ nhục ta chứ… Ồ phải, rợn người… ‘hắn’ đi xa đến mức tới tận trước cổng nhà ta, mà chắc có lẽ hắn thấy kinh tởm mà bỏ về luôn…”

“… ‘Hắn’?”

“Úi; lỡ mồm. Thôi quên nó đi,” Dumas cười thầm khi hắn chấm bút vào lọ mực.

Tới đó, hắn cuối cùng cũng quay lại nhìn phía sau mình.

“Thế? Chỉ có năm người thôi à? Ông anh cẩn thận thật đấy nhể?” Hắn hỏi kèm theo một cái nhún vai, rồi quay trở lại với cuộn giấy của mình.

Một trong những người được tập hợp tới đây — một thanh niên trẻ tuổi, người cũng là thành viên của Hội Calatin — nói với hắn.

“…Xin ông bỏ qua cho. Phần lớn người của chúng tôi đều đã được cử đến chỗ vụ huyên náo tại khu nhà máy, vậy nên…”

Lời xin lỗi đó đến từ một thanh niên vào độ tầm hai mươi lăm đến ba mươi tuổi. Dù nói vậy, nhưng khuôn mặt của anh ta lại trông trẻ hơn tuổi thật, hoàn toàn có thể dễ dàng bị nhầm thành một sĩ quan tân binh. Trong trận chiến với con quỷ hút máu mới đây, anh ta chính là viên cảnh sát mất đi cổ tay phải của mình. Hiện tại, vết thương đã được làm cho khép miệng bằng một phép đặc biệt và quấn trong băng.

“Ờ thì cũng chả quan trọng. Thật may là chú tới đây. Vậy? Chú đã được ông anh ‘chấp thuận’ cho đi đánh chưa?”

“Vẫn chưa…”

Viên cảnh sát siết chạy nắm tay trái lại trong sự ấm ức. Vị cảnh trưởng trước đó đã nói với anh rằng, “Trừ khi cậu có thể chứng minh được rằng mình sẽ không trở thành gánh nặng, ta sẽ không để cậu lên tiền tuyến.”

“Vậy trước hết, lý do chú em chiến đấu là gì?” Dumas hỏi, vẫn ngoáy tay “viết lách”.

“Sao…?”

“Chú em ăn được cái cơ hội ngàn vàng để mà trốn khỏi chiến tuyến, nơi đầy rẫy Pháp Sư và ai cũng có thể tạch bất cứ lúc nào. Cố gắng trở lại đó để làm gì? Có gì ở đó để chú em kiếm tìm sao?”

Viên cảnh sát đã mất đi bàn tay phải suy nghĩ về câu hỏi đó một lúc trước khi trả lời bằng một giọng rõ ràng.

“Bởi vì, như những gì ông nói, Caster… bất cứ ai, bất cứ lúc nào cũng có thể bỏ mạng.”

“Ồ?”

“Tôi… Không, tất cả chúng tôi, những người được cảnh trưởng tập hợp lại, không ai xem bản thân mình là Pháp Sư cả.”

“Thế mấy chú là gì?” Dumas hỏi, tay vẫn viết.

“Chúng tôi là những sĩ quan cảnh sát,” Anh ta đáp lại.

“…”

“Trong tình cảnh mà bất cứ ai, bất cứ lúc nào cũng có thể chết, thì nhiệm vụ của chúng tôi là phải cứu nhiều người nhất trong tầm tay mình.”

Dumas nghe câu trả lời không hề có chút do dự đó và bật cười khoái trá, rồi đặt ra một câu hỏi khác.

“Nói năng chất đấy. Thế chúng có làm chú no bụng được không hả?”

“Nếu đến ông mà con xoay sở để xây cả một căn biệt thự, thì tôi cũng có thể kiếm được đồ ăn cho mình.”

“Ha! Tới mà nghe cái mồm đó nói kìa. Vậy còn tiểu thuyết của ta thì sao? ‘Văn hay chữ tốt’ chứ?”

“…!”

Trông cảnh Dumas đột nhiên đứng dậy, năm viên cảnh sát không thể ngăn mình toát mồ hôi lạnh. Thật dễ mà sa vào cái bẫy của lối suy nghĩ rằng Dumas chỉ là một tên mọt sách vì nghề tác gia của hắn. Nhưng trên thực tế, hắn còn là một kẻ tràn đầy năng lượng. Người ta kể rằng, ngay cả khi đã ở độ tuổi gần đất xa trời, hắn vẫn tự mình đi săn thú hoang để viết sách nấu ăn. Nhìn cái thể chất đáng nể mà hắn thừa hưởng từ cha mình — một quân nhân phục vụ dưới quyền Napoleon — làm gợi nhớ tới câu “Ngay cả ta cũng có thể đánh bại hắn trong một màn giao đấu,” mà vị Cảnh Trưởng từng nói. Song, với những viên cảnh sát này, kết quả của một trận đo găng thẳng mặt như vậy xem chừng chẳng được rõ ràng đến thế. Dumas, khoác lên mình một bầu không khí hăm dọa, nắm lấy cánh tay của viên cảnh sát.

“Chúng là,” hắn nhún vai và đặt thứ gì đó vừa khít lên cổ tay phải của anh ta.

“Ta cũng thích mấy cái khác, nhưng… đám anh hùng luôn to mồm về ba cái lý tưởng, dõi theo chúng tới cùng khi được điên cuồng quăng lên mặt báo cùng với sàn diễn. Rồi.”

Cuối cùng, một tiếng cách thỏa mãn vang lên. Viên cảnh sát cảm nhận được một lực ép nhẹ cùng sức nặng vừa chuẩn trên cổ tay phải của mình.

“Đây là…”

Gắn trên tay phải của viên cảnh sát giờ là một bàn tay giả vừa vặn hoàn hảo.

“Nó có một mánh lới đặc biệt; ta sẽ giải thích chi tiết cho chú sau.”

“Không, nhưng… Cảnh Trưởng vẫn chưa cho…”

Viên cảnh sát nhìn chằm chằm vào tay mình với vẻ bối rối.

“John Wingard,” Caster nói với anh, quay trở lại với việc viết lách. “Hai mươi tám tuổi. Sinh ở New York. Nhóm máu AB. Con thứ trong một gia đình Pháp Sư. Không được kế thừa Khắc Ấn Ma Thuật.”

“Cái…?”

Anh ta nhìn chằm chằm về phía Dumas trong sự sững sờ khi nghe thấy tên mình cùng nguyên một chuỗi thông tin cá nhân.

Dumas nhoẻn miệng cười khi hắn tiếp tục.

“Xin lỗi, nhưng ta cũng làm chút bài tập đó với cả đám rồi. Chú mất mẹ khi mới chỉ là một đứa nhóc, và đó chính là cớ sự dẫn đến việc chú trở thành cảnh sát. Phải không nào, John? Bộ không muốn san sẻ nỗi buồn đó với bất cứ ai khác à?”

“…Tôi chẳng hề nghĩ gì to tát đến thế. Tôi chỉ đơn giản là muốn phục thù…”

“Ồ, không cần nhắc lại nó đâu. Chú chỉ phải cho phép những dòng câu chữ xinh xắn của ta. Sự trả thù sẽ giải quyết.”

Vẫn cười rộng tới mang tai, Dumas lại nhúng cây bút của mình vào lọ mực để chép lại một “câu chuyện” mới.

“Vào cái thời khi mà ta đang mải mê khắc họa Monte Cristo vào trong sách vở, tất thảy mọi người, từ lũ hàng rong dưới phố tới bộ trưởng quốc gia, ai ai cũng đều mong ngóng được biết hồi kết của kẻ báo thù đó đấy. Chú, phải, chính chú rồi cũng sẽ được người đời bàn tán… Chú sẽ dùng bàn tay đó — huyền thoại đó — thứ, sau cùng, là do ta bịa ra. Nhưng sẽ là láo toét nếu dám nói rằng chú sẽ không làm nổi vài phát giật gân.

John, đến lượt chú tới chỗ ông anh mà nói : ‘Giờ ông hãy chứng minh rằng mình sẽ không thành cục tạ đi nào’ rồi đấy!”

 

x                                            x

 

Đồn cảnh sát — Văn phòng cảnh sát trưởng.

“…Không thể nào hiểu nổi.”

Cảnh trưởng đọc bản báo cáo về vụ việc xảy ra tại khu nhà máy vào sáng nay trong sự bối rối. Dựa trên tình hình, xem ra Francesca cùng Servant của cô ta đã làm gì đó — ông chả biết đó là gì — để ngăn chặn thảm họa, thứ có nguy cơ lan rộng ra khắp thành phố. Còn về phần Bazdilot và Haruri, cả hai đã rời đi theo những hướng hoàn toàn tách biệt, lách khỏi mạng lưới quan sát của phe cảnh sát. Cả con homunculus nhà Einzbern cũng tương tự vậy, và vẫn chưa cách nào xác định được nguyên do tại sao cô ta lại hợp tác với Haruri. Tuy nhiên, điều đó không làm cảnh trưởng bận tâm quá nhiều.

Những thành viên của Hội Calatin đã cùng nhau kết hợp nhiều tầng kết giới diện rộng cùng với công cuộc di tản để nhằm hoàn toàn cách ly khu nhà máy khỏi những ánh mắt tò mò. Song, trước khi kịp thực hiện kế hoạch, họ đã ghi nhận được một cuộc sơ tán trên quy mô khổng lồ. Hơn một trăm ngàn thường dân sống quanh khu nhà máy đồng loạt di chuyển tới trung tâm thành phố và các khu dân cư, một sự kiện được trình báo lại chẳng khác gì một cuộc diễu hành biểu tình. Không những thế, chẳng hề có bất cứ dấu vết của bạo loạn hay hành động phá hoại nào còn lại sau những động thái tồi tệ kể trên; ngoài việc “sơ tán”, những thường dân đó chẳng làm gì khác.

“Có phải Francesca đã làm gì đó…? Không… Con đĩ già đó hẳn phải khoái được thấy cảnh tượng đám đông hoảng loạn hơn…”

Cô ta đã ép tình thế ban nãy phải đi đến hồi kết nhằm đảm bảo thành phố ở thời điểm hiện tại chưa bị xới tung, nhưng Francesca về bản chất là loại người thích thêm dầu vào lửa, chứ đâu phải dập tắt thế này.

-Việc di tản xem ra vẫn còn đang tiến hành quanh trung tâm thành phố và các khu dân cư… nhưng lại chẳng có lấy dù chỉ một chút dấu hiệu của Ma Thuật tác động trên diện rộng. Tất cả những gì còn lại là điều tra liệu phải chăng từng cá nhân bị ảnh hưởng bởi thôi miên hay…

Một tiếng gõ cửa vang lên làm gián đoạn mạch suy nghĩ của ông.

“Vào đi.”

Khuôn mặt thân thuộc của một trong những phụ tá dưới quyền ông xuất hiện qua cánh cửa mở — Một người phụ nữ hỗ trợ Cảnh trưởng qua việc làm tròn nghĩa vụ của người thư ký.

“Cảnh trưởng, tôi có một vấn đề khẩn cần báo cáo.”

“…Đó là gì?”

“Flat Escardos đang ở trong sảnh.”

“…Cái gì?”

Trước lời của viên thuộc cấp, Cảnh trưởng chuyển hướng mắt mình, không phải tới vị trí của hệ thống giám sát bình thường, mà là tới màn hình đặc biệt đặt trong văn phòng của ông. Ở đó, qua đôi mắt của một Khiển Sứ Linh, là một chàng trai từ trong những bản báo cáo. Vì lý do nào đó, cậu ta hiện đang bị còng tay và tỉ mỉ ngó nghiêng xung quanh theo cái cách không thể không nghi ngờ.

Cảnh trưởng nheo mắt mình lại trước hình ảnh một viên cảnh sát đi cùng với cậu ta. Đó không phải là một thành viên của Hội Calatin mà chỉ là một sĩ quan bình thường, người mà đáng lẽ ra hiện đang vắng mặt với công vụ hôm nay.

“Có một báo cáo ghi nhận rằng, vào thời điểm mà nó vừa triệu hồi Anh Linh của mình ở công viên, có thứ gì dường như là Anh Linh đã xuất hiện dưới nhân dạng một cảnh sát, đúng thế không?”

“Vâng, thưa ngài. Chúng tôi tin rằng cậu ta đã xâm nhập vào đồn cùng với Anh Linh của mình. Các lớp rào chắn vẫn chưa có phản ứng gì, thế nên rất có thể chúng đã hoàn toàn cô lập Ma Lực của bản thân.”

“Hiểu rồi… Thêm một câu hỏi nữa.”

“Gì ạ, thưa ngài?” Nữ cảnh sát hoạt động dưới tư cách phụ tá của ông vô cảm hỏi.

Cảnh trưởng chần chừ trong giây lát. Rồi khoảnh khắc tiếp theo, lưỡi của một thanh kiếm Nhật đã kề sát trên cổ cô ta.

“Ngươi là ai?”

 

x                                            x

 

Xưởng Phép của Dumas.

“Ưm, ông Dumas… Làm cách mà ông có thể tạo ra Bảo Khí vậy?” Một trong những viên cảnh sát hỏi. Cả nhóm họ đều mang một vẻ mặt lo lắng. Đây là lần đầu tiên họ được nói chuyện trực tiếp với một Anh Linh đồng minh như vậy, và đó còn là đại văn hào Dumas. Một vài trong số những viên cảnh sát này đã từng tiếp xúc với quyển Ba Chàng Lính Ngự Lâm khi còn ở tuổi thơ bé. Phần lớn thì nhớ những tác phẩm của hắn qua phim điện ảnh, phim truyền hình, và thậm chí là những buổi diễn múa rối.

Dumas đơn giản đáp lại cái câu hỏi căn bản từ “fan” của mình với một cái nhún vai.

“Anh Linh có thể là loại đa tài đến mức chả ai ngờ nổi. Những gì làm được khi vẫn còn sống cộng với các huyền thoại, tất cả đều được rộng cửa chào đón đến với những lời đồn bay xa. Trong trường hợp của ta, khi cái mạng này vẫn còn thì ta nào có phải Pháp Sư hay khỉ mẹ gì chứ, nhưng đúng là ta có dùng tiền để làm lắm thứ bên cạnh việc viết lách.”

Lóe lên nụ cười như một đứa trẻ láu cá, Dumas vui vẻ phá lên cười trong lời hồi tưởng quá khứ.

“Chà, khi anh bạn Garibaldi bảo rằng mình sẽ đi thống nhất nước Ý, ta đã quyết định tặng hắn một chút hỗ trợ. Cho tự do dùng chỗ vũ khí chất đống trên tàu Emma của ta này. Rồi cả xuất bản báo chí nữa. Đổi lại, hắn giao cho ta làm người giám sát của một bảo tàng, nơi chuyên đào bới mấy cái tàn tích và di vật của quá khứ. Giời ạ, chưa bao giờ ta có được cơ hội ngon ăn đến thế để mà nhìn ngắm cũng như chạm vào mấy thứ mê hồn đấy.”

“Các di vật… của quá khứ…”

“Vậy đấy, chúng hòa trộn với ‘Tạo Thành Dụng Phẩm’, ‘Tạo Dựng Trận Địa’ của một Caster và mấy cái tai tiếng về ba cái vụ rắc rối pháp lý của ta thành một kỹ năng. Nó không phải Ma Thuật; nó là ‘nghệ thuật’ nhái theo quá khứ của một Bảo Khí — nhái theo cậu truyện của nó — và chế lại. Đống tàn tích cùng di vật mà ta được chạm vào hồi đó có lẽ đã gây tác động ít nhiều. Quanh quẩn cái chốn Pompei đấy, cả đống thứ điên rồ cứ thi nhau lòi ra trước mặt.”

Có vẻ như chính bản thân hắn cũng không hoàn toàn rõ tại sao mình lại sở hữu kỹ năng này. Tuy nhiên, với kiến thức mà thế giới ban cho hắn dưới tư cách một Anh Linh, hắn vẫn có thể hoàn toàn làm chủ được nó.

Dumas bật cười hoài niệm và quay lại viết tiếp trên cuộn giấy.

“Ta cũng vướng vào rất nhiều rắc rối vào khoảng thời gian đó. Sau cùng dẫn tới là ta dấn thân vào một màn trả thù vòng vo vì lão già của mình.”

Cha của Alexandre Dumas, Thomas, đã đi vào lịch sử như một tướng quân nổi tiếng. Trong thời gian bị cầm tù ở Naples, thạch tín(19) mà ông tiếp xúc đã làm suy yếu cơ thể và rút ngắn tuổi thọ đi rất nhiều. Trận công kích Naples sau đó đã được tiến hành với sự hỗ trợ từ con trai của Tướng Thomas, Alexandre. Những người dân đồng minh đã thể hiện sự tôn trọng của mình qua việc chém đầu bức tượng của vị vua, người đã bắt giữ cha hắn ngay trước mặt. Hành động trả thù cho cha hắn đấy chỉ mang tính tượng trưng, còn chả đáng để gọi là vòng vo. Song, những viên cảnh sát trông có vẻ quan tâm về cha Dumas hơn là câu chuyện xoay quanh sự trả thù của hắn dành cho vua xứ Napes.

“Cha ông phục vụ dưới trướng Napoleon mà nhỉ?”

“Thôi đủ rồi. Lão già của ta kỳ thực phục vụ dưới thời Napoleon, nhưng ổng lại dính vào chút xung đột chính trị với Hoàng Đế Điện Hạ. Mấy chú biết đấy, lão già của ta sinh trong nhà của một quý tộc — ông của ta — và một nô lệ da đen — bà của ta. Vậy nên theo lẽ thường tình, phân biệt sắc tộc và chúng dùng nó như cái cớ để đá ổng đi. Nhờ vậy, lão già của ta cứ thế hao mòn trong nỗi tuyệt vọng, còn mẹ cùng ta thì ngay đến cả lương hưu quân đội cũng bị khước từ và bị bỏ mặc trong nghèo đói.”

“Vậy, ông có căm phẫn Napoleon không?” Một sĩ quan, người có vẻ thích thú với câu chuyện, mạo hiểm hỏi. Dumas dường như không hề để ý. Thực tế, hắn tiếp tục tự hào kể lại những hồi ức của mình.

“Đấy lại là một điều buồn cười nữa. Ta chỉ gặp Napoleon được đúng hai lần kể từ khi lão già nhà ta qua đời. Nhưng chuyện đó thì để khi khác ta kể cho.”

Dumas ngắt lửng câu chuyện. Có lẽ hắn cảm thấy rằng mình đã đi quá xa. Tuy nhiên, ngay sau đó, hắn lại nhớ về một giai thoại khác và bắt đầu kể lại với vẻ khoái trá.

“Mà chú nhắc ta mới nhớ, vào cái lúc mà cha mình chết ấy, ta vẫn còn là một thằng lông bông đần độn. Ta cố gắng trèo lên tầng hai với khẩu súng trong tay, gào lên rằng sẽ tự tay giết Chúa vì dám tước đi lão già của mình! Ngu hết phần người khác, nhể? Thằng oắt đó suy diễn rằng, ‘vì thiên đường ở phía trên cao, nên nếu bắn từ tầng hai thì viên đã sẽ chạm tới đó’.”

“À thì… Ông khi đó vẫn chỉ là một đứa trẻ…”

“Mẹ ta, lúc đó, bà tát ta và nói, ‘Chúng ta không cần thêm bất cứ tên anh hùng nào chống lại Chúa Trời nữa cả!’ ‘Anh Hùng’ là những kẻ bị dòng lịch sử đưa đẩy để rồi sau cùng mất mạng và bỏ lại gia đình của mình ở phía đằng sau… mặc cho những cái bạt tai mỗi khi chúng dám mạo phạm Chúa Trời trước đó. Mấy chú hiểu chứ?”

Dumas cười to và nhún vai mình, nhưng những sĩ quan cảnh sát chỉ trao đổi ánh mắt với nhau, không chắc liệu mình có nên cười trước một câu chuyện như vậy hay không.

“Hử? Sao thế?”

“Ơ, ưm… Chúng tôi không chắc là có nên cười hay không, và…”

“Gì cơ, mấy chú đang cố cảm thông với ta đấy à? Cứ cười đi, quan tâm làm giề. Mà kể ra thì đa phần người ta thường ngại nhắc tới một câu chuyện kiểu thế, nên có lẽ không phải ý hay khi lại chuyện trò quá cởi mở về quá khứ. Nhưng, nếu mấy kỷ niệm ngớ ngẩn đó của ta có thể giúp ai đó giết thời gian , thì mấy chú muốn bao nhiêu ta cũng kể tất cho. Tất nhiên, ta có lẽ sẽ cho thêm chút mắm muối như phí kể chuyện,” Dumas cười nhẹ.

“Thế?” Hắn không dừng lại mà hỏi tiếp cái viên sĩ quan. “Thỏa mãn chưa? Không phải lúc nào cũng có cớ hội để tán phét với một đại văn hào như ta đâu. Nếu còn gì thắc mắc, thì giờ là lúc đấy.”

Những viên cảnh sát dần nhận ra rằng Dumas là dạng hăng nói và bắt đầu nghĩ rằng mình nên lợi dụng cái tánh tự phụ đó để giữ hắn trong tâm trạng tốt… nhưng rồi John, người đang gồng tay giả của mình trong nổ lực làm quen với nó, hỏi một câu với vẻ nghiêm túc hiện rõ trên mặt.

“…Chiến thắng… Chúng tôi có thể không?

“Ta là nhà văn, đếch phải chiến lược gia hay thầy bói.”

“Những Bảo Khí được ông tạo ra quả thật tuyệt vời. Nhưng chúng tôi, những người nắm giữ chúng, vẫn chỉ là con người. Liệu chúng tôi có thể bắt chước theo những Anh Linh để đánh bại chúng… đánh bại được lũ quái vật chỉ với Bảo Khí trong tay?”

Nghe vậy, Dumas chìm vào im lặng một lúc. Rồi với một cái bẻ cổ, hắn nói.

“…Đấy là câu chuyện khác về quá khứ của ta, nhưng…”

“?”

“Khi mới bắt đầu khởi sự, ta đâu hề có ý định theo nghiệp kịch nghệ hay viết lách. Mẹ ta bắt ta đọc độc ba cái mớ bi kịch cũ xì và ta thì ngán chúng tới tận cổ… cho đến một ngày ta bắt gặp vở Hamlet. Phải nó là nó khác hẳn. Hoàn toàn khiến ta phải choáng ngợp. Ta ăn vạ cho bằng được một bản sao kịch bản và đọc đi đọc lại không biết bao nhiều lần đến nỗi ta thấu hiểu nó bằng cả trái tim. Và đó chính là thứ đã đem ta đến với kịch nghệ. Một trong những khởi đầu của bản thân này.”

“Vở Hamlet đó tôi có thể hiểu. Một tuyệt tác của đại văn hào William Shakespeare.”

Dumas nhìn cảnh những viên cảnh sát đều nhất trí với mình bằng một nụ cười nở rộng. Rồi, hắn tiếp tục câu chuyện với đôi mắt tựa như đứa trẻ vừa mới làm trò nghịch ngợm.

“Và như những gì ta đều biết, vở Hamlet đó đã được dịch — hay chuyển thể — bới cái gã tên Ducis. Dù sao đi nữa, hắn ta xé toạc những phần nguyên bản, rồi viết lại nó như một bản dịch bằng phong cách của chính mình. Ta đã sốc đến mức rủn cả gối khi đọc kịch bản thật sự mà Shakespeare viết sau đó. So với hàng xịn, thứ mà ta từng chiêm ngưỡng không hơn không kém chỉ là đồ bịp bợm mà dám chắc sẽ khiến cho Shakespeare, hay bất cứ fan hôm mộ hàng gốc nào, cảm thấy phẫn nộ. Một bản nhái thật sự của Hamlet.”

Dumas phá lên cười. Sau đó, cái giọng cười như sấm ấy của hắn đột ngột tắt hẳn và quay mặt về phía những viên cảnh sát, vặn môi mình thành một nụ cười tới tận mang tai.

“Dẫu vậy, chính cái thứ ‘hàng nhái’ đó đã làm thay đổi cuộc đời của ta. Không ai có thể phủ nhận được cả. Tất nhiên, đấy có lẽ một phần cũng là bởi hàng gốc đó quá hay. Nhưng dù là giả hay không, nó vẫn mang trong mình tâm huyết của lão Ducis.”

Sau đó, vừa đưa cho những viên cảnh sát vũ khí của mình, thứ mà hắn đã hoàn tất sửa chữa cùng với đó là nâng cấp trước cả khi họ kịp nhận ra, hắn vừa tuyên bố bằng khuôn mặt tươi vui của người thính giả đang xem một vở hài kịch, nhưng ẩn hiện trong đó sự tự tin của nhà đạo diễn chỉ huy sàn diễn.

“Thư giãn đi. Mấy chú chưa biết chứ nhiệt huyết của ông anh — sếp của mấy chú — là thứ không thể xem thường đâu. Hãy cứ tin tưởng ổng cho đến tận cùng, và rồi các chú sẽ có thể lật ngửa ván cờ trước vài ba huyền thoại chỉ được mỗi cái mác chính hãng.”

x                                                        x

 

Đồn cảnh sát — Văn phòng cảnh sát trưởng.

Khi lưỡi kiếm ánh bạc lấp lánh trong văn phòng, thời gian tựa chừng như thể ngừng trôi.

Rồi người nữ sĩ quan đang bị thanh katana kề sát bên cổ phá vỡ khoảng lặng kéo dài.

“Ý ngài là sao ạ? Tôi là Vera Levitt, một trong những thành viên của Hội Calatin mà ngài tập hợp và là phụ tá thân tín của ngài. Liệu tôi có nên xem đây là một hành động quấy rối nơi công sở?”

Cảnh trưởng khẽ nheo mắt mình trước câu trả lời không chút cảm xúc của người phụ nữ trước mặt.

“Ấn tượng lắm. Quả thực y như những gì mà Vera sẽ đáp lại.”

“Tôi là Vera.”

“Không, Vera thật đang trên đường tới phòng quan sát.”

Cảnh trưởng không nói tại sao, nhưng ông hoàn toàn có thể chắc chắn. Tất cả các thành viên của Hội Calatin, tính cả ông, đều mang một con chíp điện tử gắn trên vai mình. Bằng Od trong cơ thể, cảnh trưởng có thể khuếch đại khoảng cách hoạt động của các con chíp và cảm nhận chúng như thể theo dõi màn hình ra đa. Nếu ông tin tưởng thứ cảm biến này, thì con chíp hiện đang hướng tới phòng quan sát chính là của Vera. Ông cũng không hề xác định đuợc bất cứ thành viên nào khác bên trong văn phòng.

Dù là kẻ nào đang giả dạng Vera đi nữa, thì hắn trông có vẻ lo lắng rằng liệu lời của cảnh trưởng có phải là bịa đặt hay không. Tuy nhiên, lát sau, kẻ đó cười và lắc đầu của mình.

“Tôi chỉ kịp xoay sở để đọc nó. Một con chíp IC… vô phương sao chép một thứ phức tạp như vậy ngay tức thì. Đáng lý ra chúng ta nên dành thêm chút thời gian nữa, Master.”

Master.

Sự căng thẳng cực độ chạy khắp cơ thể vị cảnh trưởng khi từ đó được thốt lên. Rồi, như thể để làm dịu nó đi, một giọng hiền lành vang lên khắp cả văn phòng.

“Ồ… Một con chip IC? Bộ họ trang bị mấy thứ dạng như thiết bị điện tự gắn bên trong cơ thể à? Oa. Trăm phần trăm là tôi chả thể ngờ nổi. Xem ra lần này tôi tính trật rồi.”

Cảnh trưởng nghe thấy một tiếng thở dài ở nơi góc phòng và quay sang hướng đó trong khi vẫn duy trì sự cảnh giác cao độ trước thực thể đang đột lốt phụ tá của mình. Ở đó, ông thấy một Flat Escardos trong điệu bộ chán nản.

-Đứa hiện trong màn hình là một cãi bẫy đánh lạc hướng tạo thành từ Ma Thuật!

Ngay lập tức, cảnh trưởng chuyển sang thế hành động. Kế hoạch của ông là dùng lũ Ma Thú được đặt sẵn trong các lớp rào chắn của văn phòng để xử lý tên Master đối địch và ngăn không cho tên Servant kịp trở tay.

-Nếu chúng lén lút tới đây như vậy, thì khả năng ứng chiến của Anh Linh kia ắt hẳn phải thuộc hàng yếu. Liệu ta có thể giữ chúng cho tới khi người của mình trở lại không đây…?

Cảnh trưởng tức thì rút khẩu súng lục bằng tay rảnh còn lại và bắn xuống phía dưới. Khi viên đạn gần như vô âm chạm tới mặt sàn, một đầu đạn đặc biệt kích hoạt những bẫy nằm trong văn phòng, và ba con Ma Thú hiện thân bao vây lấy Flat Escardes. Rồi…

 

“Chơi nào.”

 

Flat lẩm bẩm gì đó, và ngay lập tức lũ thú cúi đầu ngoan ngoãn trước Flat. Chúng thậm chí còn bắt đầu vậy đuôi của mình.

“Cái gì…?”

Không những vậy, lệnh kích hoạt tất cả thuật chú phòng ngự cũng đều bị vô hiệu hóa. Thậm chí cả hệ thống báo động khẩn cấp cho Hội Calatin cũng ngừng hoạt động.

-Không thể tin nổi… Đây không phải là kiểu bạo lực như Assassin hay con quỷ hút máu sử dụng hai ngày trước. Chẳng lẽ ta buộc phải tin rằng nó đã viết đè lên Ma Thuật được thiết lập trên thời gian thực và chiếm quyền kiểm soát toàn bộ hệ thống!?

 

Đứa trẻ may mắn bị nguyền rủa.

 

Cảnh trưởng chỉ có chút ít thời gian để mà thừa nhận rằng cái biệt danh được trao cho cậu thanh niên Flat Escardos đó chẳng hề cường điệu, trước khi…

 

“Game select.”

 

Flat lại lẩm bẩm thứ gì đó, đóng tay mình lại, và lũ Ma Thú trở về nơi chúng hiện ra rồi tan biến. Tình huống lúc này đã hoàn toàn trở lại như trước khi hệ thống phòng ngự của văn phòng được kích hoạt.

-Nhưng ta vẫn còn cơ hội để phản công.

Ngay thời điểm lũ Ma Thú hiện thân, các thanh viên của Hội Calatin bên trong tòa nhà ắt hẳn cũng sẽ nhận ra sự hiện diện của chúng và tức tốc đến văn phòng. Với năm người bọn họ, bao gồm cả Vera, ông sẽ có thể chiếm được thế thượng phong, ngay cả khi là phải đối đầu với một thiên tài cùng Servant của nó.

-Nhưng vấn đề là liệu mình có thể cầm chân Servant này cho đến khi họ đến…?

Tới đó, mắt của cảnh trưởng lại lần nữa phải mở to. Một kẻ thứ hai; một bóng người y hệt đang đứng ngay sau nữ phụ tá giả mạo mà ông đang chỉa kiếm vào.

“Xin hãy hạ vũ khí, cảnh sát trưởng Orlando Reeve,” thứ dường như là Servant của Flat cất lời vô cảm trong chất giọng đồng nhất với của Vera.

Lại thêm hai bóng hình giống y đúc khác xuất hiện trong căn phòng khi câu đó được thốt ra, tất cả đều hướng về phía màn hình nằm trên bàn của ông. Cảnh trưởng tránh xa khỏi chúng, liếc nhìn về phía màn hình khi nhảy lùi lại. Thứ hiện ra ở đó làm ông kinh ngạc.

Mọi máy quay đều chiếu hình ảnh của Orlando Reeve cùng Vera. Chúng nằm ở nhiều vị trí, giải thích ít nhiều tính hình cho từng thành viên khác nhau của Hội Calatin.

-Đây… không phải hình ảnh qua chỉnh sửa. Nó giả dạng thành Vera và ta…? Và đông chẳng kém gì chúng ta sao!?

Anh Linh trong nhân dạng Vera nói, như thể để trả lời cho những nghi ngờ của vị cảnh trưởng.

“Tổng số người trong đồn hiện giờ có bốn mươi phần trăm là ta.”

Cảnh trưởng nhìn về phía vị Anh Linh cùng Flat và lặng lẽ tra kiếm vào vỏ.

“Xem ra ngươi đã hoàn toàn nắm thế chủ động.”

“Ô, ngài hiểu rồi à, vậy?”

“Phải. Nếu định giết ta, thì dám chắc là ngươi vẫn còn cách dễ dàng hơn nhiều để làm vậy. Ngươi khoe khoang một phần sức mạnh của mình để hóng chiếm lợi thế trên bàn đàm phán. Chẳng khác gì cách làm của lũ Mafia.”

“Ồ, không… Tất cả các rào chắn theo lẽ thường đều liên kết với ngài, thế nên tôi đã để họ giả thành một trong những người của ông để do thám… Tôi chưa từng nghĩ là ngài lại có thể nhìn thấu nó hay tình hình trở thành một cuộc đấu đá. Xin lỗi vì khiến ngài hoảng hốt như vậy.”

Vị cảnh trưởng không thể không cau mày trước cái cảnh Flat cúi đầu lia lịa. Quả thực ông từng nghe nói rằng chàng trai này không hề sở hữu khí chất của một Pháp Sư. Nhưng tại sao một thanh niên hiền lành như vậy lại tham gia vào Cuộc Chiến Chén Thánh?

-Hay tất cả chỉ là diễn, cả hành động này cũng vậy?

“Và? Cậu muốn gì?”

“Tôi, thực ra, về chuyện đó thì… Tôi nghĩ là, nếu có một Master ở trong đồn cảnh sát, thì tôi hơn hết nên tới gặp họ.”

“…Khoan. Điều gì khiến cậu nghĩ rằng có một Master ở trong đồn cảnh sát?”

“Vì có rất nhiều Pháp Sư trong hàng ngũ những cảnh sát qua lại trong thành phố, và có nguyên một hệ thống quan sát Thần Bí tập trung lại ở đồn cảnh sát. Thêm nữa, tôi nghĩ rằng Saber, người đã đọc bài diễn văn đó trên ti vi, có lẽ cũng ở đây, và…”

-Và để đề phòng, ta còn dùng nhiều lớp ngụy trang chồng chất.

Nghe được rằng hệ thống quan sát của mình đã bị nhìn thấu khiến cho vị cảnh trưởng phải nhăn mặt. Tuy nhiên, sau khi chứng chiến những kỹ thuật kỳ lạ mà cậu ta vừa phô diễn thì việc này cũng không còn quá khó để mà chấp nhận.

“Còn có một hệ thống quan sát khác liên kết với… Trung Tâm Cải Tạo của thành phố? Đó là nhà tù nhỉ? Nhưng dù sao thì nó cũng đóng kín mít.”

-Đấy chắc chắn là mạng lưới của Faldeus. Vậy là đến cả hắn cũng không ngoại lệ.

Cảnh trưởng cảm thấy hơi chút nhẹ nhõm và chuyển sang một câu hỏi khác.

“Nếu cậu tới đây là để lập liên minh, thì chắc hẳn cũng đã có mục tiêu trong đầu rồi. Thế kẻ đó là ai?”

“Sao cơ? Ồ! Xin lỗi, nhưng nó không… hẳn là một liên minh.”

“?”

“Chúng tôi, ưm, tới để báo cáo!”

Báo cáo.

Orlando, người vốn là cảnh sát trưởng trước cả khi trở thành một Pháp Sư, đã nghe từ đó xuyên suốt cả đời mình. Nhưng, lúc này, ông lại cau mày như thể chưa từng nghe nó bao giờ.

“Ngài thấy đấy,” Flat giải thích, “có vẻ như ai đó đang nằm ở bệnh viện cũng là một Master trong Cuộc Chiến Chén Thánh.”

“…Cái gì?”

“Và, kể từ sáng, cái người trong bệnh viện đó rất có thể đã dùng thứ Ma Lực yếu ớt để kết nối với một lượng người khổng lồ ở tại thành phố. Vậy nên, chà, tôi nghĩ là, nếu có ai đó liên hệ với bên cảnh sát mà biết về Ma Thuật, thì tốt nhất là tôi nên báo cho họ biết việc này.”

 

x                                            x

 

Bệnh viện trung tâm Snowfield.

Vị bác sĩ chịu trách nhiệm cho ca của Kurouka Tsubaki nhận được tin nhắn rằng có một cuộc điện dành cho cô và lên đường tới văn phòng.

“Ô, bác sĩ Levitt. Là từ em gái của bác sĩ.”

“Cảm ơn… Nó không thường gọi cho tôi lắm.”

Cô nhận lấy ống nghe từ nữ y tá và nói chuyện với đứa em gái mà ngày hôm trước mới gọi cho cô.

“Vera à? Xin lỗi; chị đang ở trong bệnh viện nên không dùng di động được.”

“Không sao. Xem ra sự hỗn loạn trong thành phố vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại, và em lo là nó có thể ảnh hưởng tới chị ở đó.”

“Ồ, có một vụ cháy ở khu nhà máy nhỉ, phải không? Ở đây thì bọn chị vẫn ổn, mặc dù có vẻ là khoa thần kinh vẫn phải đón nhận vô số ca bệnh được thân nhân của họ bảo rằng họ nhất quyết không chịu rời thành phố… Chị tự hỏi không biết là do đâu nữa…”

“Nhân tiện, Amelia, tình trạng của Kurouka Tsubaki hiện tại thế nào?”

“Ồ, bé Tsubaki ấy à? Nói không ngoa chứ mấy ngày gần đây em ấy tiến triển rất tốt. Tuyệt đến mức nếu em ấy có tỉnh dậy bất cứ lúc nào cũng không phải là điều bất ngờ ấy chứ. Điều bất thường duy nhất thì phải kể đến cái dấu ấn kỳ lạ trên tay em ấy.”

“Dấu… ấn?”

“Ban đầu chị tưởng là trò đùa của ai đó, nhưng không cách nào xóa được và nó cũng chẳng giống với hình xăm… Cứ như một vết bầm ấy. Nhưng kể từ lúc nó xuất hiện thì bệnh tình của em ấy càng ngày càng tiến triển tốt hơn. Ô, đừng hiểu lầm chị; chị không tin việc tốt như vậy xảy ra là bởi cái hình xăm đó đâu, hay bất cứ điều huyền bí gì khác.”

Sau một hồi nói chuyện vặt khác, vị bác sĩ — Amelia Levitt — gác máy điện thoại.

“Em gái của bác sĩ có phải là người thăng tiến lên chức vụ khá cao trong hàng ngũ cảnh sát, mặc dù cô ấy vẫn còn rất trẻ?” Nữ ý tá hỏi cô.

“Ừ. Em tôi thừa hưởng lối nói chuyện khắt khe từ mẹ, có lẽ là vì nó lớn lên cùng bà ấy. Nhưng chắc cũng nhờ thế mà nó hoàn toàn phù hợp với nghiệp cảnh sát.”

Sau đó, Amelia hướng thẳng trở lại phòng bệnh của Tsubaki, lẩm bẩm trong bụng với chính mình.

“Mà, việc nó thể hiện sự quan tâm tới Tsubaki như vậy, cũng đã rất lâu rồi mới lại được thấy.”

x                                            x

 

Đồn cảnh sát — Văn phòng cảnh sát trưởng.

Vera thật gác điện thoại và vô cảm quay về phía vị cảnh trưởng.

“Tôi đã xác nhận. Xem ra, như những gì cậu Escardos nói, Lệnh Chú đã xuất hiện trên người Kurouka Tsubaki.”

“…Cái người ban nãy đề cập tới dấu ấn đó là họ hàng với quý cô đây à?”

“Chị của tôi. Vì không sở hữu tư chất về mảng Ma Thuật, chị ấy đã được nuôi lớn mà hoàn toàn không được cho biết chút gì về thế giới của chúng ta.”

Vera bình thản đáp. Flat nở nụ cười với cô.

“Và rồi cả hai đều đi theo những nghề nghiệp để giúp đỡ người khác. Tuyệt thật đấy.”

“…Cảm ơn. Tôi không chắc về bản thân mình, nhưng chị tôi quả thật là một người chăm chỉ.”

Flat nói với giọng điệu không hề mỉa mai, mà ngược lại nó thể hiện một sự tôn trọng rõ ràng. Vera cảm ơn cậu, mặc dù có hơi cộc cằn. Dựa trên những gì cô nói, có lẽ cô ta cảm thấy vui vì chị mình được công nhận hơn là bản thân mình.

Tới đó, cảnh trưởng hắng giọng mình.

“Nói cách khác, con bé đã triệu hồi một Servant trong vô thức… Đúng vậy không?”

“Vâng, thưa ngài. Dựa trên tình hình, có khả năng rằng Anh Linh đó đang hành động hoàn toàn độc lập.”

“…Tại sao lại là con bé mà không phải ông bà Kurouka? Có bất cứ liên hệ nào tới việc họ vẫn ru rú trong nhà không?”

Càng sắp xếp kỹ thông tin của thì lại càng có nhiều câu hỏi phát sinh.

Họ có thể dùng đặc quyền của cảnh sát để can thiệp vào bệnh viện. Tuy nhiên, với việc vẫn chưa nắm rõ danh tính của Servant mà họ sắp sửa đối đầu thì làm vậy cũng chẳng khác gì tự lao đầu vào bẫy.

“Ưm… Chúng ta có thể sử dụng Ma Thuật diện rộng để thổi bay bệnh viện không?”

Cảnh trưởng nghe câu gợi ý của Flat và cau mày mình sâu hơn nữa.

“…Khi tình thế bắt buộc, chúng ta có lẽ sẽ không còn lựa chọn nào khác… nhưng ta đã lập một giao ước với Hội Calatin trên lời thề rằng chúng ta là đại diện của lẽ phải. Trách nhiệm của ta là phải đảm bảo điều đó. Trừ khi ít nhất là có thể tuyên bố rằng việc hy sinh con bé là vì lẽ phải — ngoài ra chẳng còn đường nào khác — thì ta muốn bỏ ý tưởng trên ra khỏi bàn sách lược.”

Cảnh trưởng nói từng chữ đầy chua chát. Nghe vậy, Flat thở phào nhẹ nhõm.

“Hiểu rồi. Thật là nhẹ nhõm khi nghe ngài nói vậy.”

“…?”

“Nếu ngài là loại người mà sẽ nghĩ đến cách thức đó trước cả, hẳn sẽ không có chuyện tôi có thể liên minh với ngài. …Rất nhiều ‘Pháp Sư đúng nghĩa Pháp Sư’ mà mọi người hay nói về chắc có lẽ sẽ đều đi thẳng tới ý định đó mà chẳng cần lấy một khắc đắn đo.”

“…Cậu đang thử ta à?”

Cảnh trưởng quan sát Flat với một cái thở dài.

-Thật vậy — chúng ta có lẽ không phải là những Pháp Sư đúng nghĩa. Chẳng phải cậu ta, cũng chẳng phải ta. Một Pháp Sư là loại theo lẽ thường sẽ đặt lý tính lên trước mà loại trừ con bé không còn nhận thức đó, không một chút thương cảm.

“…Nhưng lựa chọn sau cùng vẫn phải biểu quyết của số đông. Ta cảnh báo trước, nếu thiệt hại có dấu hiệu lan rộng hơn cả hiện tại, thì có khả năng khẩu súng này sẽ chĩa về phía con bé.”

“Vâng thưa ngài! Những miễn là ngài vẫn sẽ chịu trách nhiệm với lời nói của mình, tôi có thể giới thiệu cho ngài mà cần phải lo lắng nữa!”

“Giới thiệu cho ta…?”

Một Flat tươi cười lấy ra một thiết bị trong túi mình và đưa cho vị cảnh trưởng mang vẻ nghi ngờ trên mặt. Đó là một chiếc di động và đã kết nối sẵn với đâu đó.

“Hai mươi bảy tầng mã hóa ở đầu dây bên này, và đầu bên kia cũng có những biện pháp nhất định, vậy nên tôi không nghĩ ngài cần phải sợ việc bị nghe lén, dù là thông qua Thần Bí hay công nghệ. Cứ tự nhiên.”

“…”

Cảnh trưởng đặt chiếc điện thoại lên tai theo lời cậu. Người đàn ông ở đầu dây bên kia xem chừng cũng đã nhận ra và nói.

“…Phải Cảnh sát trưởng Orlando Reeve, người chịu trách nhiệm điều hành Sở Cảnh Sát Snowfied, đấy không?”

Một giọng trẻ trung nhưng vẫn mang tính thị oai theo cách của riêng nó.

“Ta nghe. Anh là ai?” Cảnh trưởng hỏi, đoán rằng đây là một trong những người hợp tác với Flat. Rồi, một ý nghĩ chợt hiện ra trong đầu và ông đống cứng lại.

-Không lẽ nào?

Người đàn ông ở bên kia đầu dây mở miệng để xác nhận, hoặc có lẽ là bác bỏ, mối nghi ngờ của ông. Anh đơn giản trả lời cho một trong những kẻ đầu sỏ ở tại Snowfield này rằng mình là ai, và là gì. Nói lên cái tên của người đàn ông đã thay đổi định mệnh của biết bao Pháp Sư — tính cả Flat và vị cảnh trưởng — và đi vào lịch sử của Cuộc Chiến Chén Thánh.

“Một giáo viên giảng dạy về Ma Thuật hiện đại ở Tháp Đồng Hồ. Tôi thường mượn cái tên Đệ Nhị… Lord El-Melloi II.”

“…!”

Người đàn ông vừa tự giới thiệu mình là một trong những người mang nhiều quyền lực nhất Tháp Đồng Hồ chêm thêm lời nữa cho vị cảnh trưởng, người giờ đây đang mở to mắt trong sự ngạc nhiên.

“Tuy nhiên, với ông, tôi sẽ dùng một cái tên khác:

Waver Velvet… một Pháp Sư hạng-ba tầm thường, kẻ từng một lần tham dự Cuộc Chiến Chén Thánh ở Fuyuki.”


(17) Le Chien là chó trong tiếng Pháp, Lobo là sói trong tiếng Tây Ban Nha, còn Beetho thì….chịu <(“)
(18) Cái này tui tính cờ biết, nó ám chỉ bộ phim The Fugitive năm 1993. Nội dung phim kể về việc nhân vật chính bị kết án tử hình do tình nghi là giết vợ nhưng thực chất kẻ sát nhân là 1 tên có cánh tay giả <(“)

(19) Hay còn biết là Asen ấy, một trong những nguyên tố hóa học độc nhất hành tinh

Ngoài ra thì chương này cũng nhắc tới rất nhiều danh nhân, nhiều quá nên tui thấy chắc khỏi chú thích luôn (mà toàn mấy ổng nổi không hà, google phát ra ngay <(“))


Xin chào! Đây là website chính thức của nhóm dịch truyện ValvrareTeam. Mấy đứa cùng sở thích cùng làm với nhau thôi. Light Novel trên đây được chúng tôi dịch hoàn toàn miễn phí ra phiên bản tiếng việt, tuy nhiên chúng tôi không khuyến khích các bạn sao chép lên website khác. Cảm ơn vì đã quan tâm."
© 2017 ValvrareTeam. Mã nguồn sử dụng Wordpress. Máy chủ sử dụng Vultr
Made with in Novel